|
CHUYỆN BA ĐÊM NGỒI MỘT MÌNH TRONG HANG ĐÁ
Nẻo
Xa
Mỗi khi bóng tối còn chưa tỉnh giấc ngủ say suốt một
đêm dài êm ả sâu lắng. Khi ánh bình minh còn chưa qua khỏi cành
cây táo ở phía trước sân nhà của tôi, thì mọi người cũng giống
như tôi ở trong cái làng nhỏ này đã vội vã cất bước ra đi sớm
hơn so với lúc mặt trời chưa nắng gắt. Từ nhà của tôi cứ đi
ngược chiều với dòng nước chảy ở các con suối nhỏ phía trước mặt.
Ban đầu tôi mới nhìn qua, tôi cứ tưởng rằng con nước chảy cũng
gần ở đâu đây vì dòng nước nhỏ và ít. Nhưng một suy nghĩ khác
lại hiện ra trong tâm trí của tôi, rằng đây là một lẽ tự nhiên
của sự vận hành vũ trụ chứ không chỉ đơn thuần là một dòng nước
chay thôi. Đó là từ trên đỉnh cao của ngọn núi chập chùng ven
theo sườn núi đi ngược lên nữa là một vùng cao nguyên xa tít với
chân trời. Dòng nước nhỏ kia phải vật lộn với những nẻo đường
đầy các tảng đá to nhiều rong rêu cũ kỹ làm cản trở nên khi dòng
nước chảy xuống tới đồng bằng bị yếu đi, chính vì vậy dòng nước
muốn xuống được nơi đồng bằng phẳng lặng có nhiều niềm vui đang
vẫy gọi như những cánh cò bay, bóng én lượn quanh và thật nhiều
hương thơm của mùi lúa non đang tỏa ngát nỗi lòng trước ánh bình
minh chưa nổi dậy.
Để có được niềm hạnh phúc vô biên đó, dòng nước kia
buộc mình phải lẻn lỏi ngược xuôi mới có thể cất tiếng cười vang
rộn rã cùng với rừng núi bao la và cũng như đất trời xanh biếc.
Nào ngờ đâu dòng nước này đã uốn lượn suốt cả ngày đêm như đang
hối hả cố tìm cho mình một con đường đi thong thả để dan cánh
tay rộng của mình ra ôm lấy một mảnh đất phì nhiêu mà trên mặt
của mảnh đất này đã hằng sâu những vết xẹo dọc ngang bỡi thời
gian chia cắt. Những giọt nước trắng lung linh từ phía đầu nguồn
đi xuống hòa chung với dòng chảy xiết của con sông Côn hiền hòa
với chiều sâu của mặt nước và sự rộng rãi giữa đôi bờ. Ví dụ như
ta có thể là một người đứng bờ bên này nhìn đăm chiêu cũng không
thể nào mà thấy được người đứng bên bờ kia.
Điều đó đã khiến dòng sông có một màu xanh nước biển
như cứ thoang thoảng gợn lên rồi lắng xuống vì những cơn gió mùa
luôn thổi mãi không ngừng ngớt, chúng ta trông xa xa thấy giớ và
nước như đang đùa giỡn với đôi bờ tre gầy guột thuở nào đã có
năm ba cành uốn cong ngọn chấm gần đụng tới mặt nước sông đang
chảy và cứ đứng nghiêng mình soi bóng cùng với dòng nước lớn
giữa buổi trưa hè không có gió.
Trở lại với cuộc hành trình của tôi lên đỉnh núi cao
kia, chúng tôi đi tiếp với con đường còn dài, qua khoảng chừng
hai ba cái dốc lắt la lắt lẻo theo con đường mòn mà bắt đầu là
một cái làng với tên gọi nghe sao mà rất quen thuộc với chúng
tôi, đó là Làng Sâu. Khác với những con đường nhựa thẳng băng
như đang sãi người ra bơi dài xa tít. Thay vào đó cũng không ít
những quãng đường ẩn khuất quanh co uốn lượn sát bờ với nhiều
thửa ruộng xanh mơn mởn khoảng chừng bốn năm cây số gì đó, theo
ước tính của tôi vậy.
Chính tôi đã trải qua biết bao nhiêu là mệt nhọc bỡi
vì con đường quá xa xôi, cuối cùng tôi và mọi người cũng đã đặt
được bước chân của mình đến với chân núi cao vút trời xanh này.
Tuy là đoạn đường còn lại rất xa lắm, nhưng trong tâm cảm của
tôi lúc này cảm thấy thâm thấm vị mệt mỏi bỡi những hạt mồ hôi
dần dần lan tỏa khắp trên người của tôi. Lúc đó chừng khoảng bảy
giờ sáng trong ngày, ở phía trên đầu tôi là một mặt trời có
nhiều tia nắng như muốn vui cười với tôi không ngoài ý nào khác
hơn đó là cổ vũ cho tôi vì đường đi còn dài quá. Đoạn đường kế
tiếp mà tôi phải đi qua đó là bắt đầu phải leo lên sườn núi, cái
vất vả cho một người chưa quen đi núi như tôi đây thật quá gần
gũi và hình như nó cũng đang ngự trị cùng với sự cố tình bám víu
ở trong tâm tôi lúc này. Tôi đi một đoạn hơi xa thì phải dừng
chân lại ở những tảng đá to để nghỉ hơi và uống chút nước mát.
Tôi chợt nhìn xa xa dưới những cánh đồng lúa xanh bạt ngàn,
trong phút chốc trong lòng tôi như được trải rộng thêm ra nữa.
Sau chỉ có vài phút nghỉ chân rất lãng mạn trôi qua tôi lại tiếp
tục cuộc hành trình đầy gian khó, ở hai bên con đường đi có rất
nhiều thứ để mắt tha hồ nhìn ngắm, nhưng cũng có không ít nỗi
khó khăn cứ luôn bám giữ chặt lấy thân tôi lại; nào là dây gai
cứ luôn móc lấy vạt áo tôi niếu lại, nào là trợt chân vì đá lởm
chởm đã nằm chờ sẵn trên đường mòn dốc đứng này vậy.
Ôi thôi! Sao mà nhiều thứ khó khắn đến với mình nhỉ?
Nghĩ đến đây, tôi lại sực nhớ tới những lời kể về chuyện hơi xa
xưa một chút, khi đất nước còn lâm vào chiến tranh hỗn loạn có
qua nhiều máy bay của kẻ địch đảo quanh trên không rồi đột nhiên
thả nhiều bom đạn lớn; khiến mọi người ở dưới đất phải chạy tán
loạn đế trốn đi sự nghi hiểm sắp tới gần với bản thân mình, có
khi chưa kịp xuống hầm thì các mảnh vỡ của quả bom đang nổ đã
đâm vào thân người khiến cho họ phải bị thương hoặc là chết ngay
tại chỗ mà chưa chạy được xa. Nhớ đến đây trong lòng tôi sợ tới
rợn tóc gáy, mặc dù thời chiến là vậy nhưng bây giờ đây mình chỉ
có gặp chút ít khó khăn chưa ảnh hưởng tới tính mạng hay chết
chóc cận kề mà mình đã thoái lui thì quả thật là lòng dạ yếu hèn
vô cùng. Có thể nói rằng: “không có gian nan nào mà con người
chúng ta không thể vượt qua hết được, chỉ có sự sợ hãi và mờ mịt
hoảng hốt chẳng biết bám víu vào một nơi nào khác một khi ở
trong tâm của mình chưa có sự tồn tại lâu dài một nội lực phi
thường nào đó mà thường nhật mình đã làm với tâm hồn chân thật
và tài nhìn thấy một cách chân thật của chính nhãn quan trong
sạch của chính mình, thì đó là một kẻ đang hấp hối với những hơi
thở cạn kiệt của đôi dòng nghịch lưu bỡi vì lòng suy nhược luôn
dâng cao khi đứng trước biển khổ sanh tử tuông trào và muốn nhận
chìm cả linh hồn cùng thể xác bé nhỏ đầy mỏng manh này”.
Chính do trong tôi cứ nhớ đi nhớ lại cái thành bại ở
trong tâm thức sâu xa của mình mà đoạn đường cũng sắp gần về tới
đích trên đỉnh núi cao kia rồi mà cái nắng của mùa hè cứ xối xả
chiếu soi mà không ngại ngùng gì đến gió mùa xuôi ngược thổi.
Thấm thoát tôi lại nhìn đồng hồ trên tay đã hơn mười gì rồi,
trong tay lúc này hai chai nước suối mà tôi đã đem theo khi sáng
giờ cũng đã sắp hết. Đường thật xa và trên người
toát ra nhiều mồ hôi xém chút nữa là ướt tới nửa chiếc áo trên
người tôi mặc. Nhắc tới đến đây làm cho tôi lại nhớ tới một
trong mười đoạn thơ nói về mười bức tranh chăn trâu mà Hòa
Thượng Quách Am đã dịch ra thơ Tứ Tuyệt như sau:
“Bôn chôn vạch
lá dõi tìm trâu
Nước rộng non xa
nẻo mịt mù
Dạ mỏi sức mòn
không thấy dấu
Rừng bàng ve réo
bóng chiều sâu”.
Cảnh vật ở đây cũng không khác gì so với cảnh trong
thơ của Hòa Thượng đã nói ở trên. Tôi đi thêm một đoạn đường dốc
nữa là tới đỉnh núi, nhưng ở trước cái cảnh chập chùng huyền bí
mà cũng hùng vĩ dường như trâm trạng của tôi lúc này đang bị đan
xen bỡi cảnh vật nơi đây cũng in đậm hồn thiêng liêng lắm. Thì
vô tình tôi quan sát theo sự quán tính của đôi mắt, vừa cũng là
lúc mà tôi đã nhìn thấy một khoảng trống nơi xung quanh tôi, nằm
ven nơi sườn núi có một cái hang nằm ẩn mình dưới tàng cây xanh
rũ lá um tùm. Lòng tôi lúc này vừa tò mò muốn tìm vào xem cho
thõa dạ thích thú của mình cũng vừa hơi lo sợ thú vật nơi đây
và chỉ sợ nhất là rắn độc ở núi rừng, lúc trước tôi có nghe
người ta nói rằng hễ rắn độc trên núi mà căn trúng phải ai là
hết thuốc chữa luôn đó. Nghĩ tới đây tim tôi cứ đập thình thịch
càng lúc nhanh dần, nhưng tôi cẩn thận hơn cho những cảnh tượng
xung quanh người mình hơn nữa. Tôi vô sâu hơn trong hang đa này,
giờ đây không có các tia nắng của mặt trời chiếu tới nữa nhưng
cũng nhờ ánh sáng nhè nhẹ ở trước cửa hang còn sáng vào tiếp.
Tiếp theo đó là tôi không thấy bất cứ một vật gì trong hang cả,
mà cũng chẳng thấy con vật nào sống nơi đây nữa. Có lẽ là do
sườn núi hiểm trở quá nên không con thú nào chịu ở là phải, với
lại cheo leo thế này thì mồi đâu mà ăn để sống chứ? Tất cả những
ý trên của tôi cũng chỉ là lối suy luận độc thoại trong tâm mình
mà thôi chứ đâu có người thứ hai ở đây đâu đề nói.
Tôi lẩn quẩn tìm cho mình một chỗ sạch sẽ đề ngồi
xuống hít thở vài hơi cho thoãi mái một chút, tuy rằng trong
hang lúc này không có đủ ánh sáng mặt trời chiếu vô nhưng cũng
thoáng mát lắm vì có bức tường bằng đá xám khá là dày này để làm
cách nhiệt rồi. Hèn chi ngày xa xưa kia các vị Tổ Sư đã luôn
chọn cảnh núi non thâm sâu cùng cốc và ẩn trú nắng mưa, bão tố
của thiên nhiên; mặt khác lánh đi sự ồn ào bên ngoài nên các vị
tự tìm cho mình những hang đá như thế này là ý thay ngôi nhà
vậy. Điều thâm thúy hơn đó là đối mặt với chính những phiền não
tham-sân-si đã không biết bao nhiêu đời nhiêu kiếp cứ ở mãi
trong tâm của ta mà ta vô tình nuôi dưỡng nó một cách cẩn thận
vô công uổng phí thời gian nhọc sức để rồi chính ba thức độc hại
này phá hủy tâm bản nguyên của mình mà không một chút hối tiếc.
Tôi ngồi với tư thế kiết già ở trong hang đá và giữ
cho suy nghĩ của mình trong tâm không để nó khởi lên vọng niệm
điên đảo nào nữa, cứ như vậy tôi lần lượt vấn đáp từng giai
thoại một.
Tôi nói thầm trong tâm thế này:
- Hỏi: Liệu ta ngồi đây đã hẳn làm chủ tâm ta chưa nhỉ?
- Đáp: Chắc là chưa làm chủ được rồi, nếu mình làm chủ được tâm
mình thì thì còn sợ tâm khởi lên vọng niệm nữa sao? Giả lại nếu
đã nắm được tâm ta, sẽ không có hiện tượng ta chất vấn chi việc
ta có làm chủ hay không làm chủ tâm rồi?
Tôi tự hỏi tiếp vấn đề.
-
Hỏi: Tâm ta không có hình tướng thì làm gì để biết được là đã
làm chủ nó chưa? Mặc khác tâm nó vốn không hẳn là ở ngoài hay ở
chặn giữa và cũng không ở bên trong, vậy quá khứ tâm ở đâu?
Những câu hỏi này mới nghe qua thật là điêu rồ đúng không các
bạn? Nhưng đó là vài ý kiến thắc mắc về tâm của mình thế thôi.
Đó không phải là chuyện gì to tác cho mấy.
Tôi lại hỏi tiếp nữa.
- Hỏi: Hiện tại tâm ở đâu và vị lai tâm ở đâu ta có nắm bắt được
hành tung của nó một cách rõ ràng chưa?
- Đáp: Có đôi khi thân ta tuy ngồi ở đây nhưng trong tâm lại
không phải ở đây.
-
Lắm lúc thân và tâm ta tuy có mặt tại đây nhưng ta tưởng nó còn
lưu lỏng rong chơi ở một nơi xa xôi nào khác, điều đó ta cũng
chưa rõ cho lắm phải không?
Tôi mỉm cười và tự trả lời rằng:
Trả lời: Chuyện tâm như thế này không riêng gì tôi mà hầu như
tất cả mọi người đều bị như vậy thì phải. Nên chư vị Tổ Sư có
nói rằng: “Tâm viên ý mã” đó còn gì?
Hỏi qua hỏi lại rồi tự mình đáp với những vấn đề bối rối trong
tâm đang diễn ra thế nào xong rồi. Lúc đó ở bên ngoài vách đá
kia thời gian lặng lẽ cứ trôi qua khỏi giấc trưa lúc nào mà tôi
cũng không hay không biết được nữa. Tôi chỉ thấy trong bụng bắt
đầu cồn cào vì cơn đói nổi lên, lúc sáng trước khi tôi đi đã tự
chuẩn bị lương khô đủ cho chuyến đi tới ba ngày đêm. Nên lúc đói
bụng tôi lại đem lương khô ra ngồi ăn, thật quá là may mắn cho
tôi là ở bên cạnh hang đá này có một con suối nhỏ luôn ngày lẫn
đêm róc rách chảy mãi mà nó không biết mệt mỏi là gì? Nơi đây
thật là một chỗ cảnh vật thiên nhiên quá hữu tình, khi tôi ăn
xong bữa ăn chính của mình rồi tôi bèn cầm mấy chai không đi lủi
thủi ra bờ suốt để hứng nước vào uống.
Suốt một buổi chiều dài đăng đẳng tôi lại ngồi xếp bằng hai chân
trên một mặt đá rất bằng phẳng ở trong hang này để suy tư tiếp
tục những vấn đề mà tôi còn ưu tư từ nhiều năm tháng trước.
Lần này tôi không suy nghĩ tâm của mình nó ở trong hay ở ngoài
và có ở chặn giữa hay không? Mà tôi chỉ cố tìm thử xem bản thân
mình trước lúc sinh ra, mình là cái gì hay người gì và làm gì ở
nơi đâu? Cho tới bây giờ mình đã là ba mươi tuổi đời rồi mà còn
không nhớ hết những chuyện xảy ra lúc còn nằm trong nôi thì
trước lúc sinh ra làm sao mà nhớ cho nổi, điều này chỉ có Đức
Phật mới có đủ Túc mạng thông để chứng biết tất cả các kiếp sống
mà ngài đã trải qua và làm gì ở nơi đâu. Còn ta bây giờ chưa
phải là Phật đã thành nên những việc trước lúc ta có mặt trên
cõi đời này ta là ai và làm gì ở đâu? Nghe thật xa xăm quá. Nói
tới đây tôi lại nhớ những lời dạy của Đức Phật trong Kinh Trung
A Hàn số 98 Tứ Niệm Xứ do Thầy Thích Tuệ Sỹ việt dịch như sau:
Một thời Đức Phật du hóa tại Câu-lâu-sấu, ở
Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu lâu.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- “Có một con đường tịnh hóa chúng sanh, vượt qua lo
sợ, diệt trừ khổ não, chấm dứt kêu khóc, chứng đắc Chánh pháp.
Đó là Bốn niệm xứ.
- “Các Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ở quá
khứ đều đoạn trừ năm triền cái, tâm ô uế, tuệ yếu kém, lập tâm
chánh trụ nơi Bốn niệm xứ, tu Bảy giác chi mà chứng quả giác ngộ
Vô thượng chánh tận.
- “Các Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ở vị
lai cũng đều đoạn trừ năm triền cái là thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu
kém, lập tâm chánh trụ nơi Bốn niệm xứ, tu Bảy giác chi mà chứng
quả giác ngộ.
- “Ta nay trong hiện tại, là Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, Ta cũng đều đoạn trừ năm triền cái làm tâm ô
uế, tuệ yếu kém. Ta cũng lập tâm chánh trụ nơi Bốn niệm xứ, tu
Bảy giác chi mà chứng quả giác ngộ Vô thượng chánh tận.
- “Bốn niệm xứ là những gì? Đó là, quán thân như
thân, quán thọ như thọ, quán tâm như tâm và quán pháp như pháp.
- “Thế nào gọi là niệm xứ quán thân như thân?
- “Tỳ-kheo khi đi thì biết mình đi, đứng thì biết
mình đứng, ngồi thì biết mình ngồi, nằm thì biết mình nằm, ngủ
thì biết mình ngủ, thức thì biết mình thức, ngủ say thì biết
mình ngủ say. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân như thân; quán
ngoại thân như thân; lập niệm tại thân, có tri, có kiến, có
minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo biết
rõ chính xác khi vào lúc ra, khi co lúc duỗi, khi cúi lúc ngẩng,
nghi dung chững chạc, khéo khoác tăng-già-lê và cầm bát; đi,
đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói năng, im lặng đều biết rõ chính
xác. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân như thân; quán ngoại thân
như thân; lập niệm tại thân, có tri, có kiến, có minh, có đạt.
Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo khi
sanh niệm ác bất thiện, liền niệm điều thiện để đối trị, đoạn
trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ. Như người thợ mộc hoặc học trò thợ
mộc, kéo thẳng dây mực, búng lên thân cây rồi dùng búa bén mà
đẽo cho thẳng. Cũng vậy, Tỳ-kheo khi sanh niệm ác bất thiện liền
niệm điều thiện để đối trị, đoạn trừ. Tỳ-kheo như vậy, quán nội
thân như thân; quán ngoại thân như thân; lập niệm tại thân, có
tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân
như thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo răng
ngậm khít lại, lưỡi ấn lên khẩu cái, dùng tâm trị tâm, đối trị,
đoạn trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ. Như hai lực sĩ bắt một người yếu
mang đi khắp nơi, tự do đánh đập. Cũng vậy, Tỳ-kheo răng ngậm
khít lại, lưỡi ấn lên khẩu cái, dùng tâm trị tâm, đối trị, đoạn
trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo-niệm
hơi thở vào thì biết niệm hơi thở vào, niệm hơi thở ra thì biết
niệm hơi thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra dài
thì biết thở ra dài. Thở vào ngắn thì biết thở vào ngắn, thở ra
ngắn thì biết thở ra ngắn. Học toàn thân thở vào, học toàn thân
thở ra. Học thân hành tĩnh chỉ thở vào, học khẩu hành tĩnh chỉ
thở ra. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân như thân; quán ngoại thân
như thân; lập niệm tại thân, có tri, có kiến, có minh, có đạt.
Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo có
hỷ lạc do ly dục, nhuần thấm thân, phổ biến sung mãn; khắp trong
thân thể hỷ lạc sanh do ly dục, không đâu không có. Như người
hầu tắm, bỏ bột tắm đầy chậu, nước hòa thành bọt, nước thấm vào
thân, phổ biến sung mãn, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo
có hỷ lạc do ly dục nhuần thấm thân, phổ biến sung mãn; khắp
trong thân thể, hỷ lạc sanh do ly dục không đâu không có.
Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân như thân; quán ngoại thân như
thân; lập niệm tại thân, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như
vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo có
hỷ lạc do định sanh, nhuần thấm thân, phổ biến sung mãn; khắp
trong thân thể, hỷ lạc do định sanh không đâu không có. Cũng như
suối trên núi, trong sạch không dơ, nước từ bốn phương chảy đến
đổ vào một cách tự nhiên, tức thì từ đáy suối, nước tự vọt lên,
chảy tràn ra ngoài, thấm ướt cả núi, phổ biến sung mãn, không
đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có hỷ lạc do định sanh thấm
nhuần thân, phổ biến sung mãn; khắp trong thân thể, hỷ lạc do
định không đâu không có. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân như
thân; quán ngoại thân như thân; lập niệm tại thân, có tri, có
kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như
thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo có
lạc do ly hỷ nhuần thấm vào thân, phổ biến sung mãn; khắp trong
thân thể, lạc sanh do ly hỷ không đâu không có. Như các thứ sen
xanh, hồng, đỏ, trắng sanh ra từ nước, lớn lên trong nước, ở
dưới đáy nước, rễ, hoa, lá, cọng thảy đều thấm nhuần, phổ biến
sung mãn, không đâu không có; cũng vậy, Tỳ-kheo có lạc do ly hỷ
nhuần thấm vào thân, phổ biến sung mãn, khắp trong thân thể lạc
do ly hỷ không đâu không có. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân như
thân; quán ngoại thân như thân; lập niệm tại thân, có tri, có
kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như
thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo nào quán thân như thân; Tỳ-kheo
ở trong thân này được biến mãn với tâm thanh tịnh, ý giải, thành
tựu an trụ; ở trong thân này tâm thanh tịnh không đâu không biến
mãn. Như có một người trùm một cái áo rộng bảy hoặc tám khuỷu
tay, từ đầu đến chân, thì khắp cả thân đều được phủ kín. Cũng
vậy, Tỳ-kheo ở trong thân này với tâm thanh tịnh, không đâu biến
mãn. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân như thân; quán ngoại thân
như thân; lập niệm tại thân, có tri, có kiến, có minh, có đạt.
Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; là Tỳ-kheo
niệm quang minh tưởng, khéo thọ khéo trì, nhớ rõ điều niệm; như
phía trước, phía sau cũng vậy; ngày cũng như đêm, đêm cũng như
ngày; dưới cũng như trên, trên cũng như dưới. Như vậy tâm không
điên đảo, tâm không bị ràng buộc, tâm tự quang minh, không khi
nào còn bị bóng đen che lấp. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân như
thân; quán ngoại thân như thân; lập niệm tại thân, có tri, có
kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như
thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo khéo
giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, như người ngồi quán
sát kẻ nằm, rồi nằm quán sát kẻ ngồi. Tỳ-kheo khéo giữ tướng
trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy. Tỳ-kheo
như vậy, quán nội thân như thân; quán ngoại thân như thân; lập
niệm tại thân, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là
Tỳ-kheo quán thân như thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo tùy
theo những chỗ trong thân, tùy theo tính chất tốt xấu từ đầu đến
chân quán thấy thảy đều đầy dẫy bất tịnh, ‘trong thân này của ta
có tóc, lông, móng, răng, da dày, da non, thịt, gân, xương, tim,
thận, gan, phổi, ruột già, ruột non, lá lách, dạ dày, phân, não
và não căn, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ,
tủy, đờm dãi, nước tiểu’. Như một cái bồn chứa đủ hạt giống, ai
có mắt sáng thì thấy rõ ràng, ‘đây là hạt lúa, hạt gạo, kia là
hạt cải, cỏ, rau’; cũng vậy, Tỳ-kheo tùy theo những chỗ trong
thân, tùy theo tính chất tốt xấu, từ đầu đến chân, quán thấy
thảy đều đầy dẫy bất tịnh: ‘Trong thân này của ta có tóc, lông,
móng, răng, da dày, da non, thịt, gân, xương, tim, thận, gan,
phổi, ruột già ruột non, lá lách, dạ dày, phân, não và não căn,
nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờm
dãi, nước tiểu’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ
điều niệm, cũng giống như vậy. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân
như thân; quán ngoại thân như thân; lập niệm tại thân, có tri,
có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như
thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo quán
sát giới trong thân rằng: ‘Trong thân này của ta có địa giới,
thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới’. Như gã
đồ tể mổ bò, lột hết bộ da, trải lên mặt đất, phân thành sáu
đoạn; cũng vậy, Tỳ-kheo quán các giới trong thân rằng ‘Trong
thân này của ta có địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới,
không giới, thức giới’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán,
khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy. Tỳ-kheo như vậy, quán
nội thân như thân; quán ngoại thân như thân; lập niệm tại thân,
có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán
thân như thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo quán
xác chết, mới chết từ một hai ngày đến sáu bảy ngày, đang bị quạ
diều bươi mổ, sài lang cấu xé, hoặc đã được hỏa thiêu, hay đã
được chôn lấp, đang bị rửa nát hư hoại. Quán rồi tự so sánh:
‘Thân ta cũng thế, đều có những trường hợp này, không sao tránh
khỏi. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm,
cũng giống như vậy. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân như thân;
quán ngoại thân như thân; lập niệm tại thân, có tri, có kiến, có
minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo như
từng thấy trong nghĩa địa, hài cốt xám xanh, rữa nát gần hết,
xương vải khắp đất. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đều
có những trường hợp này, không sao tránh khỏi, Tỳ-kheo khéo giữ
tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy.
Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân như thân; quán ngoại thân như
thân; lập niệm tại thân, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như
vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo như
từng thấy trong nghĩa địa, da, thịt, máu, huyết tiêu cả, chỉ còn
xương dính gân. Quán rồi tự so sánh: Thân ta cũng thế, đều có
trường hợp này, không sao tránh khỏi. Tỳ-kheo khéo giữ tướng
trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy. Tỳ-kheo
như vậy, quán nội thân như thân; quán ngoại thân như thân; lập
niệm tại thân, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là
Tỳ-kheo quán thân như thân.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo như
từng trong nghĩa địa thấy xương rời từng đốt, tản mác khắp nơi,
xương chân, xương đùi, xương đầu gối, xương bắp vế, xương sống,
xương vai, xương cổ, xương sọ, mỗi thứ một nơi. Quán rồi tự so
sánh: ‘Thân ta cũng thế, đều có những trường hợp này, không sao
tránh khỏi’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều
niệm, cũng giống như vậy. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân như
thân; quán ngoại thân như thân; lập niệm tại thân, có tri, có
kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như
thân.
-“Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo như
từng thấy trong nghĩa địa, xương trắng như vỏ ốc, xanh như lông
chim bồ câu, đỏ như màu máu, mục nát bể vụn. Quán rồi tự so
sánh: ‘Thân ta rồi cũng thế, đều có những trường hợp này, không
sao tránh khỏi’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ
điều niệm, cũng giống như vậy. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân
như thân; quán ngoại thân như thân; lập niệm tại thân, có tri,
có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như
thân.
- “Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni từng chi tiết quán thân
như thân như vậy, đó gọi là niệm xứ quán thân như thân.
- “Thế nào gọi là niệm xứ quán thọ như thọ? Tỳ-kheo
khi thọ nhận cảm giác lạc liền biết đang thọ nhận cảm giác lạc,
khi thọ nhận cảm giác khổ liền biết đang thọ nhận cảm giác khổ,
khi thọ nhận cảm giác không lạc không khổ liền biết đang thọ
nhận cảm giác không lạc không khổ. Khi thân thọ nhận cảm giác
lạc, thân thọ nhận cảm giác khổ, thân thọ nhận cảm giác không
lạc không khổ; khi tâm thọ nhận cảm giác lạc, tâm thọ nhận cảm
giác khổ, tâm thọ nhận cảm giác không lạc không khổ; cảm giác
lạc khi ăn, cảm giác khổ khi ăn, cảm giác không lạc không khổ
khi ăn; cảm giác lạc khi không ăn, cảm giác khổ khi không ăn,
cảm giác không lạc không khổ khi không ăn; cảm giác lạc khi có
dục, cảm giác khổ khi có dục, cảm giác không khổ không lạc khi
có dục; cảm giác lạc khi không có dục, cảm giác khổ khi không có
dục, cảm giác không lạc không khổ khi không có dục. Tỳ-kheo như
vậy, quán nội thọ như thọ, quán ngoại thọ như thọ, lập niệm tại
thọ, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo
quán thân như thân.
- “Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni từng chi tiết quán thọ
như thọ như vậy, gọi là niệm xứ quán thọ như thọ.
- “Thế nào gọi là niệm xứ quán tâm như tâm? Tỳ-kheo
có tâm tham dục thì biết đúng như thật có tâm tham dục, có tâm
vô dục thì biết đúng như thật là có tâm vô dục. Khi có sân hay
không sân, có si hay không si, có ô uế hay không ô uế, có hợp
hay có tan, có thấp hay có cao, có nhỏ hay có lớn; tụ hay không
tụ, định hay không định, giải thoát hay không giải thoát. Cũng
như vậy, có tâm giải thoát thì biết đúng như thật có tâm giải
thoát; có tâm không giải thoát thì biết đúng như thật là có tâm
không giải thoát. Tỳ-kheo như vậy, quán nội tâm như tâm, lập
niệm tại tâm, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy là
Tỳ-kheo quán tâm như tâm.
- “Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni từng chi tiết quán tâm
như tâm như vậy, đó gọi là niệm xứ quán tâm như tâm.
- “Thế nào gọi là niệm xứ quán pháp như pháp? Khi
con mắt duyên sắc, sanh nội kết, nếu Tỳ-kheo bên trong thật có
kết thì biết đúng như thật là bên trong có kết; bên trong thật
không có kết thì biết đúng như thật là bên trong không có kết.
Nội kết chưa sanh, bây giờ sanh, biết đúng như thật. Nội kết đã
sanh và được đoạn trừ, không sanh lại nữa, biết đúng như thật.
Với tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng giống như vậy. Khi ý duyên
pháp, sanh nội kết, nếu Tỳ-kheo bên trong thật có kết thì biết
đúng như thật là bên trong có kết, bên trong không có kết thì
biết đúng như thật là bên trong không có kết, nội kết chưa sanh
bây giờ sanh; biết đúng như thật nội kết đã sanh và đã được đoạn
trừ, không sanh lại nữa, biết đúng như thật. Tỳ-kheo như vậy
quán nội pháp đúng như pháp, quán ngoại pháp đúng như pháp, lập
niệm tại pháp, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là
Tỳ-kheo quán pháp như pháp, nghĩa là quán sáu xứ bên trong.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán pháp như pháp; Tỳ-kheo bên
trong thật có ái dục thì biết đúng như thật là đang có ái dục,
bên trong thật không có ái dục thì biết đúng như thật là không
có ái dục. Ái dục chưa sanh nay sanh, biết đúng như thật. Ái dục
đã sanh và đã được đoạn trừ, không sanh lại nữa, biết đúng như
thật. Với sân nhuế, thùy miên, điệu hối và nghi cũng giống như
vậy. Bên trong thật có nghi, biết đúng như thật là đang có nghi;
bên trong thật không có nghi, biết đúng như thật là không có
nghi. Nghi chưa sanh, nay đã sanh, biết đúng như thật. Nghi đã
sanh và đã được đoạn trừ, không sanh lại nữa, biết đúng như
thật. Tỳ-kheo như vậy quán nội pháp đúng như pháp, quán ngoại
pháp đúng như pháp, lập niệm tại pháp, có tri, có kiến, có minh,
có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán pháp như pháp, nghĩa là quán
năm triền cái.
- “Lại nữa, Tỳ-kheo quán pháp như pháp; Tỳ-kheo bên
trong thật có niệm giác chi thì biết đúng như thật là có niệm
giác chi; bên trong thật không có niệm giác chi thì biết đúng
như thật là không có niệm giác chi. Niệm giác chi chưa sanh nay
sanh, biết đúng như thật. Niệm giác chi đã sanh thì ghi nhớ
không quên, không suy thoái, tu tập càng lúc càng tăng trưởng,
biết đúng như thật. Với trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định
và xả cũng giống như vậy. Bên trong thật có xả giác chi thì biết
đúng như thật là đang có xả giác chi, bên trong thật không có xả
giác chi thì biết đúng như thật là không có xả giác chi. Xả giác
chi chưa sanh nay sanh, biết đúng như thật, xả giác chi đã sanh
thì ghi nhớ không quên, không suy thoái, tu tập càng lúc càng
tăng trưởng, biết đúng như thật. Tỳ-kheo như vậy quán nội pháp
đúng như pháp, quán ngoại pháp đúng như pháp, lập niệm tại pháp,
có tri, có kiến, có minh, có đạt như vậy gọi là Tỳ-kheo quán
pháp như pháp, nghĩa là quán Bảy giác chi.
- “Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni từng chi tiết quán pháp
như pháp như vậy, đó gọi là niệm xứ quán pháp như pháp.
- “Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào trụ Bốn niệm xứ thì
trong vòng bảy năm, nhất định sẽ chứng được một trong hai quả:
hoặc chứng Cứu cánh trí ngay trong hiện tại, hoặc chứng A-na-hàm
nếu còn hữu dư.
-“Không cần phải đến bảy, sáu, năm, bốn, ba, hai hay
một năm, nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào lập tâm chánh trú nơi Bốn
niệm xứ thì trong vòng bảy tháng cũng sẽ nhất định chứng được
một trong hai quả: hoặc chứng Cứu cánh trí ngay trong hiện tại,
hoặc chứng A-na-hàm nếu còn hữu dư.
- “Không cần phải đến bảy, sáu, năm, bốn, ba, hai
hay một tháng, nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào lập tâm chánh trú nơi
Bốn niệm xứ thì trong vòng bảy ngày bảy đêm cũng sẽ nhất định
chứng được một trong hai quả: hoặc chứng Cứu cánh trí ngay trong
hiện tại, hoặc chứng A-na-hàm nếu còn hữu dư.
- “Không cần phải đến bảy ngày đêm, sáu, năm, bốn,
ba, hay hai ngày hai đêm, mà chỉ cần trong một ngày một đêm, nếu
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào luôn luôn trong từng khoảnh khắc lập tâm
chánh trú nơi Bốn niệm xứ thì nếu buổi sáng thực hành như vậy,
nhất định buổi tối liền được thăng tấn. Nếu buổi tối thực hành
như vậy, nhất định sáng hôm sau sẽ được thăng tấn”.
Phật thuyết giảng như thế, các Tỳ-kheo ấy sau khi
nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Khi tôi nhớ nghĩ hết bài Kinh Niệm Xứ do Đức Thế Tôn
đã dạy và được Ôn Thích Tuệ Sỹ dịch ra lời Việt này, trong tâm
hồn tôi lúc này thấy khác hơn hồi buổi sáng rất nhiều, vì không
tập trung tâm mình vào trong thân, trong cảm nghĩ, trong tâm và
trong các Pháp nên các suy nghĩ của tôi khi sáng còn lung tung
lắm, giờ suy nghĩ qua những lời chứng đắc của Phật tôi lại thấy
mình hạnh phúc tràng ngập vô cùng ở trong tâm.
Thật không có bất cứ một vật gì có thể níu kéo được
thời gian ngừng trôi cả, mới ngồi đây suy nghĩ vừa hết bài Kinh
Tứ Niệm Xứ nói về Thân, Thọ, Tâm và Pháp do Phật dạy mà hoàng
hôn ập đến lúc nào mình cũng không hay biết được nữa. Nghe qua
sao cứ giống như trong một giấc mộng vậy chứ? Đúng là giữa cái
mộng và thực chúng ta khó mà phân biệt một cách tường tận như
những bậc Thánh hết được, hèn chi Phật nói rằng cuộc đời là một
biển khổ mà tất cả chúng sanh đang say mê lặn hụp vào trong đó
rồi vốn không thể tự biết rằng mình đang bị chìm đắm trong bể
khổ luân hồi..
Giờ đây ta mới nhìn nhâm nhẩm nhận ra được cái gọi
là đầu mối của sự việc, nhưng ta chưa có đủ khả năng để nắm bắt
được nó một cách hoàn toàn theo chủ động của ý muốn mình. Đến
đây mình cũng không thấy tự đắc bỡi niềm vui mình đang có, vì
đường lên núi tuy xa nhưng có lúc mình leo lên tới đỉnh được,
còn đường sinh tử nó sờ sờ ở trước mắt nhưng không có hình tướng
nhất định nên không thể dùng tay nắm lấy một cách chắc chắn như
ta muốn vậy. Thế mới biết rằng đi tìm đầu mối của sinh tử đã khó
rồi mà khi thấy được sinh tử lại khó hơn rất nhiều lần, một khi
thấy sinh tử rồi ta nắm bắt nó một cách vững vàng lại là chuyện
khố vô cùng.
Sau khi ăn tối xong tôi chuẩn bị một ít củi khô đề
lúc màn đêm buông xuống, mình lại đốt lửa sửa ấm cho tâm hồn khi
lần đầu tiên phải trú tại một nơi xa xôi không có một bóng người
qua lại. Cảnh hoàng hôn vừa núp bóng thì ánh trăng rằm cũng bắt
đầu nhô lên phía trước mặt hang đá, khiến cho các tia sáng yếu
ớt cứ chậm chờn vui đùa cùng ánh lửa hồng ở trong hang mà tôi đã
nhúm lúc nãy. Tôi chợt nghĩ thế này, nếu như không có sức nóng
của ngọn lửa vùa nhúm kia chắc là khí lạnh của khối đá đã ôm
trọn thân hình nhỏ bé của tôi mất rồi. Vì trong tâm khi lên hang
núi này, cốt là ở lại suốt ba ngày đêm không ngủ chỉ với mục
đích thiền tập và chim nghiệm lại những giáo lý mà Đức Phật đã
dạy với cuộc đời mình thôi chứ không có ý định lên để mà ngủ cho
yên giấc sướng lòng; vì vậy tôi lại cố tình không đem chiếu mền
theo bên thân. Suốt đêm thâu tôi cứ ngồi và ngồi chứ không muốn
ngủ, vì là lần đầu tiên ở trên rừng nên con buồn ngủ cũng chẳng
dám lại gần người tôi, vả lại vì giữa rừng hoang vu vắng vẻ nên
nửa đêm chim kêu vượn hú thật rùng rợn quá đi mất; cộng vào đó
là nếu như mình ngủ lỡ có con rắn rít gì đó nó bò vào cắn mình
thì sao đây? Bao nhiêu là suy nghĩ tứ tung nên việc ngủ cũng
không thành.
Người ta thường nói rằng: “Thức đêm mới biết đêm
dài, nhớ ai mới biết nhớ dài hơn đêm”, quả thật không sai chút
nào cả. Giờ đây ở trong tâm của tôi mọi chuyện buồn vui đã xảy
ra trong quá khứ xa xưa rồi mà chỉ phút chốc nó lần lượt kéo về
với tôi, khiến cho sự nắm giữ tâm mình lúc này khó lắm. Trong
lúc khốn đốn ấy, tôi chỉ biết về với một danh hiệu của Đức Bồ
Tát Quán Thế Âm mà thôi; tiếng niệm thầm trong miệng của tôi bắt
đầu và kết thúc khoảng chừng mười tiếng trở lại thôi. Tôi đã cảm
thấy sự mầu nhiệm linh thiêng của Ngài đã bao quanh hết nỗi sợ
hãi của tôi, khiến cho lòng tôi như lắng dịu xuống tất cả. Sau
đó tôi lại tiếp tục sự hít thở và suy nghĩ về nội tâm của mình.
Màn đêm như câu nói ở trên thật quá dài so với những gì mà tôi
đã tưởng tượng lúc trước, nhưng rồi chuyện gì cũng sẽ qua đi khi
mình không cần để ý tới nó nữa.
Điều này nghe sao giống ở trong Kinh Pháp Hoa ở đoạn
của Phẩm mở đầu mà Ngài Di Lặc đại sĩ lắng nghe Phật nói do Hòa
Thượng Thích Trí Quang dịch như sau:
“đại sĩ nên biết, trong đại hội lúc ấy có hai mươi
ức bồ tát ưa thích nghe pháp. Các vị bồ tát này thấy ánh sáng
của Phật chiếu khắp các cõi Phật như vậy thì cũng được sự chưa
từng có, và cũng muốn biết mục đích của ánh sáng ấy. Bấy giờ có
một vị bồ tát tên Diệu Quang, có tám trăm đệ tử. Đức Phật Nhật
Nguyệt Đăng Minh xuất định, nhân bồ tát Diệu Quang mà nói bản
kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa, bản kinh dạy cho bồ tát và
được Phật giữ gìn. Ngài nói đến sáu mươi thời kỳ bậc nhỏ, không
đứng dậy khỏi pháp tòa. Đại hội thính giả lúc ấy cũng ngồi một
chỗ, trải qua sáu mươi thời kỳ bậc nhỏ mà thân thể và tâm trí
đều bất động, nghe đức Phật nói thì cho rằng chỉ bằng thì gian
một bữa ăn. Cả đại hội không một ai mà thân thể hay tâm trí sinh
nhác sinh mệt. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh Pháp Hoa
trong sáu mươi thời kỳ bậc nhỏ rồi, liền ở giữa đại hội các
chúng phạm vương, ma vương, sa môn, bà la môn, và chư thiên,
nhân loại, tu la, tuyên ngôn rằng giữa đêm hôm nay Như Lai sẽ
nhập Niết Bàn hoàn toàn”.
Qua đoạn Kinh Pháp Hoa trên mình mới thấy được rằng,
nếu như tâm mình luôn nghĩ tới đêm dài hay ngắn? Sao đêm nay lại
dài ra hơn những đêm khác nhỉ? Điều đó không phải đêm nay dài
hơn đêm qua, mà do tâm mình dài hơn lúc mình chưa đi ngủ nên
thấy có vẻ dài hơn là vậy; chứ thật sự không có đêm nào dài hơn
đêm nào đâu. Nếu là mùa đông thì đêm có dài hơn chút, tại sao mà
mình biết đêm dài hơn được? Vì mình ngủ một đêm tới sáng nhìn
đồng hồ sáu giờ rồi mà trời vẫn chưa sáng hẳn và một điều nữa là
vào buồn chiều khi mười tám giờ rồi mà vẫn còn mặt trời nên thấy
đêm và ngày ở mùa đông có vẻ là dài hơn ngày đêm của các mùa
khác.
Thế rồi một đêm dài nhiều nỗi sợ hãi đến với tôi
cũng âm thầm lặng lẽ qua đi và nhường chỗ cho một ánh bình minh
xuất hiện. Suốt một đêm dài do mình thức không ngủ nên đã chứng
kiến hết những tiếng kêu gào của thú rừng hoang dã, đặc biệt hơn
đó là tiếng gà rừng gáy thật rõ vào giữa canh ba của đêm nghe
thật ấm lòng vì giống như ở quê mình vậy. Giờ là bắt đầu ngày
thứ hai của tôi, tôi lang thang ra bờ suốt rửa mặt tẩy rửa người
cho thật sạch vì suốt đêm bị những hơi khói của đống lửa cuống
quận bay tấp vào người nên giờ phải rửa, Sau khi rửa ráy xong
tôi lại đem lương khô của mình ra ăn bữa sáng.
Theo tôi tính thì có lẽ trong ngày hôm nay mình phải
tiếp tục cuộc hành trình lên đỉnh núi rồi, vì nơi đây chỉ mới ở
giữa sườn núi mà thôi, nếu kịp sau khi lên tới đỉnh núi rồi mình
sẽ qua lại hang đá này nữa. Đường lên tới đỉnh ở phía trước nhìn
thì tưởng chừng như gần trong chốc lát nhưng đi mới thấy nó xa
đến cỡ nào. Tôi đi gần tới đích rồi nhưng vì mệt quá nên tôi lại
dừng chân nơi một gốc cây to đùng để nghỉ hơi tí xíu, tại nơi
đây tôi đã bắt gặp rất nhiều hoa dại nở thật là đẹp. Hình như
những loài hoa như thế này chỉ có ở trên núi cao mà thôi chứ nơi
đồng bằng không bao giờ có cả, vì phần nhiều họ luôn chặt phá
đốt lửa làm rẫy nên cây lá chưa được sinh trưởng đúng mứt thì đã
bị chặt đốt tiêu sạch hết rồi có đâu tới việc ra hoa kết trái
chứ? Con người chúng ta chỉ có việc tranh giành và tìm kiếm miến
ăn cái mặc mà phải tàn hại những loài sống xung quanh như vậy,
thật là quá nhẫn tâm đi mất.
Để tiếp tục cho chuyến đi sau khi nghỉ chân uống
nước ít phút suy nghĩ vẩn vơ thì giờ đây tôi phải tiếp cuộc hành
trình khá dài của tôi. Leo núi đối với người chưa quen như tôi
đây thật quá là rất khó khăn chứ không hề đơn giản chút nào. Mặt
trời đang theo dõi từng bước chân đi của tôi và cũng gần tới
mười giờ trưa tôi mới thật sự đặt chân của mình lên đỉnh của một
ngọn núi cao. Lên tới đây tôi thả đôi mắt xanh của mình tha hồi
mà nhìn ngắm ở những nơi xa xăm lờ mờ mà mắt thường của mình
không thể nhìn thấy rõ được. Vì cảnh thật núi non chập chùng
khiến lòng tôi ngẫu hứng và làm nên một bài thơ với bút hiệu thi
sĩ của tôi như sau:
NHỚ LẦN LEO NÚI
Có
một lần
Ta
leo lên ngọn núi
Vớt
mây hồng
Ủ
lạnh đỏ bước chân
Giữa
không gian
Cảm
xúc tợ vô ngần
Chẳng có gì
Cao
hơn bằng ngọn núi
Rồi
phút giây
Ta
nhớ lại tên tuổi
Biết
bao đời
Rong
ruổi ước mơ xa
Hôm
nay ta
Lánh
mặt ở ta bà
Tìm
đường cũ
Loanh quanh từng hơi thở
Bỏ
quên mình
Chứng kiến phút ly tan
Đâu
có ngờ
Ta
đứng giữa ngút ngàn
Mà
cứ mơ
Điểm
cao là ngọn núi
Theo
gió mát
Hồn
thiêng về an ủi
Tâm
cảnh cùng
Lủi
thủi hết núi sông
Ta
lang thang
Phiền não cả ruộng đồng
Nay
biết mình
Sắp
quay về lối cũ.
Tác
giả
Nẻo Xa
Nhưng sự thật đây có phải là lối cũ tận cùng ở ngoài
suy nghĩ của ta không? Khi mình đặt chân lên ngọn núi rồi mình
lại là người đứng cao hơn núi. Và suy nghĩ cũng như tầm mắt nhìn
của mình càng xa hơn khi mình còn ở dưới chân núi. Thật sự khi
ta chưa có thể nắm bắt được bất cứ một chân lý nào trong tâm thì
chế nên buông lời nói trước sự việc xảy ra nơi trước mắt, chỉ
trừ những bậc Thánh như Đức Thế Tôn vậy. Trên phương diện tương
đối của cái nhìn thì hình như lúc này ta sắp quay về lối cũ rồi,
nhưng lối cũ của tâm hồi thì vẫn còn cách rất xa với chúng ta.
Vì mình lấy lượng phiền não đang có mặt ở trong tâm để đo quãng
đường và tầm nhìn của mình thì còn xa như vậy; chứ một khi ngộ
được câu nói trong Kinh Kim Cang rồi thì tâm bên trong và cảnh
vật bên ngoài cũng chỉ là một mà thôi đó là câu: “Ưng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm”.
Tôi chỉ tận hưởng được phút lên đỉnh núi như vậy
thôi chứ vì thời gian về chiều cứ nhanh chân buông xuống khi tôi
nhìn lại bóng của mình đã thấy ngã ra phía ngoài rất xa, trong
lòng tôi lúc này cũng đã thấm mệt nhưng sợ trời tối không có nơi
trú chân cũng như tiếp theo dòng suy nghĩ trong tâm của mình.
Buộc lòng tôi phải quay về nơi hang đá ở giữa sườn núi mà đêm
hôm qua tôi đã nghĩ ở đó. Vì mục đích leo núi của mình đã hoàn
thành nên việc đi xuống trở lại dường như thấy nhẹ nhàng hơn
nhiều so với lúc bắt đầu đi lên, với lại đây là lúc đường xuôi
xuống nên đi cũng lẹ chân hơn nhiều. Tôi cứ đi một hồi mà tới
hang đá lúc nào tôi cũng không để ý nữa, thật là nhanh quá. Khi
vừa tới nơi, tôi làm một số việc giống như tối hôm qua vậy, cũng
đi lấy nước, gôm củi khổ lại và cuối cùng là tôi tắm cho thân
mình thật sạch hết mồ hôi. Công việc kế tiếp là tôi lại đem thức
ăn khô ra ăn buổi tối cho xong. Ở đây tôi chỉ có hai người bạn
thân nhất đó là đống lửa và ánh trăng mỗi khi nó chiếu sáng. Đã
hai ngày và một đêm trôi qua tôi không thấy một bóng người nào ở
đây hết, nên tiếng nói phát ra từ trong miệng cũng chẳng có mấy
tiếng cả; phần nhiều là tôi độc thoại mà thôi. Sống như thế này
mình mới thấy rõ được thời gian với không gian nó diễn ra dài
hay ngắn và đồng thời cũng thấy chính bản thân mình như thế nào.
Sau những công việc nhẹ nhàng nói trên, lại là màn đêm buông
xuống và ánh trăng dần dần nhô lên cao. Cảnh trăng sáng ở đây
thật là đẹp và yên tĩnh không có một tiếng ồn nào xen lẫn được
với tiếng gió vi vu qua từng kẽ lá của cây rừng bạt ngàn. Dần
dần rồi vầng trăng cũng tự mình đi lên cao và để lại trong tôi
một nỗi buồn vô hạn, vì đêm thứ hai mới thấy rằng lòng mình rất
là cô quạnh. Nó lặng lẽ làm sao đó, ngay cả chính trong tâm của
tôi mà tôi cũng không thể cảm nhận cho hết được. Nói đến đây tôi
cũng nhớ lại một câu nói trong văn cảnh sách của Ngài Qui Sơn
như sau: “Tiền lộ man man, vị tri hà vãng”, phía trước là một sự
mờ mịt mà chính mình cũng không thể hiểu hết cái mờ mịt đó nữa.
Ý của Ngài Qui Sơn muốn nói rằng cái vô minh này nó chất chồng
lên cái vô minh khác làm cho tâm của chúng ta không thể lóe sáng
ra được. Cuộc đời con người như màn đêm buông xuống khiến cho
tối tăm vậy.
Nói cho cùng thì mình cũng không thể tránh né được
màn đêm, nên thôi thì mình giữ vững được từng niệm của hơi thở
ra vào là tốt lắm rồi chứ cần chi tới việc quan tâm về ngày hay
đêm cho mệt sức. Đêm thứ hai đến với tôi thật quá là khốc liệt
vô cùng, không những các việc xảy ra như tối hôm qua mà còn đáng
sợ hơn thế nữa, đó là những cảnh ở đâu ấy cứ hiện về trong ý
nghĩ của tôi; khiến cho tôi hốt hoảng liên tục vì quá sợ hãi.
Tối hôm qua chỉ có chuyện buồn vui trong quá khứ với những suy
nghĩ vớ vẩn của mình mà thôi, còn hôm nay lại thêm những cảnh
rùng rợn nghĩ mà thấy như ở dưới địa ngục thì đúng hơn, tuy rằng
địa ngục thật thì mình chưa bao giờ thấy được; chỉ đọc qua sự
miêu tả ở trong Kinh Địa Tạng mà thôi nhưng thật đang sợ. Ngồi
trước những cảnh tượng như ác mộng vậy tôi nhớ lại những lời
Phật đã dạy khi đối với kẻ ác hay mộng ác, thì mình hãy quán tâm
từ bi của mình đến với muôn loài kể cả cảnh vật hay cỏ cây xung
quanh cũng vậy. Rồi từ từ những cảnh ghê gớm kia dần dần biến
mất và trả lại sự an định với tâm hồn. Đêm hôm nay không dài như
hôm qua, nhưng tôi vẫn không ngủ vì các suy nghĩ tìm kiếm lợi
ích trong tâm còn dang dở. Tôi lại hỏi:
-
Ánh lửa hồng này từ đâu mà ra và khi hết củi lửa sẽ đi về đâu?
Đáp: Lửa từ chỗ không mà đến nên khi hết duyên với củi rồi lại
trở về với chỗ không ấy thôi.
Hỏi: Thân ta từ nơi tứ đại mà sanh nhờ có duyên hòa hợp và sau
khi ta chết tứ đại này sẽ trở về trú ẩn ở đâu? Có phải là sẽ trở
về với sự nguyên bản của nó chăng?
Đáp: Sau khi ta chết (tim ta không còn đập nữa), chỉ còn lại xác
hư thối và cái gọi là “Tạng Thức” mà thôi. Tàng thức này có cái
năng tàng và sở tàng cùng với ngã ái chấp tàng, rồi chính cái
tàng thức này sẽ chuyển tải hết những nghiệp thiện hoặc ác ở
trong tâm ta khi đã gây tạo ra lúc còn sống qua một thân xác
khác nếu là nghiệp ác quá nặng thì đọa lạc ở địa ngục hay súc
sanh và A tu la. Còn có chút ít phước duyên thì sinh làm người,
mà cũng tùy theo phước thiện nhiều hay ít của mỗi cá nhân cho
nên khi người đó được sinh ra cũng có kẻ giàu sang phú quí và
cũng không ít người sống kiếp cơ hàn bệnh tật hết cả cuộc đời.
Trong tâm tôi suy nghĩ tới đây lại chợt nhớ tới bài
Kinh Thế Ký thuộc bộ Kinh Trường A Hàm do Ôn Thích Tuệ Sỹ dịch
việt, Kinh thứ ba mươi, ở Phẩm nhất có tên là “Châu Diêm Phù Đề”
được trích một đoạn như sau:
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong hang Câu-lỵ, rừng Kỳ thọ,
vườn Cấp cô độc, cùng với chúng Đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm
năm mươi người.
Bấy giờ, số đông Tỳ-kheo, sau bữa ăn, tập trung trên giảng đường
cùng bàn luận rằng:
“Chư Hiền! Thật chưa từng có, nay đây trời đất này
do đâu mà tan hoại? Do đâu mà hình thành? Quốc độ mà chúng sanh
ở là như thế nào?”
Khi ấy, Thế Tôn ở chỗ thanh vắng, bằng thiên nhĩ nghe suốt, nghe
các Tỳ-kheo, sau bữa ăn, tập trung tại giảng đường, bàn luận như
thế. Rồi thì, Thế Tôn rời tĩnh thất, đi đến giảng đường và ngồi
xuống. Tuy đã biết nhưng Thế Tôn vẫn hỏi các Tỳ-kheo:
“Vừa rồi các thầy đang bàn luận về vấn đề gì?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Sau bữa ăn, chúng con tập trung tại pháp giảng
đường bàn luận rằng: Chư Hiền! Thật chưa từng có, nay đây trời
đất này do đâu mà tan hoại? do đâu mà hình thành? Quốc độ mà
chúng sanh ở là như thế nào? Chúng con tập trung tại giảng đường
bàn luận vấn đề như thế.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Lành thay! Lành thay! Phàm người xuất gia nên hành
hai pháp: một là sự im lặng của Hiền thánh, hai là giảng luận
pháp ngữ. Các thầy tập trung tại giảng đường cũng nên hành sự im
lặng của Hiền thánh hoặc giảng luận Chánh pháp. Này các Tỳ-kheo!
Các thầy muốn nghe Như Lai nói về việc trời đất thành, hoại và
quốc độ mà chúng sanh ở chăng?”
Khi ấy, các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn!
Nay thật là phải thời.
Chúng con mong ước được nghe. Thế Tôn nói xong, chúng con sẽ
phụng trì!”
Phật nói:
“Này các Tỳ-kheo! Hãy lắng nghe! Hãy lắng nghe! Hãy
suy nghĩ chính chắn. Ta sẽ nói cho các thầy nghe.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Như trong chỗ mà một mặt trời, mặt trăng vận hành
khắp bốn thiên hạ, tỏa ánh sáng chiếu; có một ngàn thế giới như
vậy. Trong ngàn thế giới có một ngàn mặt trời, mặt trăng; có một
ngàn núi chúa Tu-di ; có bốn ngàn thiên hạ, bốn ngàn đại thiên
hạ, bốn ngàn biển, bốn ngàn biển lớn, bốn ngàn rồng, bốn ngàn
rồng lớn, bốn ngàn chim cánh vàng, bốn ngàn chim cánh vàng lớn,
bốn ngàn đường ác, bốn ngàn đường ác lớn, bốn ngàn vị vua, bốn
ngàn vị vua lớn, bảy ngàn cây lớn, tám ngàn địa ngục lớn, mười
ngàn núi lớn, ngàn Diêm-la vương, ngàn Tứ thiên vương, ngàn trời
Đao-lợi, ngàn trời Diệm Diệm-ma, ngàn trời Đâu-suất, ngàn trời
Hóa tự tại, ngàn trời Tha hóa tự tại, ngàn trời Phạm ; đó là
tiểu thiên thế giới. Như một tiểu thiên thế giới, ngàn tiểu
thiên thế giới như thế là một trung thiên thế giới. Như một
trung thiên thế giới, một ngàn trung thiên thế giới như vậy là
một tam thiên đại thiên thế giới. Phạm vi thế giới thành hoại
như thế là nơi chúng sanh cư trú, gọi là một cõi Phật.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Cõi đất này dày mười sáu vạn tám ngàn do-tuần, biên
giới vô hạn. Đất nương trên nước. Nước sâu ba ngàn ba mươi
do-tuần, biên giới vô hạn. Nước ở trên gió; gió dày sáu ngàn bốn
mươi do-tuần, biên giới vô hạn.
“Này các Tỳ-kheo! Nước của biển lớn ấy sâu tám vạn
bốn ngàn do-tuần, biên giới vô hạn. Núi chúa Tu-di, phần chìm
xuống biển là tám vạn bốn ngàn do-tuần; phần trên mặt nước cao
tám vạn bốn ngàn do-tuần; chân núi sát đất, phần lớn là phần đất
cứng chắc. Núi ấy thẳng đứng, không có lồi lõm, sanh các loại
cây; cây tỏa ra các mùi hương, thơm khắp núi rừng, là nơi mà
phần nhiều các Hiền thánh, các trời đại thần diệu. Móng chân núi
toàn là cát vàng ròng. Bốn phía núi có bốn mô đất rắn doi ra,
cao bảy trăm do-tuần, nhiều màu đan xen, được tạo thành bởi bảy
báu. Bốn mô đất thoai thoải, uốn cong sát mặt biển.
“Núi chúa Tu-di có đường cấp bằng bảy báu; đường cấp
ở dưới núi rộng sáu mươi do-tuần; sát hai bên đường có bảy lớp
tường báu, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng
cây; tường vàng thì cửa bạc, tường bạc thì cửa vàng; tường thủy
tinh thì cửa lưu ly, tường lưu ly thì cửa thủy tinh; tường xích
châu thì cửa mã não; tường mã não thì cửa xích châu; tường xa cừ
thì cửa các báu. Còn lan can thì cây ngang vàng thì cây dọc bạc,
cây ngang bạc thì cây dọc vàng; cây ngang thủy tinh thì cây dọc
lưu ly, cây ngang lưu ly thì cây dọc thủy tinh; cây ngang xích
châu thì cây dọc mã não, cây ngang mã não thì cây dọc xích châu;
cây ngang xa cừ thì cây dọc các báu. Trên lan can ấy, có lưới
báu. Ở dưới lưới vàng ấy có treo linh bạc. Dưới lưới bạc, treo
linh vàng. Dưới lưới lưu ly treo linh thủy tinh. Dưới lưới thủy
tinh treo linh lưu ly. Dưới lưới xích châu treo linh mã não.
Dưới lưới mã não treo linh xích châu. Dưới lưới xa cừ treo linh
các báu. Còn cây vàng thì rễ vàng, nhánh vàng, lá, hoa, quả bạc.
Còn cây bạc thì rễ bạc, cành bạc, lá hoa quả vàng. Còn cây thủy
tinh thì rễ, nhánh thủy tinh; hoa, lá, lưu ly. Còn cây lưu ly
thì rễ, nhánh lưu ly; hoa, lá thủy tinh. Còn cây xích châu thì
rễ, nhánh xích châu; hoa, lá mã não. Còn cây mã não thì rễ nhánh
mã não; hoa, lá xích châu. Còn cây xa cừ thì rễ, nhánh xa cừ;
hoa lá các báu.
“Về bảy lớp tường ấy, tường có bốn cửa; cửa có lan
can. Trên bảy lớp tường đều có lầu, gác, đài, quán; bao bọc
chung quanh là vườn cảnh, ao tắm, mọc các loài hoa lá báu. Cây
báu sắp thành hàng. Hoa quả tốt tươi. Gió hương tỏa bốn phía làm
vui lòng người. Chim le le, nhạn, uyên ương, các loại chim kỳ
lạ, có hàng ngàn giống loại không kể xiết, cùng hòa âm kêu hót.
Lại nữa, đường cấp ở giữa núi chúa Tu-di rộng bốn mươi do-tuần,
sát hai bên đường có bảy lớp tường báu, bảy lớp lan can, bảy lớp
lưới, bảy lớp hàng cây báu... cho đến vô số các loài chim cùng
nhau ca hót, cũng như đường cấp ở dưới núi. Còn đường cấp ở trên
rộng hai mươi do-tuần, sát hai bên đường có bảy lớp tường, bảy
lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây báu... cho đến vô số
các loài chim, cùng nhau ca hót, cũng như đường cấp ở giữa”.
Đêm nay không được coi là một đêm dài nhưng suy nghĩ
của tôi về thế giới xung quanh sự thành bại của vũ trụ cũng như
vạn vật kể cả bản thân con người, thì thật quá dài; dài đến nỗi
mà trời sáng lúc nào không hay biết gì hết. Nghĩ thế mà câu nói
của Khổng Tử rất có lý đó: “Tâm bất tại yên, thị nhi bất kiến,
thinh nhi bất văn, thực nhi bất tri kỳ vị”. Tạm dịch rằng: Tâm ở
tại đó, nhìn mà không thấy, nghe mà dường như không nghe, cảm ơn
thì mới hiểu biết hết được tâm. Cùng từ ý nghĩa này mà Cổ Đức có
dạy rằng: “Sanh bất trạch nhựt thời chí tắc sanh, tử bất trạch
nhựt thời chí tắc tử”, nghĩa là sanh không chọn ngày và giờ
nhưng vẫn cứ sanh, mà tử cũng đâu có chọn lựa ngày giờ chết đâu
mà vẫn phải chết. Đó là thuận lẽ vô thường, nên việc sanh hay tử
cứ đến thì đến chứ mình có cản trở nó cũng chẳng được ích lợi
gì?
Quả thật đêm dài lắm mộng, mình mới có ở trong hang
đá này chỉ có hai đêm mà đã thấy không biết bao nhiêu là chuyện
xảy ra cả, chắc có lẽ do ở quá khứ của mình làm nhiều điều không
tốt nên giờ vẫn còn chứa đựng trong tâm nhiều tới như vậy. Cũng
rất may là mình không giết hại tới tính mạng của ai, chứ không
là họ hiện hình về ám mình rồi. Tôi chợt thấy có nhiều tia sáng
ở bên ngoài chiếu vào cửa hang, vì thế tôi biết chắc chắn trời
đã sáng lắm rồi. Cũng như những công việc giống hai hôm trước,
ra suốt rửa mặt và lấy nước vô rồi đem lương khô ra ăn sáng; ăn
sáng vừa xong là tôi lại đi tản bộ xung quanh hang đá đó. Đột
nhiên tôi lại thấy một cái miếu nhỏ đã bị rất nhiều rễ cây rừng
ôm quấn lấy, làm cho những nét chấm phá phù điêu rất công phu
của các nghệ nhân ngày xưa bị che phủ dần dần. Nhưng trời xuôi
đất khiến làm sao mà rất may mắn là trước cửa miếu hoang kia
không bị rễ cây che phủ được nó, thật quá kỳ diệu đi mất. Tôi
quan sát hồi lâu thấy trong miếu có một tượng Phật nho nhỏ với
tư thế Ngài đang ngồi kiết già trên khuôn mặt nhìn thật an nhiên
giữa rừng sâu xanh thẳm này. Lúc đó tôi chợt nghĩ rằng! Lẽ nào
nơi đây lúc xa xưa lại có một vị thiền sư nào đó đã ẩn tu và
dựng nên một ngôi chùa nhỏ này để hằng ngày ra vào đảnh lễ chim
bái Đức Phật gần tại trong cái hang đá này chẳng? Chắc là vậy,
cho nên tuy rằng thời gian đã trải qua khá lâu với thăng trầm
biến cố của lịch sử mà ngôi chùa hoang nhỏ này với một tượng
Phật vẫn y nguyên tỉnh tọa, mặc cho gió sương mưa nắng bào mòn
và rễ cây có ôm lấy đi nữa cũng chẳng động tâm phiền muộn để làm
gì? Thật quá tuyệt vời! Từ lúc tôi nhìn thấy ngôi chùa nhỏ lòng
tôi như đã tìm ra được kho báu quý giá vô cùng, khiến hạnh phúc
cứ như đang tràng ngập cả không gian rộng lớn nơi đây.
Thế rồi một ngày dài với mặt trời nắng gắt cũng qua
đi và đêm tối lại đến với tôi, tối hôm nay là đêm cuối cùng tôi
ở trên núi cao như thế này. Thay vì hai hôm trước tôi ngồi trầm
lặng ở trong hang, thì hôm nay rất khác hơn đó là tôi nhúm lửa
và ngồi ở trước ngôi chùa nhỏ mới phát hiện cách hang đá chừng
bốn năm mét gì đó. Giờ đây trong lòng tôi ngồi đây đã bỏ mặt khi
trăng rằm lên hay sương đêm rơi rơi lả tả từng hạt chầm chậm bay
xuống. Tôi dồn hết lòng nhiệt thành và cung kính của mình hướng
về Đức Thế Tôn, với sự âm thầm thỉnh cầu Ngài gia tâm từ bi và
sự kiên nhẫn đến với mình để có thể bừng sáng những vướng mắc ở
trong tâm mình còn tồn đọng suốt mấy ngày qua. Nhưng rồi khi xưa
ngay cả chính Đức Phật cũng nói rằng: “Suốt bốn mươi chín năm
thuyết Pháp ta chưa từng nói một lời nào”, vì vậy cho nên khi
hạnh phúc mà tôi đang có ở trong tâm lúc này cũng không tồn tại
vĩnh viễn được đâu vì thế mà chỉ có tâm an trú thanh tịnh ngay
nơi đương niệm sáng suốt thì mới không bị bất cứ một chướng ngại
nào có thể làm lay chuyển được tâm chúng ta.
Thích Giác Ý (bút hiệu Nẻo Xa)
|