Chúng
sinh theo cách nh́n của sinh học
Giáo sư Mai Trần Ngọc Tiếng
01/12/2005
|
|
Là một
nhà sinh học nên khi đọc hoằng thệ nguyện
thứ nhất của đức Phật A Di Đà: “ Chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ”, tôi muốn t́m
hiểu nghĩa “chúng sanh” theo lời Phật dạy này là
ǵ, theo cách nh́n của nhà sinh học.
Đọc
quyển “Đức Phật và giáo pháp của Ngài”bản
viết bằng tiếng Anh, ghi nhận tác giả gọi
“chúng sanh” là “living beings” mà theo danh từ sinh học là sinh
vật, tức thể sống.
Sinh vật
hội những đặc điểm sau:
a) Có tổ
chức
b) Có ṿng
đời
c) Có thích
ứng với môi trường
a)
Đơn vị đơn giản nhất của sự
sống là AND, phức tạp hơn là tế bào. Như
vậy sinh vật gồm virut hay tảo đơn bào là
sinh vật cấp thấp. Khi các tế bào có cấu trúc
giống nhau cùng làm chung một nhiệm vụ th́ tổ
chức thành mô, ví dụ: da, biểu b́, mô thần kinh, mô
mạch dẫn máu hoặc dẫn nhựa; các mô hợp
lại thành cơ quan như : gan, rễ. Nhiều cơ quan
tạo thành một hệ: hệ tiêu hoá, hệ hô hấp,
hệ tuần hoàn, hệ thần kinh mà cả động
vật và thực vật đều có như nhau nhưng
cấu trúc khác nhau; các cơ quan hợp thành cơ thể
như động vật và thực vật. Như vậy,
sinh vật gồm vi khuẩn, vi trùng, cỏ cây, chim thú và
con người.
b) Tất
cả sinh vật đều có ṿng đời gồm
tăng trưởng và phát triển. Tăng trưởng là
gia tăng kích thước và trọng lượng làm cho
cơ thể lớn thêm, từ khi mới được
tạo ra đến trưởng thành. C̣n phát triển,
tức tạo thế hệ kế tiếp sau khi cơ
thể trưởng thành như chim đẻ trứng, thú
vật sinh con, thực vật tạo hoa, trái và hột.
Muốn
sống hết ṿng đời, sinh vật thâu vào như
ăn, uống, thở… nhờ các hệ phối hợp
với nhau: Hệ tiêu hóa tạo chất bổ
dưỡng nhờ hệ tuần hoàn chuyển khắp cơ
thể cùng với oxy do hệ hô hấp thâu vào và thải
carbonic qua phổi. Tất cả các hệ đều
chịu sự chi phối của hệ thần kinh gồm
bộ năo và tuỷ sống; phát triển đặc
biệt ở sinh vật người. Giữa thực
vật xanh và động vật không có một khác biệt
lớn.
Về khía
cạnh phân tử các phản ứng sinh hóa học của
hô hấp hay tiêu hóa đều giống nhau ở các sinh
vật. Nhưng thực vật có thêm một chức
năng hơn động vật là chúng quang hợp,
nhờ lá xanh chúng thâu được ánh sáng, nước và
CO2 đổi thành đường tạo tinh bột và
nhả oxy cho mọi sinh vật. Động vật
sống bám vào thực vật, ăn đường trong
trái, tinh bột trong củ, protein trong hột hay lá và
thở oxi của thực vật thải ra. Trong khi
thực vật thâu CO2 của động vật thở ra
chỉ nhờ vào nguồn năng lượng vô tận
của mặt trời mà thôi. Nhà sinh vật gọi thực
vật là “sinh vật tự dưỡng”, c̣n động
vật là “ sinh vật dị dưỡng”. Kể luôn
cả con người có bộ óc thông minh hơn các
động vật khác cũng chỉ là một sinh vật
dị dưỡng. Tất cả chúng sanh kể cả
thực vật đều sống nhờ ánh sáng mặt
trời qua trung gian của cây xanh.
c) Thích
ứng với môi trường: Môi trường là ngôi nhà
chung trong đó tất cả sinh vật sống
được là một khoảng không gian bao la xung quanh
trái đất: Sâu từ mặt biển xuống đáy
đại dương khoảng 11km và cao 11km từ mặt
nước lên tới đỉnh núi. Trong không gian đó,
sinh vật sống theo từng vùng khác nhau như rừng,
núi, sông, biển, đại dương, ao, hồ,
ruộng vườn, sa mạc, đầm lầy… Mỗi
vùng được gọi là một hệ sinh thái, gồm
sinh vật ( sống) và đất, nước, không khí
(không sống) mà nhà sinh học gọi là phần vô sinh và
phần hữu sinh.
Hai phần
hữu sinh và vô sinh tạo thành một ṿng khép kín: Thực
vật hữu sinh thâu ánh sáng mặt trời và CO2 của
không khí tạo thực phẩm ( đường, tinh
bột, muối) nuôi sinh vật khác. Trong hệ sinh thái
đó, các sinh vật cùng nhau phát triển hoặc giết
hại lẫn nhau, sau khi chết thân bị vô sinh phân
hủy tạo CO2 trả lại cho không khí và tạo phân cho
đất nuôi lại cây xanh. Kết quả sau cùng chỉ
có ánh sáng không được hoàn lại mà thôi.
Hệ sinh
thái hoạt động như vậy gọi là ổn
định hay cân bằng tức là số dạng sinh
vật không thay đổi giống như trong rừng
nhiệt đới. Trong một môi trường ổn
định th́ phần hữu sinh sống được,
phần vô sinh ( nước, đất, không khí ) phải
sạch và đầy đủ, tức có đủ oxy, ánh
sáng, nước sạch để dùng trong sinh hoạt,
đất có thể trồng trọt.
Như
vậy “độ chúng sanh” là giữ môi trường
ổn định. Sinh vật nào có thể làm
được việc đó? Sinh vật thông minh nhất
trên trái đất là con người, v́ có bộ năo phát
triển. Con người có trách nhiệm bảo vệ
rừng để có môi trường ổn định,
không chặt phá bừa băi và săn bắn thú hoang dă,
để giữ các giống quư, giữ cây xanh để
che gió, chống lũ lụt, tránh xói ṃn đất làm
sạt lở. Con người không làm ô nhiễm
nước do sự xả rác bừa băi, sử dụng
thuốc trừ sâu quá độ. Con người phải
tiết kiệm nước mưa, nước sạch cho
muôn loài. Con người không làm ô nhiễm không khí và tạo
quá nhiều CO2 kỹ thuật tinh vi của khoa học.
Tóm lại,
con người phải cảm thông với đồng
loại, phải thương yêu sinh vật khác, che chở
những sinh vật yếu hơn ḿnh, bảo tồn giống
quư cho nhân loại.
Con
người có thể tránh ô nhiễm môi trường
sống nếu con người không tự ô nhiễm ḿnh.
Con người giữ tâm ổn định tránh tham, sân,
si, không sử dụng rượu, ma túy và các chất kích
thích gây nghiện. Tất cả đều v́ con
người t́m cảm giác mạnh, khoái lạc làm ô
nhiễm thân tâm chính ḿnh.
Như
vậy, dưới khía cạnh sinh học muốn
độ “ chúng sanh” th́ con người phải: Bằng
mọi giá giữ tâm trong sạch th́ hành động sẽ
trong sạch và tạo môi trường trong sạch.
C̣n về
Phật học th́ sao? Người Phật tử thuần
thành hiểu rằng: Phật dạy có chúng sanh hữu t́nh
và chúng sanh vô t́nh. Chúng sanh hữu t́nh là sinh vật và chúng
sanh vô t́nh là nước, sông, biển cả và môi
trường. Ánh sáng mặt trờiluôn là nguồn năng
lượng vô tận, giống như hào quang của
chư Phật: Nguồn trí tuệ vô tận, gợi cho
người con Phật biết yêu thương tất
cả các sinh vật như một đại gia đ́nh ḥa
hợp bảo vệ nhau sống lục ḥa.
Ở
một góc độ nhất định, khoa học và
Phật học có một sự tương quan với nhau.
Chúng sanh trong lời thệ từ bi độ tận
của chư Phật là một “sinh vật” và theo cách
hiểu của nhà sinh học như đă tŕnh bày ở trên
xét thấy không hề có ǵ mâu thuẫn.
admin (Theo Lưu Dấu Một thời)