|
CHỨNG ĐẠO CA GIÁO
ÁN CAO CẤP PHẬT HỌC Nguyên tác HUYỀN
GIÁC Thiền Sư
|
TIỂU DẪN
CHỨNG ĐẠO CA là tác phẩm thi ca được
viết ra, nói lên tŕnh độ nhận thức chân lư,
khả năng thiền quán tư duy sâu sắc của tác
giả đối với chánh pháp liễu nghĩa
thượng thừa của đạo Phật. Tác
phẩm có năm mươi sáu (56) thi ca, gồm hai
trăm tám mươi tám câu (288). Mỗi thi ca là một
"ngọn đèn pha" cực mạnh quét sạch
hết những bóng đêm tà kiến. Mỗi câu là một
làn gió nhẹ, vừa mát mẻ, vừa thổi tan
những đám mây mù huyển hoặc, vu vơ, cho bầu
trời chân lư hiển lộ lồng lộng, một màu
trong xanh ngăn ngắt. Tư tưởng
ở nội dung, ngữ ngôn văn tự qua h́nh thức
đáng được tôn vinh là khúc ca CHỨNG ĐẠO
của con người CHỨNG ĐẠO. Do vậy, tác
phẩm có cái nhan đề CHỨNG ĐẠO CA,
thiết tưởng không phải là ngôn từ
cường điệu.
Tác giả Chứng Đạo Ca là Huyền Giác Thiền
Sư. Sử sách Phật giáo Trung Hoa không nói nhiều
về tông chi gia phả, chỉ nói Sư là con của gia đ́nh
họ Đới. Sanh vào năm 665 và mất năm
713 đời nhà Đường. Quê của Sư ở
huyện Vĩnh Gia, xưa thuộc châu Ôn, nay là tỉnh
Chiết Giang ở Trung quốc. Sư xuất gia vào
tuổi ấu niên, tư chất thông minh, ham tu hiếu
học, đọc nhiều kinh điển Phật
đến độ tinh thông. Những kinh điển
thuộc hệ tư tưởng liễu nghĩa
thượng thừa như Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Đại
Phương Đẳng Viên Giác, Kinh Thủ Lăng Nghiêm,
Kinh Duy Ma Cật, Kinh Bát Nhă, Kinh Pháp Hoa, Kinh Niết
Bàn....Sư vận dụng một cách vô cùng thông minh, tài
t́nh và "lợi hại" trong việc "công phá"
tà kiến ngoại lai, hiển dương chánh pháp
Đại thừa, mở đường chỉ lối
cho những ai chủng tánh Đại thừa muốn
đi con đường "đại ngộ". Bỉ nhân tôi là
một hậu học cô lậu quả văn, hữu
duyên được nghiền ngẫm tác phẩm CHỨNG
ĐẠO CA. Khi đọc tôi cảm nghe như thân tâm
bay bổng ra khỏi hết mọi vướng mắc
ở cơi đời, mà từ lâu ḿnh lầm lạc,
tự trói thân để chịu cực nhọc, tự
quản thúc tâm để ưu tư, sợ hăi triền
miên. Tâm đắc sâu đậm, sung sướng tràn dâng,
tôi phấn đấu vượt trở ngại:
"mắt mờ". Thị lực yếu, tôi vẫn
quyết chí dịch tác phẩm CHỨNG ĐẠO CA
từ Hán văn ra Việt văn bằng thể văn có
âm điệu và tiết tấu để đọc cho
dễ nhớ. Rồi sau đó, viết phần TRỰC
CHỈ để b́nh thêm.. CHỨNG
ĐẠO CA là một tác phẩm văn học của
Phật giáo Trung Hoa và cả Phật giáo Việt
CHỨNG ĐẠO CA là một giáo án, tôi soạn
để giảng cho tăng ni sinh các trường,
lớp Cao Đẳng Nội Minh. CHỨNG
ĐẠO CA là tiếng sấm long trời để
đánh thức những ai mệnh danh là đệ tử
Phật mà măi li b́, ngủ say sưa trong mộng mị, mê
tín, hoang đường. CHỨNG
ĐẠO CA là ngọn đuốc thiêng bất diệt
dành cho những chủng tánh Đại thừa tiến
bước trên lộ tŕnh đại ngộ. Viết tại Thao Hối Am CÁI THẤY
CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên
âm: QUÂN BẤT KIẾN ! TuyỆt hỌc vô vi
nhàn đẠo nhân
Dịch nghĩa:
AI CÓ BIẾT ! Bậc tuyệt học vô vi nhàn
đạo * Thân ảo hóa với pháp thân cũng
vậy * Nhận thức
rơ hai thân pháp hóa (1) * Thân ngũ uẩn chỉ là phù vân
tụ tán *
Gọi tam độc thực tánh không hề độc TRƯC CHỈ Đi con
đường đạo, thường phải qua ba
giai đoạn. "Học đạo", Hành
đạo", và "Chứng đạo".
Đến giai đoạn CHỨNG ĐẠO,
được gọi là con người "nhàn
đạo". Người "nhàn đạo" là
người đă vượt qua giai đoạn
"học đạo" và "hành đạo". V́
vậy, người "chứng đạo"c̣n
được gọi là người TUYỆT HỌC, là
người đạt đến VÔ VI, cho nên bậc
TUYỆT HỌC, VÔ VI, NHÀN ĐẠO tức là con
người CHỨNG ĐẠO. Cái thấy của
người chứng đạo, không thấy qua cái
thấy của nhục nhăn b́nh thường mà thấy
bằng "Tuệ nhăn". Về "cái thấy",
giáo lư đạo Phật dạy có năm cách nh́n thấy
khác nhau. Dựa trên thành quả tu chứng mà cái thấy
của người học đạo, hành đạo và
chứng đạo đối với hiện
tượng vạn hữu chia thành năm cách thấy: Cái
thấy qua "nhục nhăn". Cái thấy qua "thiên
nhăn". Cái thấy qua "pháp nhăn". Cái thấy qua
"tuệ nhăn". Cái thấy qua "Phật nhăn".
Cái thấy qua "nhục nhăn" là cái thấy
"tầm thường". Cái thấy qua "thiên
nhăn" là cái thấy "b́nh thường". Cái
thấy qua "pháp nhăn" là cái thấy của
người "đạt đạo", của hàng
tiểu thừa THANH VĂN, DUYÊN GIÁC. Cái thấy qua
"Tuệ nhăn" là cái thấy của người
CHỨNG ĐẠO, cái thấy của căn cơ
Đại thừa, của Bồ tát trên đoạn
đường gần tới VÔ THƯỢNG CHÁNH
ĐẲNG CHÁNH GIÁC của "Phật nhăn". Người CHỨNG
ĐẠO, nh́n thấy thấu triệt bản chất
căn nguyên của vạn pháp. Nói cách khác, người
chứng đạo nh́n hiện tượng vạn pháp
họ thấy được cái "thực
tướng" của vạn pháp. Họ biết
rất kỹ rằng cái tướng thực của
vạn pháp là "không có ǵ". Tất cả chỉ là
duyên sanh, mà duyên sanh th́ như huyễn, không thật có. Qua cái thấy của
con người chứng đạo, "vọng
tưởng" đă là vọng th́ c̣n quan tâm, c̣n mơ
tưởng, c̣n kết giao, gá nghĩa với nó
được sao ? Biết nó vọng th́ ḿnh đă
"không vọng". Không vọng là đă tự
"chơn" rồi. Do vậy, "vọng" không
phải "trừ", "chơn" không cầu,
không cần mơ ước mà tự có. Nước trong,
trăng hiện, mây tan, trời hiện, phiền năo vô
minh hết Phật tánh hiện. Trăng vốn sẵn có
trong lúc nước ao hồ vẩn đục. Phật
tánh thanh tịnh vốn có trong lúc con người biểu
lộ đầy những phiền năo vô minh đau
khổ. Giác là Phật, mê là tục tử phàm phu. "Không
trừ vọng tưởng, chẳng cầu chân" Kinh điển
Phật thường đề cập "Tam thân"
của con người chứng đạo. Pháp thân là cái
bản thể châu biến. Về thời gian xuyên
suốt quá khứ, hiện tại và vị lai. Về
không gian khắp cùng đông, tây, nam, bắc, tứ duy,
thượng, hạ. Từ Pháp thân đó, duyên sanh ra các
hiện tượng vạn hữu. Ảo hóa thân là
một hiện tượng trong vô vàn hiện tượng
"duyên sanh". V́ thế cho nên ảo hóa thân không ngoài
Pháp thân. Từ nơi Pháp thân duyên khởi sanh ra ảo hóa
thân. Ảo hóa thân và Pháp, thân không phải LÀ mà không phải
KHÔNG LÀ. Đó là chân lư "Bất tức, bất ly",
trung đạo. Bảo rằng: lu, hũ, chum, ché không
phải đất. Đúng, nhưng không đúng trọn
vẹn. Bảo rằng: lu, hũ, chum, ché là đất.
Đúng, nhưng cũng không đúng trọn vẹn. Mà
phải hiểu rằng: lu, hũ, chum, ché không "là"
đất nhưng chúng không ngoài đất. Đất
không phải là lu, hũ, chum, ché, nhưng ngoài đất không
làm sao có lu, hũ, chum, ché. Người
biết học đạo, hành đạo theo chánh pháp,
không xem khinh thân ảo hóa, v́ biết rằng thân ảo hóa
là diệu dụng duyên khởi của Pháp thân. Thân ảo
hóa và Pháp thân "bất tức mà bất ly" như
đồ gốm và đất sét của đại địa
mênh mông kia vậy. "Ảo hóa không thân tức Pháp
thân" Nhận rơ và thực
chứng được bản thể thanh tịnh châu
biến, duyên sanh mầu nhiệm của Pháp thân, bấy
giờ chợt tỉnh và thấy rằng tất cả
hiện tượng vạn hữu có cùng một bản
thể chung cùng, chỉ do nhân duyên không đồng mà có
sự sai khác. Dù hiện tượng vạn hữu có ngàn
sai muôn khác nhưng cái thấy của người
chứng đạo: Tất cả cùng một thể thanh
tịnh không hề có sự vật này là nguyên nhân gây
đau khổ cho sự vật nọ. "Pháp thân giác liễu vô nhất
vật". "Vô nhất
vật" là do người chứng đạo
sử dụng tuệ nhăn, nh́n vạn pháp bên mặt
Tổng. Thấy có nhiều "vạn vật"
tại v́ dùng nhục nhăn nh́n vạn pháp bên mặt Dị
Biệt duyên sanh của nó. Từ nhận
thức đó, người chứng đạo thấy
rằng: "duyên sanh" vạn pháp "vô t́nh",
cũng như duyên sanh vạn loại "hữu
t́nh", cùng có chung một "bản nguyên", một
cội nguồn thanh tịnh là "Thiên chân Phật". "Ngũ uẩn phù hư không khứ
lai Dưới con mắt
của người chứng đạo, thân con
người kết hợp bởi ngũ uẩn, duyên
sanh. V́ duyên sanh cho nên thân của phàm nhân hay thân của thánh
đức đều chung một dạng "phù
hư". V́ là "phù hư" cho nên nó sanh diệt,
khứ lai, tụ tán. Cái điểm ưu việt khác
hơn người của con người chứng
đạo là họ thấy rơ và biết kỹ rằng
phù vân dù có sanh diệt, khứ lai, tụ tán nhưng
nó không bao giờ mất mà nó vĩnh cửu khứ lai,
sanh diệt, tụ tán trong bầu hư không vốn dĩ
bất sanh bất diệt. Dưới cái nh́n của
người chứng đạo, vấn đề sinh
tử chỉ là chuyện tầm thường như vô
vàn sự vật diệt sanh tan hợp khứ lai b́nh
thường khác. Tham, sân, si nhà
Phật gọi chúng là "Tam độc". V́ tánh tác
hại của chúng gây cho loài người không sao kể
hết những biến chứng khổ đau cùng
cực do chúng gây ra. Nhưng b́nh tâm mà nói. Vận dụng
tuệ nhăn mà nh́n th́ "tam độc" không có thực
tánh. Tam độc cũng có thể xuất hiện
khiến cho con người khổ đau cùng cực. Tam
độc cũng có thể biến mất không để
lại một bóng dáng, một dấu vết xấu xa
nào. Tam độc có hay không có, tùy thuộc ở con
người MÊ hay GIÁC. Thực chất của tam
độc là không có chất. Chúng như những bong bóng
nổi ch́m sanh diệt của những con sóng vỗ
mặt ghềnh ! Hiểu rơ chân lư đó, đối
với sự tử sanh, sanh diệt của tự thân
cũng như của hiện tượng vạn pháp,
người chứng đạo thấy bằng cái
thấy b́nh tĩnh, an nhiên, không có ǵ phải lo âu, phải
sợ hăi. Chẳng những thế, người
chứng đạo c̣n thấy biết rơ: Khi ḿnh sanh ra
từ đâu đến và lúc chết sẽ đi về
đâu ! *****Top CÁI THẤY
CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: ChỨng thỰc tưỚng vô
nhơn pháp Dịch nghĩa: Chứng "thật tướng"
thấy rơ cơi đời "vô tướng" Đấy lẽ thật, đây
lời nói thật TRỰC CHỈ Người chứng
đạo quán triệt thật tướng của
vạn pháp là vô tướng, người ta sẽ không c̣n
chấp NHƠN và PHÁP. Do diệt bỏ ư niệm chấp
mà tâm hồn thanh thoát khinh an đến độ tự
tại NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG. V́ vậy, cái
gọi là nghiệp A tỳ nếu có, cũng tự hóa
giải tiêu vong. Đó là sự thật mà đạo lư có
thể chứng minh. Nghiệp A tỳ
nếu có, nó phát nguyên từ ư niệm chấp mắc.
Chấp nhơn và chấp pháp là hai đối
tượng chấp, nó sanh ra vô vàn đau khổ và là
nguyên nhân đau khổ. Tám mươi bốn ngàn trần
lao phiền năo đều do hai thứ chấp NHƠN PHÁP
mà ra. Thấy biết rơ tánh chất VÔ NHƠN, VÔ PHÁP th́
diệt hết khổ nạn A tỳ trong sát na là chân lư
đương nhiên vậy. Người
học Phật, tu Phật không được THỀ. V́
thiết tha với chân lư, v́ muốn truyền trao chánh pháp
trong sáng cho mọi người con Phật, tác giả
Chứng Đạo Ca phải thốt ra lời: như
cam kết, như tự THỀ để nói lên nỗi
ḷng thành thật và tha thiết đối với chánh pháp.
"Được phép thệ, dù thề độc
cũng xin cam nhận". *****Top CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: ĐỐn giác
liỄu Như Lai thiỀn Dịch nghĩa: Thoắt
chứng nhập Như Lai
thiền định TRỰC CHỈ Người tu hành,
đến một lúc nào đó có thể chợt tỉnh
thức và khi tỉnh thức người ta có khả
năng thể nhập, đi sâu vàoNhư Lai Thiền.
Như Lai Thiền là thứ Thiền chỉ khi nào
đến địa vị Như Lai mới có. Thể
nhập Như Lai Thiền đối với vạn pháp
không cần tu mà vạn hạnh tự nhiên đă sẵn
đủ. Thể nhập Như Lai Thiền với
lục độ không cần hành mà hành một cách viên măn
rồi. Bởi v́ Như Lai Thiền là thứ Thiền viên
măn và siêu viên măn nữa. Vậy NHƯ LAI
THIỀN là THIỀN như thế nào ? Đáp: Như Lai
Thiền là Thiền không cần ngồi, v́ nó
vượt cái cần thiết ngồi. Như Lai
Thiền không cần định tâm vắng lặng, v́ nó
vượt ngoài cái cần thiết định tâm
vắng lặng. Như Lai Thiền là thứ Thiền
không cần gia công dụng ư để thiền, mà
thiền trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi và
thiền ở mọi nơi chốn, ở mọi
thời gian. Như Lai Thiền là kết quả, là
THIỀN RỒI tất cả tám muôn bốn ngàn thứ
thiền khác. . Cho nên tỉnh thức và thể nhập
Như Lai Thiền th́ không đức tốt, hạnh lành
nào là không viên măn. Thành quả của
Như Lai thiền được đúc kết qua các tiêu
chuẩn như sau: 1.
Thân vô thất 2.
Khẩu vô thất 3.
Ư vô thất 4.
Nhất thiết thân
nghiệp tùy trí tuệ hành 5.
Nhất thiết khẩu
nghiệp tùy trí tuệ hành 6.
Nhất thiết ư nghiệp
tùy trí tuệ hành 7.
Trí tuệ tri quá khứ vô
ngại 8.
Trí tuệ tri hiện
tại vô ngại 9.
Trí tuệ tri vị lai vô
ngại 10.
Vô dị tưởng 11.
Vô bất định tâm 12.
Vô bất tri. Tri hỉ
xả 13.
Dục vô giảm 14.
Niệm vô giảm 15.
Định vô giảm 16.
Tinh tấn vô giảm 17.
Giải thoát vô giảm 18.
Giải thoát tri kiến vô
giảm Có ngần ấy tiêu
chuẩn th́ những đức tốt, hạnh lành trên
cơi đời này có cái thứ nào mà c̣n thiếu !
"Lục độ vạn hạnh thể trung
viên", đối với con người
"Đốn giác liễu Như Lai thiền" hẳn
không phải là thứ danh ngôn cường điệu. Người
đệ tử Phật có học Phật thật, có ham
tu thật và có hiểu kỹ về Phật, người
ta không thèm sợ sáu nẻo luân hồi như là: cảnh
giới địa ngục, cảnh giới ngạ
quỷ, cảnh giới súc sanh, cảnh giới
người, cảnh giới A tu la, và cảnh giới
trời ở ngoại cảnh. Mà người ta chỉ quan
tâm "Lục Thú" ở nội tâm. Lục thú ở
nội tâm nó trực tiếp tác động hoành hành
cuộc sống hiện tại của con người.
Đó mới là đáng lo sợ. Không sợ sự
luân hồi của lục thú nội tâm mà chỉ lo sợ
cho sự luân hồi lục thú ở kiếp tương
lai th́ quả là con người giàu tưởng
tượng ! "Chẳng khác chi người chưa làm
giàu mà sợ ăn cướp. Chưa ăn cướp
mà lo sợ ở tù!" Vấn đề
"đại thiên thế giới, cơi Ta bà" có hay không
? Vấn đề "Tây phương Cực
lạc" không hay có ? Đó là vấn đề
người học Phật phải quán triệt sâu
sắc. Y cứ nền
giáo lư liễu nghĩa thượng thừa và sử
dụng tuệ nhăn mà nh́n vũ trụ vạn hữu trong
pháp giới mười phương, th́ pháp giới
chỉ có một. Pháp giới "nhất chân" không có
hai, không có pháp giới nào khác với pháp giới nào. Pháp
giới có cùng một bản thể "chân như"
y nhau. V́ "chân" cho nên không thể tiêu hoại cho
mất đi. V́ "như" cho nên không thể tăng
bổ cho thêm nhiều. V́ "chân như" cho nên
mười phương pháp giới đồng một
thể: Bất sanh, bất diệt, bất cấu,
bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Qua cái
thấy của tuệ nhăn, chỉ nói tuệ nhăn của
người chủng tánh Đại thừa thôi, pháp
giới đă là "nhất chân" rồi. Do nghĩa
đó, người chứng đạo thấy rơ ràng: "C̣n mộng mê, thấy có sáu nẻo
luân hồi Người đệ
tử Phật có chánh niệm, có tư duy, có quán chiếu
nội tâm sẽ thấy rơ cái chân lư đó. Kinh
Hoa Nghiêm đức Phật dạy: "Nếu
ai muốn biết rơ Do
vậy: "....C̣n mộng mê, thấy có sáu nẻo
luân hồi *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI
CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Vô tỘi
phưỚc, vô tỔn ích Dịch nghĩa: Tội
là chi, phước lại là chi ? Thiện là chi, ác cũng lại là chi ? Gương ḷng sáng, xưa nay ta vốn có TRỰC CHỈ Nền giáo lư Phật
nhằm đào tạo cho con người đức tánh
tự tôn. Cái nhân bản của con người là tối
tôn và hoàn toàn trong sáng. Con người hăy phát huy đức
tánh vốn có ấy để mà sống một cách
tự tin ở khả năng, ở nơi nhân bản cao
đẹp vốn có của ḿnh. Người đệ
tử Phật không tôn trọng ai khác, ngoài nhân bản thanh
cao trong sáng, mà tác giả Chứng Đạo Ca gọi
đó là "Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật"
của chính con người. V́ vậy, người
đệ tử Phật, học Phật, tu theo
đạo Phật không được sợ bất
cứ một thế lực "linh thiêng", một
sức mạnh vô h́nh hay một đấng thưởng
phạt siêu nhiên nào đó, như một số
người nhẹ dạ dễ tin thường sợ.
Người theo đạo Phật chỉ sợ nhân
quả. Tâm năo của con người là "căn cứ
địa" phát xuất và biểu hiện qua
"nghiệp nhân" THIỆN hay ÁC. Chữ
"nghiệp" trong đạo Phật chỉ sự
hành động của THÂN của KHẨU của Ư
được biểu hiện cụ thể. Gieo
nghiệp nhân THIỆN sẽ gặt hái trái ngon, tốt
lành. Gieo nghiệp nhân BẤT THIỆN cũng sẽ
được thu hoạch trái không ngon, cay
đắng...Nhân thế nào, quả thế ấy, như
bóng theo h́nh. Chung qui lại, do TÂM làm chủ hết.
Tạo nghiệp nhân thiện hay ác, sẽ tự nhận
lấy quả khổ hay vui. Hễ nhận lấy
quả khổ th́ người ta cho là do mắc TỘI.
Nếu nhận lấy quả vui th́ người ta cho
là được PHƯỚC. TỘI hay PHƯỚC rơ
ràng chỉ là kết quả của con người gieo
nhân THIỆN hay ÁC ở thời gian trước đó mà
thôi. Đúng chân lư mà nói
th́ không ai là người có quyền ban cho và không ai là
người phải chịu tội với ai cả. Lập
trường b́nh đẳng của đạo Phật,
biểu hiện cụ thể qua tính "b́nh đẳng
về nhân bản của mọi con người". "Sáng soi
thấy: TỘI, PHƯỚC không ai ban và ai phạt". *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI
CHỨNG ĐẠOVỀ
TĨNH TÂM VÔ NIỆM Phiên âm: Thùy vô niỆm ? Thùy vô
sanh Dịch nghĩa: *
Ai là người thường ước mơ vô niệm * Để trắc nghiệm, xin hỏi,
"ông Robot" người máy TRỰC CHỈ
Tu đạo Phật, rất cần CHÁNH NIỆM mà không
cần VÔ NIỆM. Có thể nói: Có chánh niệm là có
tất cả đức tốt, hạnh lành. Có chánh
niệm rất dễ thành công trên tám nẻo
đường "bát chánh". Suốt cuộc
đời hóa đạo chúng sanh, đức Phật không
lúc nào rời chánh niệm. Chánh niệm nuôi lớn ngũ
căn, chánh niệm phát triển ngũ lực, chánh
niệm ǵn giữ thất thánh tài, chánh niệm
trưởng dưỡng thất giác chi. Chánh niệm
cũng là chất liệu bổ dưỡng để
tưới tẩm, để đượm nhuần cho
quá tŕnh phát triển của 18 pháp bất cộng của
Như Lai Phật.
Tu Phật mà mong cầu VÔ NIỆM là tu sai. Vô niệm th́
c̣n ai để biết, để tư duy chân lư và
những ǵ phi chân lư ! Tu mà cầu
được vô sanh cũng là lối tu sai lạc. Trên
cơi đời, có cái ǵ không biến chuyển vận hành
sinh diệt ? Đá gỗ c̣n không ra ngoài ṿng vận
động vô thường "hằng chuyển" sát
na sanh diệt, huống hồ là một hữu t́nh
"tối linh ư vạn vật" ! Mong trở thành
người VÔ NIỆM, cầu được chứng
đắc VÔ SANH là lư tưởng cuồng vọng sai
lầm và không có ngày hiện thực. Giả sử cái ngày
hiện thực đến, con người VÔ NIỆM VÔ
SANH "tệ" hơn loài khoáng vật, thực
vật vô t́nh.....Con người hữu t́nh, vốn có tri
giác lại trở thành người máy có "cơ
quan" điều khiển vậy thôi sao ? Việc làm của
người tu hành, tương tợ như việc làm
của người huấn luyện khỉ. Người
huấn luyện khỉ có tài là "thuần hóa"
được khỉ, dạy khỉ làm tṛ, làm
xiếc....theo ư muốn của ḿnh. Chứ huấn
luyện khỉ làm cho "óc khỉ" trở thành
chứng bệnh phân liệt, không c̣n hoạt động
được ǵ, đó không phải là cách huấn
luyện khỉ của người có tài, có trí. Tu hành cần có
những giờ phút "tĩnh tâm" nhưng tĩnh tâm
không được hiểu là những phút giây VÔ NIỆM. VÔ SANH là một ư
niệm mà người tu Phật phải từ bỏ
dứt khoát. Vô sanh đồng nghĩa với
"đoạn diệt". Tự ḿnh làm cho ḿnh
"rớt" vào hàng ngũ của ngoại đạo
"đoạn kiến" là cách tu sai lạc, đáng
thương ! *****Top CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Phóng tỨ
đẠi mẠc bẢ tróc Dịch nghĩa: *
Thân tứ đại đừng sanh tâm chấp
đắm
TRỰC CHỈ Thân tứ đại
là thân kết hợp bởi bốn chất: địa,
thủy, hỏa, phong. Nó là cái thân bị lệ thuộc
chi phối bởi luật vô thường như vạn vật
hiện tượng khác. Nó c̣n là cái kết quả của
khổ và bất an nhiều mặt. Kinh điển
thường ví sự tạm bợ mong manh vô chủ
của nó qua từ "huyễn thân". Ấy thế mà
ở đời không có mấy ai thấy được
tánh chất huyễn của nó. Trái lại người ta
rất quí trọng nó hơn bất cứ thứ ǵ trên
cơi đời. Điều đáng nói là v́ nó mà tạo
nghiệp bất thiện, trong suốt cuộc
đời để phục dịch vun bồi cho nó không
có phút giây nhàm chán. Ư niệm đam mê luyến ái nặng
nề về thân, kinh điển gọi đó là
"chấp ngă", tức là quá tôn trọng cái thân.
Rồi v́ thân mà tạo ác nghiệp, v́ thân mà chịu
khổ... "Thân
tứ đại đừng sanh tâm chấp mắc "Phóng tứ
đại" con người sẽ nhẹ nhàng, sẽ
có an lạc trong cuộc sống, v́ con người
vốn có tánh vắng lặng, thanh tịnh, trong sáng, có
thể thọ dụng nó từ đời này sang
đời khác vĩnh viễn không có cạn kiệt.
Nhận thấy được tánh chất "ngă
không" th́ "pháp không" không c̣n là vấn đề
khó biết nữa. Chủ thể nhận thức đă
là vô thường, vô ngă, khổ, bất tịnh và không,
th́ đối tượng nhận thức cũng không
vượt qua ngoài sự chi phối đó ! Cho nên
người đạt đạo sẽ nhận thấy
rơ: " Thấy
được tánh "giai không" của vạn pháp,
thấy được tánh vô thường của hành
pháp, th́ cái NĂNG TRI và SỞ TRI đó trở thành bầu
vũ trụ NHƯ LAI VIÊN GIÁC nhiệm mầu. Lúc bấy
giờ: Ta không cầu thành Phật *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỀ Phiên âm: QuyẾt đỊnh
thuyẾt, biỂu chân tăng Dịch nghĩa: *
Nếu được nói, tôi lập trường
thẳng thắn * Tôi không thích ba hoa vặt vănh TRỰC CHỈ Quyết định
thuyết là lời nói có lập trường, có trách
nhiệm, nhằm bảo vệ mục đích và lư
tưởng của ḿnh. Lư tưởng của tác giả
là chánh pháp liễu nghĩa thượng thừa của Phật
tổ đă đinh ninh dặn ḍ khuyên dạy. Lập
trường của tác giả là "nói thẳng, nói
thật". Nói để diễn tả chân lư, truyền
bá chân lư liễu nghĩa thượng thừa cho mọi
người con Phật cùng học hỏi, tiếp thu
để hành đạo và chứng đạo. Không nói
"vuốt đuôi". Không nói để "chiếm
cảm t́nh". Không nói kiểu "thỏa hiệp".
Không nói kiểu "phương tiện"....để
rồi người nghe không được tí nào lợi
ích.
Học chánh pháp, hành chánh pháp sống theo chánh pháp và
truyền bá chánh pháp không thể sử dụng các kiểu
nói tầm thường vừa kể. Để bảo
đảm giá trị lời nói của một "chân
tăng", một vị thày đúng danh nghĩa của
đệ tử ḿnh, lời nói phải có lập trường,
phải phục vụ cho một lư tưởng giải
thoát, giác ngộ tuyệt vời cao đẹp.
Một chân tăng, theo tác giả Chứng Đạo Ca,
sẵn sàng chấp nhận cô đơn, chấp nhận
sự công kích, sự thóa mạ...của mọi
người. Hoặc sẵn sàng "không nói ǵ
hết". Bao nhiêu ngôn ngữ nhường hết cho.... *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI
CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Ma ni châu, nhân bẤt
thỨc Dịch nghĩa: * Tâm trong sáng người người ai
cũng có *
Sáu thần dụng, thấy sắc mà phi sắc3 Chú thích (1) Ma Ni Châu:
Dịch là Ngọc Như Ư, Ngọc Như Ư là thứ
ngọc trong sáng màu sắc lung linh biến ảo vô cùng
đẹp đẽ, như thu hết cả sắc màu,
cả sự sáng soi của vũ trụ vào trong đó.
Kinh Phật thường dùng ngọc Ma Ni để
chỉ cho tâm thanh tịnh trong sáng vốn có của con
người. (2) Như Lai Tàng
Tánh: Chỉ bản thể bất biến tùy duyên của
vũ trụ vạn hữu. Vạn hữu ngàn sai muôn khác
là diệu dụng duyên khởi từ bản thể Như
Lai Tàng mà có.Tâm là tên gọi khác của Như Lai tàng. (3) Sáu Thần
Dụng: Sáu diệu dụng bất tư ngh́ của nhăn,
nhĩ, tỉ, thiệt, thân, và ư căn, khi con
người hồi quang chân tánh. Con người lúc
bấy giờ chỉ sử dụng "tuệ nhăn"
mà quán sát vũ trụ vạn hữu, Nhục nhăn c̣n nguyên
đó mà không c̣n công dụng. (4) Một Viên Quang:
Như Lai Viên Giác Diệu Tâm, tâm tṛn sáng, giác ngộ chân lư
trọn vẹn. Đến địa vị này, con
người chỉ sử dụng "Phật nhăn"
nh́n vũ trụ vạn hữu. Bốn thứ nhăn
trước không c̣n tác dụng. TRỰC CHỈ Con người ai
cũng có Chân Tâm. Tự thể chân tâm vốn trong sáng,
thanh tịnh, vắng lặng, nhiệm mầu. Trong Chân
Tâm không có một gợn phiền năo khổ đau,
bất măn, bất b́nh. Cũng không có ư niệm ta,
người, thương, ghét, thân, sơ...Kinh
điển Phật thường ví Chân Tâm ấy như
ngọc Ma Ni. Ai cũng sẵn
có ngọc Ma Ni mà không biết ḿnh có ngọc Ma Ni quí báu
ấy. Ngọc Ma Ni vô giá trong người mà không phát hiên
để sử dụng cái công dụng NHƯ Ư của
ngọc. có ngọc Như Ư, con người sẽ không c̣n
ǵ để "thiếu". Phát hiện ngọc Như
Ư, sử dụng ngọc Như Ư, nh́n vạn pháp bằng
"Phật nhăn" cho nên: "Sáu
thần dụng thấy sắc mà phi sắc
V́, người phát hiện ngọc Như Ư, sử
dụng ngọc Như Ư, là người chứng thật
tướng của vạn pháp rồi. "...
Chứng thật tướng vô nhơn pháp *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
Phiên âm: TỊnh ngŨ nhăn,
đẮc ngũ lỰc Dịch nghĩa: Tịnh
ngũ nhăn, sẽ kéo thêm ngũ lục TRỰC CHỈ Giáo lư đạo Phật
dạy rằng, con người có khả năng và
quyền sử dụng "ngũ nhăn"." Khả
năng" và "quyền" th́ mọi người
đều có quyền thừa hưởng, sử
dụng b́nh đẳng. Tuy nhiên, đây là thứ b́nh
đẳng có điều kiện. Mọi người
phải cùng ở "môi trường TU" th́ mới
cùng được ở trong "môi trường
CHỨNG". "Tịnh
ngũ nhăn" là người đạt đến giai
đoạn CHỨNG. Ngũ nhăn đoạt đến
giai đoạn CHỨNG ĐẮC THANH TỊNH th́
chỉ có người tự chứng tự biết.
Người khác môi trường nói và kể cho họ nghe
hoặc họ bảo kể cho nghe, chẳng khác
"Rủ nhau giành trăng ở đáy nước"
hy vọng ǵ người khác môi trường bảo
họ hiểu hoàn cảnh của riêng ḿnh. Phải cùng
đứng trong vườn LAN HUỆ mới cùng
thưởng thức được mùi hoa Lan Huệ.
Phải cùng đứng nơi chợ cá ươn,
mới thấm thía "hương vị" của
chợ bán cá ươn. V́ vậy, TỊNH
NGŨ NHĂN, ĐẮC NGŨ LỰC là việc có thực,
nhưng diễn đạt cảnh giới thanh tịnh
của "ngũ nhăn" của ḿnh cho người khác
nghe biết là điều không dễ. Bảo người
khác phải nghe và phải hiểu về cảnh giới
CHỨNG ĐẮC của ḿnh lại càng khó, khó
đến nỗi tác giả Chứng Đạo Ca ví
với chuyện "Rủ nhau giành trăng đáy
nước". Ngũ nhăn là năm
thứ mắt, nói cách khác năm cách "tư duy" mà
cùng một cách ngó nh́n. Đó là: nhục nhăn, thiên nhăn, pháp
nhăn, tuệ nhăn và Phật nhăn. Ngũ nhăn thanh
tịnh, con người tự có năm thứ sức
mạnh, đủ sức tiến mạnh trên con
đường Bồ đề Vô thượng. Đó
là: CHÁNH TÍN, CHÁNH TINH
TẤN, CHÁNH NIỆM, CHÁNH ĐỊNH VÀ TRÍ TUỆ BA LA
MẬT. Điều đó nói
với ai ? Dễ có mấy người biết ! Dễ
có mấy người tin ! Đó là "...Duy chứng năi tri, nan khả
trắc"
Họ không tin, không có ǵ đáng trách, v́ họ khác môi
trường. *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: ThưỜng
đỘc hành thưỜng đỘc bỘ Dịch nghĩa: *
Tôi chấp nhận cô đơn trên đường
đạo *
Không như ư, tôi nguyền làm người cổ lỗ TRỰC CHỈ Những phút giây TỰ
NHỦ của tác giả CHỨNG ĐẠO CA, HUYỀN
GIÁC, nói lên ư chí quyết liệt và xác định lập
trường kiên định của ḿnh trên con
đường hành Đạo. Thực vậy, tu hành mà
không có mục tiêu cho ư chí vươn lên, không có lập
trường để định hướng cho hành
động, để rồi bạ đâu theo đó,
"vui đâu chúc đó", "nghe đâu tin đó"
thử hỏi một cuộc đời như thế
con người đó sẽ ra sao ? Xác
định lập trường là việc cần Ư chí quyết liệt cũng là
việc cần Chấp nhận cô đơn
cũng lại là việc cần.
Nhưng người tu hành cũng không biến ḿnh trở
thành một con người lập dị. Lập dị
là một thói xấu trong muôn ngàn thói xấu. Cho nên lập
trường của tác giả: có thể "cô đơn",
có thể "vui một ḿnh", nhưng rồi:
"...Tôi những mong có Pháp lữ chung ḷng
Chưa hết, nếu ư chí đó, lập trường
đó mà không được toại nguyện, v́ một
lư do ǵ đó th́ tác giả lại xác định lập trường
thêm một bước nữa: Tác giả có thể
trở thành người lang thang nơi thâm sơn cùng
cốc, hoặc lê bước chốn cỏ nội hoa
đồng để được sống cho lư
tưởng của ḿnh mà ḿnh đă vạch ra bằng bao
nhiêu nhọc nhằn trên những năm tháng dài tu học. Tác
giả bằng ḷng với cuộc sống đó: "...Không như ư, tôi
nguyện làm người cổ lỗ.
Cuối cùng, tác giả nâng lập trường lên một
cấp cao hơn để "kiên định hóa" ư
chí của ḿnh trở thành như một lời tuyên
thệ:
"...Dù xương trơ, thân đét, thịt teo
gầy *****Top CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Cùng Thích tỬ,
khẨu xưng bẦn Dịch nghĩa: *
Người Thích tử với danh xưng BẦN
ĐẠO * Ngọc NHƯ Ư, dùng sao cho hết Chú thích:
(2) Tứ trí: Thành
sở tác trí, B́nh đẳng tánh trí, Diệu quán sát trí,
Đại viên cảnh trí. (3) Tam Thân: Pháp thân, Báo
thân, Hóa thân. (4) Lục Thông: Thiên nhăn
thông - Thiên nhĩ thông - Tha tâm thông - Thần túc thông -
Túc mạng thông - Lậu tận thông. (5) Bát Giải: Nói
đủ: Bát Giải thoát. Tám đối tượng
sở quán của người Tiểu thừa tham
thiền. TRỰC CHỈ Người
đạo sĩ trong đạo Phật hoặc cũng
có hàng đạo sĩ không phải đạo Phật,
thường tự xưng BẦN ĐẠO. Bần
đạo là cái từ khiêm tốn nhún nhường,
về kiến thức, đạo hạnh và phước
đức...của một đạo sĩ. Nhưng theo
tác giả Chứng Đạo Ca th́ người
đạo sĩ của Phật giáo phải là
người giàu chứ không được nghèo.
Người đạo sĩ phải phát hiện Như Ư
châu vô giá của ḿnh để lợi vật ứng
cơ trên đường sự nghiệp. Người
đạo sĩ "Thân bần", "Khẩu
bần" có lợi hơn. Nhưng tâm th́ không thể
"bần". "Thân bần", "Khẩu
bần", hạn chế ngă mạn cống cao
để tiến tới diệt trừ cái "bản
ngă", vĩ đại tiềm phục trong A-lại-gia
thức của con người muôn thuở. Đạo tâm
không thể "bần", cần có đủ những
chất lượng như: Tam thân, tứ trí, bát giải,
lục thông....và nhị đế dung thông tâm địa
ấn nữa. Được vậy, mới thuyết
pháp độ sinh, lợi ḿnh, lợi người,
mới là vị "thầy" đúng nghĩa của
người "bần tăng" trong ḍng thích tử.
Cho nên người Thích tử:
..."Khẩu xưng BẦN, ĐẠO bất
bần" Cái Bần của
người Thích tử nghèo biểu hiện mặc áo
chấp "phước điền y". BẦN
để làm ruộng phước cho chúng sanh, chớ
không BẦN để than van, cầu cạnh, để
"quyên tởi" quá nhiều cách ấy. Theo ư chí của tác
giả Chứng Đạo Ca, Huyền Giác th́ BẦN
ĐẠO của ḍng họ Thích, là con người thân
BẦN, khẩu BẦN c̣n tâm ư phải là đại phú,
phải phát hiện NHƯ Ư châu vốn có của ḿnh th́
sự nghiệp ḿnh mới rạng rỡ, mới
xứng đáng ít nhất là "trung lưu chi sĩ"
đó là cơ hội, là điều kiện..."Báo
Phật ân đức của ḿnh". *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: ThưỢng sĩ
nhẤt quyẾt nhẤt thiẾt liỄu Dịch nghĩa: * Rồi tất cả, khỏi tu không
cầu chứng * Bậc Trung hạ, những căn
cơ thấp kém TRỰC
CHỈ
Đứng bên "b́nh đẳng môn" th́ Phật tánh
ai cũng có như ai. Đứng bên "sinh diệt
môn": th́ vấn đề CHỦNG TÁNH, CĂN CƠ,
góp phần rất quan trọng cho sự "nhất
quyết" "nhất thiết liễu" của
người tu hành. Phải cương quyết, phải
nhất quyết, quyết định cho ḿnh một
hướng đi, một mục đích đến mà
không thể do dự, phân vân bán nghi bán tín, bởi v́ NGHI là
một trong "Tư hoặc", trong "Thập
sử", trong "Ngũ cái". Một khúc gỗ
ở thượng nguồn, muốn trôi đến
biển cả phải vượt qua năm điều
cấm kỵ: không được trôi tắp hai bờ.
Không để cho người vớt. Không theo
nước xoáy mà trôi. Không vướng vào cồn
đảo. Tự nó không ruỗng mục bên trong. Phải
thẳng tắp mà trôi mới ra biển được.
Chần chờ, do dự "không nhất quyết"
th́ không đến đích giải thoát giác ngộ
được. V́ c̣n vướng, c̣n "tắp"
chưa chịu trôi !
Học theo kiểu tầm chương trích cú, học hiểu
để ngâm phong vịnh nguyệt, uốn ba tấc
lưỡi nói chuyện trên mây, trên "trời"
để dọa hù những người cả tin
nhẹ dạ. Với cuộc sống của tự ḿnh,
việc làm, chuyện nói rặt mùi ám chướng u mê.
Hở môi ra th́ khoe khoang học vị văn bằng.
Chạm mặt với phiền năo đành nằm gác tay
lên trán mà chịu đựng cho lương tâm hành hạ.
Miệng oang oang nói về Cực lạc, Thiên đàng, ḷng
u uẩn đắm ch́m trong A tỳ ngục. Đó là cái học
của kẻ "hạ lưu". Dưới nhăn quan
của tác giả Chứng Đạo Ca, vấn
đề Chủng Tánh Căn Cơ, người Thích
tử phải lưu tâm bồi dưỡng nó. *****Top CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
Phiên âm: Tùng tha báng, nhẬm tha
phi Dịch nghĩa: *
Tốt và xấu nhà nhà đều có * Lời phỉ báng, nghe như ru, như
gió thoảng TRỰC CHỈ
Thị phi, nhơn ngă, hỉ nộ, ái ố... suốt
ngày ở đâu cũng có, nhà nhà đều có. Hay dở,
khen chê, tốt xấu, xứ nào cũng có. Tất cả
những cái đó, muốn cho nó trở thành không có, th́:
Một, không nghe. Hai, nghe mà không để dạ, không
tư duy về nó, th́ tự nó "tiêu dung". "Tiêu
dung đốn nhập bất tư ngh́"
Đó là việc có thật. Mọi người có thể
tự thí nghiệm bằng cuộc sống của ḿnh,
trong trường hợp ḿnh "lỡ" bị thị
phi ập đến.
Người tu hành rất cần "chánh niệm"
để kịp thời đối phó với nghịch
cảnh, nếu có. Trường hợp bị phỉ
báng, thị phi, ta nhớ: Họ tự bỏng bởi
ngọn lửa đốt trời trong tay họ.
Miệng họ tự ô uế trước, v́ máu họ
ngậm để phun người. Quán chiếu và tư
duy như vậy, người tu sẽ nhẹ nhơm ngay,
cơn bực tức sẽ hạ tức thời,
nếu chánh niệm đến kịp lúc. Người chân tu
nghe thị phi như gió thoảng, như ru hời,
ngọt như cam lồ, mát như xuân phong, tỉ tê
như nhạc thính pḥng, nỉ non như tiếng sáo
Trương Lương....là chuyện có thật. Đó là
ư thú của câu và của người: "Kiến
sắc phi can sắc
Là chuyện có thật của người chân tu, biết
tu, thường giữ được... "Chánh
niệm" và chánh định trong đời sống tu
hành. Tu mà không đem
lại kết quả, không hóa giải được vô
minh phiền năo, không có chút an lạc nào trong đời
sống hiện tại là "Tu sai" cần phải
sửa. Hy vọng kết
quả ở đời sau, sau khi chết càng sai nghiêm
trọng. *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Quán ác ngôn thỊ công
đỨc Dịch nghĩa: *
Lời sĩ nhục ta nghe như răn dạy * Câu hủy báng ta không quan tâm để
dạ TRỰC
CHỈ
Người nói được cái xấu, dở của
ta, người đó đáng là THIỆN HỮU TRI
THỨC. Lời hủy báng, sỉ nhục nếu ta có
đạo lực, chánh niệm vững vàng th́ sự
kiện đó làm cho ta tăng thêm nghị lực trên
bước đường hành đạo. Cho nên:
"Quán ác ngôn, thị công đức"
Đó là điều có thật đối với
người chân tu thực học, nghe sỉ nhục,
hủy báng mà giận mà thù th́ làm sao tỏ rơ
được sức TỪ BI, NHẪN NHỤC và VÔ SANH
của một Thích tử. Phải biểu lộ và
chứng tỏ sức: TỪ, NHẪN, VÔ SANH của
đạo Phật qua những "ác ngôn" những
"sáng báng" mà không được khởi "oan
thân". Cái thấy của người chứng
đạo, quan niệm vấn đề là như thế. "Nhiêu,
nhiêu, nhiêu thiên tai vạn họa nhất tề tiêu" *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Tông diỆc thông, thuyẾt
diỆc thông Dịch nghĩa: Chánh
giáo giỏi, thuyết giáo hẳn là sâu sắc TRỰC
CHỈ
Thiền định, trí tuệ và sự thông minh là ba môn
rất cần phải có của một tu sĩ Phật
giáo.
Chỉ có thông minh thôi, sẽ trở thành "Thế trí
biện thông" tài t́nh cho lắm th́ cũng chỉ là
người giỏi phục vụ cho ăn, mặc,
ở, ngủ...suốt đời, mà khó có một ngày
bằng ḷng trọn vẹn. Người ta phải
"chịu đựng" và "chịu
đựng".... THIỀN ĐỊNH
đối với tu sĩ Thích tử không thể
thiếu. Thiền định quan trọng với tu
sĩ ví như chất muối quan trọng với
những "đầu bếp" nêm nếm các món
thực đơn đang nấu của ḿnh. Thức
ăn không thể không có muối, nhưng
muối tự nó không thành thức ăn ngon
được. V́ vậy, tu thiền định phải
là thứ định có tư duy, phát sanh trí tuệ. Nhận
thức chân lư trong lúc định cũng như lúc
xuất định, ấy là định đúng. Trái
lại, định để đi vào vô tri vô giác như
tượng gỗ đá là định không có tuệ,
đó là định sai lầm, vô ích. Khác hơn
định vô tri vô giác, người thiền định
bằng cách tưởng tượng. Vận dụng trí
tưởng tượng: Rằng ta đến cơi
trời, ta vào động tiên, ta gặp đức
Phật v..v. Đấy cũng là một thứ
định không tuệ. Thứ định này sai lạc
sẽ không đem lại kết quả mà c̣n nguy hiểm
cho hệ thần kinh. Thứ định này định
càng sâu th́ "lậm" càng nặng, có thể dẫn
đến bịnh "tâm thần" loạn trí mà
người bị "lậm" tưởng ḿnh
đang sinh hoạt giao du với thần thánh, Phật
trời... Định dẫn
đến vô tưởng, vô tri giác sẽ rơi vào
bệnh chấp KHÔNG, chối bỏ vạn vật
hiện hữu. Định để
mà tưởng tượng, xuất hồn đi đây
đi đó, gặp thánh, gặp Phật....sẽ rơi
vào bệnh chấp CÓ, cảnh giới do hoang tưởng
mà tự thấy. Thiền định
của đạo Phật, ĐỊNH là NHÂN, TUỆ là
QUẢ. Tuệ phải là "tuệ" do chánh
định, chánh niệm, chánh kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh mệnh.
Đối tượng tư duy quán chiếu là chân lư
cuộc đời. Do vậy, với
cái thấy của người chứng đạo:
"Định tuệ viên minh bất trệ không...." *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Sư tỬ hỐng, vô úy
thuyẾt Dịch nghĩa: Tiếng
PHÁP chánh, tựa tiếng gầm sư tử TRỰC
CHỈ
Pháp âm của Phật thuyết thường
được ví tiếng gầm của sư tử
(sư tử hống) hoặc "hải triều"
hoặc "chuyển pháp luân". Những từ đó
dùng chỉ chân lư có một sức "uy hùng" như
tiếng gầm của chúa sơn lâm, sức "áp
đảo" như tiếng "gào" của sóng
biển, sức "đè bẹp" như sức cán
sỏi đá của "hủ lô". Chánh pháp phá tà thuyết
dễ như ánh sáng chiếu bóng tối, phá mê tín dị
đoan huyễn hoặc siêu h́nh dễ như "hủ
lô" cán sỏi.... Chỉ có người
trí, hàng chư thiên (tức hạng người có gieo
trồng thiện nhân, có phước đức) nghe, sanh
tâm hoan hỉ và hưởng được an lạc, ngay
trong cuộc sống. *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Du giang hẢi,
thiỆp sơn xuyên Dịch nghĩa: Tôi
đi khắp núi, sông, rừng, duyên hải TRỰC
CHỈ
Là con người không ai dám xem nhẹ vấn đề
sinh tử. Ai cũng lo âu, sợ hăi canh cánh suốt
cuộc đời. Với tuệ giác
vô thượng của đức Phật mà người
đạo sĩ tu học, có quán chiếu tư duy,
nhận thức được chân lư th́ sự sinh tử
không phải là việc đáng sợ hăi, đáng
để tâm ôm ấp, để rồi khổ đau v́
nó, mà cuối cùng cũng không tránh khỏi. Thế là
"lỗ lă", "thiệt tḥi". T́m lư do ? Chỉ
v́ "chấp", v́ bệnh chấp ngă, chấp pháp
của con người. Đáng lư con người
được hưởng sự tự tại, giải
thoát ngay trong cuộc sống, thế mà mất hết ! Từ khi tác
giả Chứng Đạo Ca tiếp nhận chỉ thú
TÀO KHÊ: "Ung
dung không làm lành Do
vậy, vấn đề sinh tử chẳng dính vào
được. Há chẳng phải: "Sanh
tử bất tương can ?" *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Hành diỆc thiỀn, tỌa
diỆc thiỀn Dịch nghĩa: Tu
THIỀN tọa, không phải ngồi mới
"tọa" TRỰC
CHỈ
Xét cho kỹ mọi sinh hoạt ở đời,
người ta sẽ thấy THIỀN là một môn
luyện tập thuộc phạm trù nội tâm, một
phương pháp điều TÂM hiệu quả. Do vậy,
người ta ứng dụng hầu hết mọi lănh
vực, mọi ngành nghề. Thiếu chất THIỀN khó
mà phát triển tài năng kể cả hai mặt: sinh lư và
tâm lư. Muốn đánh trúng chỗ nhược của
đối phương, người vơ sĩ phải thiền.
Nấu ăn thật ngon, người đầu bếp
phải có thiền. Phát minh một khoa học, một
vật lư, một dược liệu mới, nhà bác
học phải có thiền...Đó là thế gian THIỀN.
Ở lănh vực "tôn giáo", c̣n có ngoại
đạo thiền, tiểu thừa thiền. "Hành diệc thiền, tọa diệc
thiền
Đấy thuộc ĐẠI THỪA THIỀN. Tại
sao Đại thừa thiền có một phong thái xem
thường những đe dọa, chết chóc ?
Chừng nào THIỀN GIẢ giải đáp
được câu hỏi đó th́ mới hiểu
được rằng ĐI, ĐỨNG, NGỒI,
NẰM, đều không rời THIỀN của
Đại thừa THIỀN.
Than ôi ! "Duy
chứng năi tri nan khả trắc *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI
CHỨNG ĐẠO Phiên âm: KỶ hỒi tỬ, kỶ
hỒi sinh Dịch nghĩa: Việc
sinh tử kể sao cho cùng số... TRỰC CHỈ Ham
sinh sợ tử là việc thường t́nh. Bởi v́
người đời quan niệm rằng
"đời người có một lần". Một
lần sinh ra. Một lần thi đỗ. Một lần
kết hôn và đáng sợ nhất, một lần
chết. Cuối cùng chết là hết ! Dưới nhăn quan
của người chứng đạo: vạn pháp không
có cái ǵ mất hẳn. Vạn pháp là hiện tượng
vô thường nhưng chúng duyên sanh từ bản thể
chân thường. V́ vậy, việc sinh tử không
thể luận kiếp số, không có sự chấm
dứt ḍng sinh tử. Ḍng sinh tử tử sinh cứ trôi
măi không có bến bờ dừng trụ.. Nó
"hằng" mà "chuyển". "Chuyển"
trong cái "hằng". "...Tử rồi sinh, sinh tử
lững lờ trôi"
Không phải chỉ có con người mới tử sinh vô
cùng vô tận về kiếp số. Qua cái thấy của
người chứng đạo, Phật Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni của ta cũng vậy, chư Phật trong
mười phương ba đời cũng cùng thọ
dụng một chân lư. "...Việc
sinh tử, kể sao cho cùng số..." *****Top CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: NhẬp thâm sơn trỤ lan nhă Dịch nghĩa: Vào
rừng thẳm, trụ am thanh tĩnh mịch TRỰC
CHỈ Là
con người, ai cũng như ai. Ngày ngày lo toan sinh
kế, phục vụ bản thân gia đ́nh, thừa ra
đóng góp phần cho xă hội. Ngoài những ngày giờ
làm việc mệt nhọc, mỗi người dành cho ḿnh
một cách "giải trí", một "thú vui". Thú
vui xem phim, thú vui đọc sách, thú vui đánh cờ, thú
vui câu cá, thú vui ca nhạc… Dưới mắt
người chứng đạo, người đạo
sĩ cũng có thú vui, một thú vui khác với tất
cả thú vui của người thường. Thú vui
của đạo sĩ, người thường nghe có
thể không thấy có ǵ vui. V́ người ta không
thưởng thức nổi cái hương vị
giải thoát thâm trầm, sâu kín, mầu nhiệm của
tâm hồn người đạo sĩ. Nói một cách khẳng
định rằng, người đạo sĩ có
thực tu, tu đúng chánh pháp, người đạo
sĩ đó thưởng thức trọn vẹn cái thú vui
"vô vi" mà người thường không có cơ
hội được thưởng thức. Thú vui VÔ VI
muốn thưởng thức nó, c̣n có cách là phải theo
dấu chân của người trước đă đi
qua. "Vào rừng thẳm, trụ am
thanh tĩnh mịch *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Giác tỨc liỄu, bẤt thi công Dịch nghĩa: *
Giác là hết, chẳng cần tu với chứng ! *
Như tên bắn, xé hư không bay vút TRỰC CHỈ Muốn đi con đường
Phật, phải chú ư những điều cần
thiết ban đầu: Về
pháp môn, đại để có phương tiện và
cứu cánh... Về
chủng tánh, đại để có tiểu thừa và
đại thừa... Về
giáo lư, đại để có tiệm, đốn, viên.. Về
căn cơ, đại để có lợi,
độn...
Có hiểu những điều cốt lơi đó, trong quá
tŕnh nghiên cứu, học Phật, mới không sửng
sốt, ngạc nhiên, kinh hăi, thậm chí phản
đối và nguyền rủa, khi đọc: "Giác là hết, chẳng cần tu
với chứng!"
Đối với tư tưởng Đại thừa
của người chủng tánh Đại thừa,
đó là sự thật, không hề cường
điệu, đại ngôn, càng không hề dụng ư
phủ định, chê bai, bôi bác sự tu hành của
người khác không cùng căn cơ, chủng tánh, tŕnh
độ và pháp tu giống ḿnh. Người
Đại thừa nhận thức rơ, pháp hữu vi
"thiên sai vạn biệt", pháp tu th́ "vô
lượng pháp môn", chạy theo nó ḿnh sẽ làm ǵ đây
? Làm cái nào cho mau hiệu quả ? Tu món ǵ để
được "phước nhiều" ? Hành
kiểu chi để mau thành Phật ?.v.v...Vô số vấn
đề, bao nhiêu câu hỏi được đặt
ra, chắc chắn chẳng ai biết chắc phải làm
ǵ để được thành công sớm nhất và to
lớn đến cỡ nào ! Riêng về pháp môn tu
THIỀN của THIỀN TÔNG cũng c̣n không biết cơ
man nào rắc rối. Nếu không có duyên tu học VÔ VI
THẬT TƯỚNG MÔN th́ đa số, người ta
chỉ dạy nhau và tu với nhau những pháp môn
THIỀN LÁ SẢ mà thôi ! Với người Đại
thừa "Nhảy một nhảy, đến ngay vùng
đất Phật". Đó là chuyện có
thật. Nhưng có điều chua chát là lời thật
không phải ai cũng bằng ḷng. Tuy nhiên, không v́ vậy
mà người chứng đạo không v́ lẽ thật,
nói ra lời thật để cho ai đó "đạt
giả đồng du..." chứng nhập quả bồ
đề chân thật. *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: ĐẢn đẮc bỔn,
mẠc sẦu mẠt Dịch nghĩa: *
Cần ôm gốc, quan tâm chi cành ngọn *
Cũng như thế, tâm ta là châu NHƯ Ư TRỰC CHỈ Nh́n bao quát nắm
lấy trọng tâm là cách nh́n của người khôn ngoan
trong cuộc sống. Nhà quân sự, cất
cánh chiếc máy bay thám thính, bay lượn một vùng
trời hàng trăm "cây số" để nh́n bao
quát và t́m nắm lấy một mục tiêu, một
"trọng tâm" của đối phương trong
một vài điểm. Tiều phu vào rừng.
Ngư phủ ra khơi. Người nội trợ đi
chợ. Cô bán hàng rong...đều vận dụng cách "nh́n
bao quát, nắm lấy trọng tâm" trong nghề
nghiệp của ḿnh. Đến như những bậc
tiền bối ḍng dơi tiên rồng cũng dạy cho con
cháu cách "nh́n bao quát, nắm lấy trọng tâm"
để chọn cho ḿnh một ư trung nhân trong lứa
tuổi "xuân xanh xấp xỉ" búi tóc cài trâm rằng: "Trai khôn t́m vợ chợ
đông Người
đạo sĩ cũng có cái nh́n 'bao quát' trong
đường học đạo và hành đạo.
Người ta thường gặp nó trong một cái
từ đẹp đẽ mới nghe qua tưởng
như hữu lư: "Bồ tát đa hạnh" Thực vậy, đa
hạnh không có ǵ phải chê trách và chối bỏ.
Nhưng "đa hạnh" chỉ là cách "nh́n bao
quát" mà người thông minh, cần phải biết
"trọng tâm" để nắm lấy. Đa
hạnh chỉ là lá, ngọn cành..Lá, cành, ngọn,
đọt có thể tiêu ma tàn rụi dễ dàng nếu
gốc sùng, hà, mục ruỗng. Trọng tâm của
đạo sĩ, qua cái thấy của người
chứng đạo là TÂM. TÂM ở đây được
ví "tịnh lưu ly". Tịnh lưu ly thu hết
ánh trăng vàng. "Chân tâm thường trú",
"Như Lai Viên Giác Diệu Tâm" mà phát hiện, mà
tỉnh thức, mà tỏ ngộ, mà thể nhập th́ diệu
dụng sẽ vô cùng vô cực. Dùng cho việc lợi ḿnh,
dùng cho việc lợi chúng sanh từ đời này cho
đến vĩnh viễn vô lượng đời sau
công đức không bao giờ cạn
kiệt. *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
Phiên âm: Giang nguyỆt chiẾu, ṭng phong
xuy Dịch nghĩa: *
Trăng vằng vặc, lung linh vờn đáy nước *
Tôi lấy cả ráng, mây, làm màu áo TRỰC CHỈ Cái thấy của
người chứng đạo đối với
việc "tu hành" nhẹ nhàng, cởi mở, tự
tại mà hiệu quả rất cao. Người chứng
đạo họ có giải thoát thực sự, họ có
giác ngộ chân lư thật sự, v́ vậy không có ǵ ràng
buộc được thân tâm con người chứng
đạo. Dưới mắt của người
chứng đạo, vạn pháp đồng nhất
thể. Tùy duyên biến hiện mà dáng vẻ h́nh hài có sai
khác đó thôi. Tất cả đều cùng chung một
tự tánh thanh tịnh bản nhiên của tự nó.
Từ nhận thức chân lư đó, cho nên vấn
đề gọi là TU HÀNH chẳng có ǵ cực khổ khó
khăn. Van xin, cầu nguyện. Không
cần Lạy ngũ
bách danh, tam thiên Phật. Không cần Tụng kinh, tay
chuông, tay mơ, ngày sáu thời. Không cần Vậy
người đạo sĩ, cần ǵ? _ Cần vững CHÁNH
NIỆM. Có chánh niệm là có tất cả. Có chánh niệm
người đạo sĩ sẽ không rời Phật
tánh. Luôn luôn tỉnh thức sống bằng Phật tánh,
đương nhiên có "giới châu", có
“định châu”, có "tuệ châu". Giới,
định, tuệ mà in sâu tâm địa th́ c̣n cái ǵ ràng
buộc được, lư do nào làm cho hành giả
"bận ḷng"!
Như vậy, người đạo sĩ:
"Tôi lấy cả ráng, mây, làm màu áo
Đó là việc có thật. Có thật, tuy nhiên:
"Duy chứng năi tri, nan khả trắc..." *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI
CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Hàng long bát, giẢi hỔ tích Dịch nghĩa: *
Gậy đuổi cọp, đến nay c̣n chứng tích *
Cầm tích trượng tưởng như nắm trong
tay TRỰC CHỈ Người học
Phật, phải học, hiểu những vấn
đề then chốt của nền giáo lư Phật,
trước khi vào nhà Phật học đồ sộ.
Đó là vấn đề: -
Sự - Lư -
Phương tiện - Cứu cánh -
Bất Liễu nghĩa - Liễu nghĩa -
Tục đế - Chơn đế Hiểu
được ư nghĩa và công dụng của những
cặp phạm trù đó, người đạo sĩ
thấy biết rộng sâu vào vấn đề: - Lư pháp giới - Lư sự pháp giới - Lư vô ngại - Lư sự vô ngại
Hiểu rỏ tánh chất "vô ngại" qua bốn
cách nh́n "pháp giới", người đạo
sĩ chợt nhận ra chân lư "Pháp giới nhất
chân". Sự là "sự" của "lư". Lư là
"lư" của "sự". SỰ LƯ VIÊN DUNG.
Bấy giờ nh́n thấy gậy đuổi cọp, bát
thu rồng, b́nh bát, tích trượng như nh́n thấy
Phật, Pháp và Tăng. Thấy được chân lư:
"Một là tất cả". "Tất cả là một".
Thế cho nên với người chứng đạo
những chứng tích "hữu vi", "sự
tướng" đó không ngoài "bản thể
nhất chân" th́ sao được gọi là HƯ
SỰ TR̀ ? Tuy nhiên, với
người chưa tỏ ngộ chân lư, ôm giữ b́nh bát
tích trượng, ba y, chánh gốc của Phật tổ
Như Lai, để mà "lễ bái" mà "cầu
nguyện" mà "van xin" mà "hy vọng", mà
trông nhờ "sự phù hộ" sự "cứu
rỗi" của Phật tổ th́ rơ là HƯ SỰ TR̀.
V́ sự chỉ là sự "hữu vi pháp" th́ của
ai cũng đều như huyễn, như hóa, như
sương mai, như điện nhoáng mà thôi. Bo bo ôm
giữ "sự tướng" là dẫm chân một
chỗ. Mà phải hiểu: "Sự
để đạt đến Lư *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: BẤt cẦu chân, bẤt
đoẠn vỌng Dịch nghĩa: *
Chân đạo sĩ chẳng cầu chân bỏ vọng *
Nhận thức rơ, "Như Lai chân thực
tướng" TRỰC
CHỈ
Giáo lư liễu nghĩa thượng thừa trong
đạo Phật, vấn đề CHÂN, VỌNG không là
vấn đề đáng được bàn căi đúng sai
chân vọng nữa.
"Tánh chân thực của pháp hữu vi là KHÔNG V́ duyên sanh Ví như huyễn Bản chất của pháp vô vi, không sanh
không diệt V́ không có thật Ví như hoa đốm trong hư
không"
Chỉ cái vọng, cốt hiển bày CHÂN. Không vọng
tự nó CHÂN. Không có CHÂN nào ngoài VỌNG. Vọng và chân
đều không tự tướng. Không tự
tướng đồng nghĩa với "không có
ǵ". Gọi là CÓ chỉ là sự hội tụ duyên sinh
c̣n ḥa hợp. Gọi là KHÔNG chỉ là sự phân tán
của duyên sinh tan ră. Người học
Phật khi nói CÓ phải ư thức, ḿnh đang nói có cái ǵ.
Lúc nói KHÔNG cũng phải ư thức, ḿnh đang nói KHÔNG cái
ǵ !
SẮC KHÔNG, KHÔNG SẮC là vấn đề
của người học đạo, hành đạo và
chứng đạo mới thấy rơ: "...Đạt giả đồng du
Niết bàn lộ..."
Đó không phải là vấn đề nên "thảo
luận" trong những buổi "tửu hậu trà
dư". Càng không được nói để chứng
minh rằng đó là sai hay đúng. Nếu cả
đời mà ta chưa gặp "đạt
giả" để "đồng du" th́
chỉ c̣n một cách "độc hành độc
bộ" mà thôi ! Rồi thỉnh thoảng chờ nghe
tiếng vọng trong không gian thủ thỉ: "Vui
th́ vui gượng kẻo là *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Tâm cẢNh minh, giám vô ngẠi Dịch nghĩa: Gương
tâm sáng, rơ soi không ngăn ngại TRỰC
CHỈ
Trong giáo lư Phật, đề cập TÂM là đi vào lănh
vực "chuyên", vào chiều sâu thăm thẳm
của tư duy và quán chiếu. Nói cách khác, người
học Phật muốn nhận thức về TÂM,
thưởng thức được hương vị
giải thoát của TÂM, công dụng tuyệt vời thánh
thiện của TÂM, người đạo sĩ phải
thực hiện THIỀN, phải vận dụng CHÁNH
QUÁN. Bởi v́ TÂM ở
trong đạo Phật nói có nhiều tên gọi. Mỗi
tên gọi, một công dụng, một giá trị lợi
hay bất lợi, "bạn" hay "thù", chỉ
người thực học, thực tu, mới hiểu
hết, hiểu kỹ từng công dụng của các
thứ TÂM: 1.
Nhục đoàn tâm 2.
Vọng tâm 3.
Chân tâm 4.
Thường trú chân tâm 5.
Như Lai Viên Giác Diệu tâm 6.
Duyên lự tâm 7.
Bát thức tâm 8.
Tích tụ tinh yếu tâm
Tâm có nhiều tên gọi như vậy, cho nên nghiên cứu
đạo Phật sơ sài, hời hợt mà bàn luận
về TÂM th́ khó mà quán triệt vấn đề. TÂM CẢNH MINH, chỉ
cho cái tâm được loại bỏ "vọng
tâm", loại bỏ "duyên lự tâm", những
thứ tâm nghĩ ngơị lăng xăng , tạp
nhạp, thứ tâm gây ra một nguyên nhân và hậu quả
khổ đau cho con người. TÂM CẢNH MINH là
NHƯ LAI VIÊN GIÁC DIỆU TÂM là THƯỜNG TRÚ CHÂN TÂM
của con người vốn có. Theo giáo lư đạo
Phật, đó là "bản thể" của vũ
trụ vạn hữu. Hiện tượng vạn
hữu là pháp "duyên sinh" từ tâm thể đó mà
ra: "Nhược nhơn dục liễu
tri
"Duy tâm tạo" là "tâm thể" bao hàm thu tóm
hết vạn tượng sum la, không c̣n vật nào
"ở trong", cái ǵ "ở ngoài" nữa.
Cũng như sóng ṃi, bọt bong bóng, không có cái gọi là "trong",
là "ngoài", v́ là cùng một duyên sanh trên mặt
b́ển bao la vô tận của nước đại
dương. *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Hoát đẠt không bát nhân quẢ Dịch nghĩa: *
Kẻ thiển trí, chủ trương: RỖNG TUẾCH *
Kẻ chấp CÓ bị khổ đau v́ CÓ TRỰC
CHỈ Chữ CHẤP ở
trong đạo Phật có ư nghĩa rất quan trọng.
Chấp đồng nghĩa như chữ "cho là".
Sự vật tôi "cho là" CÓ hoặc tôi "cho"
sự vật "là" KHÔNG. Cho là CÓ: CHẤP CÓ. Cho là
KHÔNG: CHẤP KHÔNG. Cho là KHÔNG NHÂN QUẢ: CHẤP KHÔNG NHÂN,
KHÔNG QUẢ. CHẤP thế gian là
có, chấp thế gian là không, đồng nghĩa với
"chấp thường", "chấp
đoạn", không hợp với chánh pháp. Cho vạn pháp thực
có, con người sẽ bị sa lầy, v́ đam mê
vạn pháp. V́ vạn pháp mà tạo nghiệp mà chiêu báo. Cho
vạn pháp là không, con người mất hết lư
tưởng để sống. Và nếu sống cũng
dễ mất hết lương tâm, lương tri, không
biết vấn đề thiện ác là ǵ. Cho rằng không
có nhân quả, cũng là hạng người rất
đáng sợ, v́ người ta không quan tâm, không
lượng định việc làm và hậu quả
của việc làm, nếu việc làm đó là 'bất
thiện nghiệp". Không CHẤP CÓ, v́ chán ư
niệm có, v́ ư niệm CHẤP CÓ gây ra nhiều nguyên nhân
đau khổ. Bấy giờ xoay lại nảy sanh ra ư
niệm CHẤP KHÔNG. CHẤP KHÔNG vẫn là một ư
niệm chấp sai lầm chân lư. Dính líu vào ư niệm
chấp có đă không đem lại an lạc hạnh phúc
được. Dính líu vào ư niệm chấp không, làm
sao có được sự an vui. Vả lại ở trên
cơi đời làm sao phủ định vạn pháp, làm sao
trốn chạy vạn pháp, khiến cho vạn pháp
trở thành KHÔNG, cho được ? Mà người học
đạo phải hướng về "Thật
tướng", phải chứng cho được
"Thật tướng" th́ mới khỏi
vướng hai bên. *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: XẢ vỌng tâm, thỦ chân lư Dịch nghĩa: Bỏ
tâm vọng. Vọng t́m không có TRỰC
CHỈ Hễ có ư niệm
LẤY, BỎ th́ cũng có các ư niệm tốt, xấu,
thương, ghét, thân, sơ, sang, hèn, phải, quấy, ta,
người....Đó là những ư niệm phát xuất
từ vô minh vọng động, khiến cho CHÂN TÂM thanh
tịnh vốn có của con người bị ẨN
mất. Ví như sóng ṃi, bọt bèo của nước
biển không thể hiện được tánh phẳng
lặng như tờ của biển. Theo giáo lư Bát Nhă Ba La
Mật, pháp sai lầm trái chân lư trừ bỏ đă
đành mà pháp gọi là chánh là đúng cũng phải
bỏ nốt. Một bàn tay cầm
nắm phải bùn đất, cần buông bỏ đă
đành, bàn tay cầm nắm kim cương, vàng ṛng th́ bàn
tay đó cũng bị "nắm cứng" v́ mớ
vàng ṛng và kim cương ấy. Bàn tay sẽ không dùng
được vào một việc ǵ khác, trong khi công
dụng của bàn tay có thể phát huy diệu dụng,
lợi ích vô cùng. Sai lầm của
THỦ, XẢ nó không đóng khung trong "thủ
xả" mà nó liên can lôi cuốn theo nhiều thứ khác.
V́ vậy, tác giả nói: "Thủ
xả chi tâm thành xảo ngụy..." *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: TỔn pháp tài, diỆt công
đỨc Dịch nghĩa: Công
đức giảm, pháp tài sa sút măi TRỰC
CHỈ
TÂM tức là đệ bát thức, cũng gọi "A
lại da", là "Dị thục" hay "Nhất
thiết chủng thức". Nó là tổng thể, hàm chứa
hết mọi thứ: cả SẮC, cả TÂM. Tên là
ĐỆ BÁT THỨC TÂM VƯƠNG, nhưng nó c̣n có cái
tên "Tàng". V́ vậy, nó không phải chỉ có
phần "tâm" mà nó hàm tàng cả "sắc". Ư: ở đây chỉ
cái công dụng chấp ngă tức là "đệ
thất thức". Ư làm "tổn pháp tài",
"diệt công đức" thuộc hàng đầu. THỨC: ở đây
chỉ cho "tiền lục thức", công dụng
tiếp thu, xuất nhập "lục cảnh":
sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Người
đạo sĩ, chừng nào chưa chuyển thức
thành trí, chưa làm chủ được bát thức tâm
vương, chưa tăng tiến bồi dưỡng
sức TRI KIẾN VÔ SINH th́ hăy c̣n bị sự phân
biệt, sự chấp nê, sự thị phi nhơn ngă tác
động hoành hành. Do vậy, mà "tổn pháp tài"
và "công đức" suy ṃn dần mất hết. Và
cũng do vậy, Thiền gia rất xem trọng cái TÂM.
Thiền gia chủ trương đối với TÂM
phải trực diện với nó, phải nh́n thẳng
vào mặt nó, và nhất cử nhất động của
nó Thiền gia phải thấy hết, biết hết. Biết
rơ từng nguyên nhân của ư nghĩ, biểu hiện
lời nói và hành động: Đă khởi, đang
khởi và sẽ khởi. Biết rơ cả hậu quả
của nguyên nhân, dù c̣n trong ư niệm. Con người
của ḿnh, ḿnh phải biết ḿnh là ai. TÂM ḿnh, ḿnh
phải "trực diện" với nó mọi nơi
mọi lúc.
Thiền gia gọi đó là cách tu: "Trực
chỉ nhân tâm" *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: ĐẠi trưỢng phu,
bỈnh tuỆ kiẾm Dịch nghĩa: Chuôi
kiếm tuệ, đại trượng phu nắm
lấy TRỰC
CHỈ
Tôn chỉ của đạo Phật, có TUỆ là có
tất cả. Quả VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ là
đỉnh cao tột của TUỆ. Quả VÔ
THƯỢNG NIẾT BÀN là diệu dụng của
TUỆ. Trong tam vô lậu học, GIỚI, ĐỊNH là
hạt, là cây, là cành, là lá mà TUỆ là hoa, là trái. Tu
GIỚI, tu ĐỊNH cốt để có
được TUỆ. Hiểu được chân lư
đó, người đệ tử Phật chân chính có
học Phật, tu hành không sợ lầm lạc. Tu
GIỚI, ĐỊNH phát sanh TUỆ GIÁC là tu đúng chánh
pháp. Gọi là GIỮ GIỚI, gọi là TỌA THIỀN
tốn công, khổ luyện, dù phải trải qua mấy
mươi năm, mà không sanh TRÍ TUỆ, không có khả
năng nhận thức chân lư, tư duy về chân lư,
đó là tu sai lầm. Nhọc mệt thân tâm, không đem
lợi ích luống uổng một đời.
Nói một cách khẳng định rằng, tu hành mà không
phát sanh TUỆ GIÁC th́ không nên theo pháp đó nữa, v́
đă sai lạc pháp tu, trồng phải một thứ cây
không có hoa trái th́ nên chặt bỏ nó đi.
"Đại trượng phu" là người
phải nắm cho được cái chuôi "kiếm
tuệ". Phải có khả năng sử dụng
"gươm" BÁT NHĂ KIM CANG để "tồi tà
phụ chánh", để đối phó ngoại đạo,
thiên ma, phải làm cho chúng vỡ mật, bay hồn,
khiến cho chúng "chích luân bất phản", tấn
công chúng "phiến giáp bất hoàn". Để
"sử tri Phật giáo ta bà chi hữu chủ" !
Dưới mắt của người chứng
đạo, người đệ tử Phật phải
bồi dưỡng trí tuệ, Đó là ư
nghĩa: DUY TUỆ
THỊ NGHIỆP *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
Phiên âm: ChẤn pháp lôi, kích pháp cỔ Dịch nghĩa: Vang
sấm pháp, gióng lên hồi trống pháp TRỰC
CHỈ Tu GIỚI,
ĐỊNH, TUỆ để hoàn thành tự giác
"Chấn pháp lôi", "Kích pháp cổ",
"Bố từ vân", "Sái cam lộ" là công
hạnh hoằng pháp để lợi lạc chúng sanh.
Đó là "tha giác". Đủ hai hạnh "tự
giác", "tha giác" gọi đó là "Giác hạnh
viên măn" là thành bậc Vô Thượng Chánh Giác, thành
Phật. Đó là điểm cao tột, cần
đạt đến của một tu sĩ Phật giáo. Người có trí
tuệ, có đạo đức, có được sự
giác ngộ giải thoát hơn người thường.
Kinh điển ví hạng người đó là "Long
tượng" sức mạnh hơn "Hương
tượng"... Là một tu sĩ,
trưởng tử Phật, phải học chánh pháp, hành
chánh pháp, sống theo chánh pháp, và truyền bá chánh pháp.
Được vậy, xứng danh một Thích tử,
"tác Như Lai sứ", "hành Như Lai
sự", đóng vai tṛ Long tượng, khai rừng,
xẻ lối cho chúng sanh, vượt qua rừng vô minh
tối tăm nguy hiểm. *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: TuyẾt sơn ph́ nỊ cánh vô tẠp Dịch nghĩa: *
Vùng núi tuyết cỏ ph́ tươi tốt *
Trong một tánh, bao hàm hết thảy tánh TRỰC
CHỈ Chủng tánh
Đại thừa, nh́n vạn pháp qua tư tưởng
liễu nghĩa thượng thừa, hành giả sử
dụng "tuệ nhăn", họ thấy rất rơ chân
lư: "một" là "tất cả". "Tất
cả" là "một". Người chưa có
cơ hội nghiên cứu, tu học Đại thừa
nghe qua, họ không tiếp thu dễ dàng được,
c̣n nói chi bằng ḷng chấp nhận. Muốn t́m hiểu
vấn đề "một" là "tất cả"
nầy, trước hết nghiên cứu về chân lư:
"vạn pháp duyên sinh" của Phật giáo. "Duyên
sinh" nghĩa là vạn pháp không pháp nào đơn
độc tự sinh, mà một sự vật nào đó,
đều phải kết hợp nhiều yếu tố
và điều kiện....Bông hồng không thể tự
dưng có ra bông hồng. Trái táo không tự dưng có ra trái
táo....Trong trái táo có đất, có nước, có phân xanh, có
NPK, có UG, có "bồ tạt"...có cả mây đen, ánh
nắng, cả mặt trời và c̣n có h́nh bóng con
người nữa chứ ! Giáo lư MỘT là TẤT
CẢ, phải thấy bằng TUỆ NHĂN với một
THIỀN TÂM. Không có THIỀN TÂM, không có TUỆ NHĂN sẽ
không thấy được sự nhiệm mầu
của vạn pháp, của đất trời mà ta đang
sinh hoạt. Vấn đề Pháp
thân chư Phật vào trong tâm tánh ta. Tâm tánh ta và Pháp thân
cũng vậy. Trong ta có Phật. Trong Phật có ta. Khi ta
mê th́ ta là ta, ta không là Phật. Lúc ta không c̣n mê, ta đă GIÁC
th́ ta là Phật, ta không c̣n là chúng sanh mê muôi, tội lỗi
nữa. Bởi v́ Phật xưa kia, khi c̣n mê mờ chân lư
th́ vẫn là một con người, một chúng sanh. Khi
chúng sanh GIÁC, tỉnh thức th́ không c̣n là chúng sanh nữa
mà là Phật. Thế cho nên: "Nhất
tánh viên thông nhất thiết tánh"
Tánh Phật và tánh chúng sanh không có ranh giới riêng khác, mà
chỉ khác ở điểm MÊ và GIÁC. *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: NhẤt đỊa cỤ túc
nhẤt thiẾt đỊa Dịch nghĩa: *
Đất một cơi cùng với đất hằng hà sa
cơi *
Danh văn cú...vốn là danh ngôn giả đặt TRỰC
CHỈ ĐỊA có nghĩa
là cơi, là cảnh giới. Cảnh giới có loại
cảnh giới vật chất, cụ thể như
những hành tinh thiên thể mà các nhà thiên văn học
đang khám phá, đang t́m hiểu về sự cấu
tạo h́nh thành. Cảnh giới nào có thể có sự
sống, cảnh giới nào không...Theo giáo lư Phật
dạy, cảnh giới vật chất cụ thể này
nhiều lắm, phải dùng thứ ngôn từ
vượt ngoài tính đếm để nói: "Hằng
hà sa số". Hằng hà sa số đă nhiều vô
lượng vô biên A tăng kỳ thế giới......Cái
từ nghe như sâu xa hun hút và ngộp thở ấy, nó
nhiều biết chừng nào ! Vậy mà, qua cái
thấy của người chứng đạo th́
tất cả cơi hay cảnh giới đó, gộp lại
trong một từ PHÁP GIỚI. Rồi qua sự quán
chiếu và tư duy, người chứng đạo
đánh giá: NHẤT CHÂN. PHÁP
GIỚI NHẤT CHÂN
Nghĩa là pháp giới cùng chung một bản thể là
CHÂN là NHƯ. Không cảnh giới nào ngoài cảnh giới
nào, không cảnh giới nào tốt hơn, quư hơn,
sướng hơn cảnh giới nào. V́ tất cả
đều CHÂN NHƯ, cùng một chất lượng CHÂN
NHƯ giống nhau. Do vậy, dưới con mắt
tuệ của người chứng đạo: "Nhất
địa cụ túc nhất thiết địa".
Ngoài "cảnh giới" hay "cơi" cụ
thể vật chất ấy, c̣n một thứ
"cảnh giới" một thứ cơi ḷng, cái thứ
"cơi ở ḷng" nầy nó tác động vào trực
tiếp vào cuộc sống của con người. Đây
mới là cảnh giới đáng kinh sợ, đáng quan
tâm để tu học. Phật TÂM của ta vốn trong
sáng, thanh tịnh vốn có, tự thể của Tâm là
thể thanh tịnh, trong sáng. Nó là NHẤT CHÂN. Nó không có
sầu muộn, ưu tư, khổ vui...ǵ ǵ cả.
Thế, nó cũng là một thứ: PHÁP
GIỚI NHẤT CHÂN
Vậy mà thực tế, có lúc ta vui, lúc buồn, lúc tham,
lúc si, lúc không c̣n muốn sống, thậm chí có
người quyên sinh thật.
Thế vui khổ do con người. Ta bà hay Cực
lạc do con người. Cảnh giới thanh
tịnh an lành đáng sống hay ô trọc khổ đau
không muốn nh́n thấy cơi đời...cũng do con
người. TÂM con người th́ TÂM ai cũng như TÂM
ai, đều là CHÂN NHƯ và cùng một bản thể
NHẤT CHÂN PHÁP GIỚI ở ḷng ta đó chứ ! Thế
là dưới mắt của THIỀN GIA, của
người chứng đạo. Pháp giới ngoại
cảnh hay pháp giới nội tâm đều là: NHẤT
CHÂN PHÁP GIỚI *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: BẤt khẢ huỶ, bẤt
khẢ tán Dịch nghĩa: Tâm
TĨNH ĐỊNH, có an lành ngay tại chỗ TRỰC
CHỈ Người thực
học, thực tu và chứng đạo thực. Họ
có sự an lành giải thoát thực mà người
thường khó biết. Kinh điển Phật gọi
đó là: "Bất tư ngh́ giải thoát pháp môn".
Họ giải thoát và an lành ngay trong lúc nói, nín,
động, tĩnh, ngay khi đi, đứng, ngồi,
nằm. Kinh điển Phật gọi qua cái từ:
"Bất ly ư đương xứ". Trạng thái an lành
giải thoát đó, là sự biểu hiện của
một con người, một THIỀN GIẢ, một
tâm hồn đạt đến tŕnh độ NHƯ
NHƯ BẤT ĐỘNG, trước ngoại cảnh
khen, chê, lợi, suy, hủy, dự.... Yếu tố khiến
cho hành giả đạt đến cảnh giới
như như bất động ở nội tâm, là
phải tư duy, quán chiếu, thấy cho được
TÂM THỂ. Tâm thể vốn rỗng rang, thanh tịnh,
trong sáng như hư không. Hư không không phải là sự
sự vật vật, nhưng hư không không chống
cự sự phát huy sinh trưởng của sự
vật. Sự vật dù sinh trưởng phát huy trong
hư không nhưng hư không vĩnh viễn là hư không
thanh tịnh. Dữ kiện và
yếu tố tư duy quán chiếu đó, khiến cho hành
giả có được sự tự tại an nhiên: "Bất
khả huỷ, bất khả tán" Hành
giả có được cái an vui "bất ly
đương xứ" *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: ThỦ bẤt đẮc, xẢ
bẤt đẮc Dịch nghĩa: Bỏ
không được, lấy lại càng không
được, TRỰC
CHỈ
ĐƯỢC, MẤT, LẤY, BỎ, THÀNH, BẠI, THÂN,
SƠ...là biểu hiện của tâm chấp ngă và chấp
pháp, của phiền năo, của vô minh. Chúng là nguyên nhân sanh
ra vô vàn đau khổ. Một người hành đạo
giải thoát, luôn luôn cảnh giác hóa giải nó từ ư
niệm ban đầu. Ở đây tác giả
Chứng Đạo Ca Huyền Giác nhắc nhở một
điều đơn giản: Không nên ĐƯỢC
một thứ ĐƯỢC nào. Mà nên
"Được cái KHÔNG ĐƯỢC". Bởi v́
cái chân lư "vạn pháp duyên sanh" chi phối hết
cả rồi, có pháp nào thật đâu để mà
LẤY mà BỎ. V́ vậy, có muốn LẤY, cũng
chẳng có ǵ để lấy. Có muốn BỎ, cũng
chẳng có ǵ để bỏ. Chỉ c̣n một con
đường tỉnh thức của những kẻ
chân tu: "KHÔNG ĐƯỢC ấy,
là cái ĐƯỢC của kẻ chân tu" Mong được
Bồ đề, Niết bàn c̣n không nên, huống chi mong
được cái ǵ khác. V́ Bồ đề, Niết bàn
không phải đối tượng sở đắc. V́
rằng Bồ đề, Niết bàn là "không
hư", nhưng cũng không là "thực pháp". Vào
vườn hoa, chỉ chăm chú nh́n một đóa hoa,
người đó sẽ không thưởng thức
được cái đẹp, thơm của cả
vườn bông hoa thơm đẹp. Chỉ có người
không được ǵ hết, mới là người
được tất cả, tất cả những ǵ
trong vũ trụ bao la vô tận. *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: MẶc thỜi thuyẾt,
thuyẾt thỜi mẶc Dịch nghĩa: *
Khi im lặng, mấy kẻ biết: đó là đang nói *
Có người hỏi: Cho biết pháp môn tu chứng TRỰC CHỈ Thiền sư im
lặng nhiều, nói ít. Im lặng cả lúc đi,
đứng, ngồi, nằm. Sự thật, thấy
vậy mà không phải vậy. Thiền sư là người
nói rất nhiều, nói nhiều hơn người
thường có thể hàng vạn lần hơn. Bởi
v́ lục căn của một thiền sư rất bén
nhạy trong việc thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc...V́
vậy, Tâm ư của thiền sư là một cơ quan
tiếp thu, phân tích, nhận thức và đánh giá vô số
vấn đề bởi lục căn đưa vào.
Thuật ngữ gọi đó là "tư duy",
"quán chiếu". Cho nên im lặng, thật sự nói
rất nhiều. Nói bằng DIỆU ÂM, QUÁN THẾ ÂM, nói
bằng PHẠM ÂM, và HẢI TRIỀU ÂM. Ngược lại, có
lúc người ta thấy thiền sư nói nhiều, nói
thoải mái, kể cả cười "kha khả"
vang cả vườn rừng. Sự thật, trong
thời điểm đó, Thiền sư chả nói ǵ.
Chỉ v́ muốn cho đẹp ḷng mọi người mà
nói, mà cười. Nói cười mà ḷng thường chua
xót, v́ đă nói, đă chỉ bày cho chúng sanh những
thứ không đáng giá, không đúng ư mà ḿnh muốn
tặng cho mọi người về chánh pháp của
Như Lai. Đó là nói rất
nhiều, mà như không có nói ǵ. Thành tựu, thâm nhập
cái "lực" của Bát Nhă Ba La Mật, con
người có "sức" trí tuệ vượt
hơn và khác hẳn hơn với lối hiểu biết
qua những khuôn sáo, nghi lễ, cố chấp tầm
thường. Do vậy, người thường khó
nhận thức đúng việc nói việc làm của
người thể nhập "Ma ha Bát nhă". Cái
đúng của Thiền sư, người thường
nh́n hành động của Thiền sư, có việc
thấy đúng, có việc thấy như sai. Có khi
thấy thuận, có lúc thấy trái...tại v́
người thường chưa rời chấp. Chấp về
"tập tục", chấp về "lễ
nghi", chấp về "danh ngôn"...Đúng với ư
"chấp" của họ cho THỊ là THUẬN. Trái
với ư "chấp" của họ th́ họ bảo
PHI là NGHỊCH. Cho nên, Thiền sư phải là
người: "Hoặc
THỊ hoặc PHI nhân bất thức *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: KiẾn pháp tràng lẬp tông
chỈ Dịch nghĩa: *
Dựng cờ pháp, lập ra tông chỉ *
Khi chánh pháp truyền sang Đông Độ TRỰC
CHỈ "NIÊM
HOA ĐỐN NGỘ THỪA ĐƯƠNG LINH THỨU
CHẤN TÔNG PHONG Y
BÁT CHÂN TRUYỀN VĨNH KẾ HUỲNH MAI
HƯNG ĐẠI ĐẠO"
Đọc hai câu đối trên gợi trong trí độc
giả về truyền thừa chánh pháp của
đức Phật qua hai giai đoạn lịch sử
ở hai quốc gia: Ấn Độ và Trung Hoa. "Pháp
bổn vô pháp pháp
Đó là lời phó chúc của Phật truyền bảo cho
ông Ca Diếp về "cách nh́n vạn pháp" trong
suốt quá tŕnh tu tập. Thế là ông Ca Diếp lănh
sứ mệnh "tục diệm truyền
đăng" để rồi người đời
sau gọi ông là SƠ TỔ truyền thừa chánh pháp
ở Ấn Độ. Người ta gọi ông Ca
Diếp là "sơ tổ" phái "thiền tông"
là nói sai rồi, đừng có nghe mà phải học: "Đệ
nhất Ca Diếp thủ truyền đăng
Hai mươi tám đời tiếp tục hoằng
truyền chánh pháp ở Ấn Độ thời đó.
Danh sách dưới đây: 1.
Tổ Ma Ha ca Diếp
Kinh sách Phật thường gộp chung trong một
từ Hán, nói theo toán học là "Tây thiên tứ
thất". Sau đây, ta t́m hiểu về "Đông
độ nhị tam" qua thi ca: "Pháp
đông lưu nhập thử độ
Khi Phật pháp sang Đông độ, tức Trung Hoa, th́
Bồ Đề Đạt Ma là người đem chánh
pháp của đức Phật đầu tiên truyền bá
ở Trung Hoa. Người sau gọi Bồ Đề
Đạt Ma là "Sơ Tổ". Tiếp theo là
"Lục đại truyền y", nghĩa là sáu
đời tiếp theo vẫn c̣n giữ cái truyền
thống truyền trao y bát để làm "chứng
tín" cho vai tṛ và nhiệm vụ kế thừa cho
đến đời sau là Lục Tổ Huệ Năng. Dưới
đây là danh sách "Lục đại truyền y": 1.
Tổ Bồ Đề Đạt Ma *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Chân bẤt lẬp vỌng bỔn
không Dịch nghĩa: *
Chân không thực, lấy chân đâu để lập ? *
Mười sáu món (1), gọi là KHÔNG, không dính dáng GHI
CHÚ: 1.
Nội không TRỰC CHỈ Bước vào
đạo Phật, học đạo, hành đạo,
người ta thường quan tâm về CÓ, KHÔNG, TỘI,
PHƯỚC, THIỆN, ÁC và cao hơn một bậc là
vấn đề CHÂN VỌNG. Người ta
hướng về những ǵ gọi là CHÂN và mong mỏi
t́m cầu CHÂN, tha thiết muốn CHỨNG
được cái gọi là CHÂN ấy. Đă thích CHÂN th́
người ta cũng rất sợ VỌNG. Họ
bảo rằng: "Tu hành phải tĩnh tâm, quán
chiếu tâm thường xuyên để mà DIỆT
VỌNG. Chừng nào DIỆT HẾT VỌNG th́
được CHÂN và sẽ chứng nhập CẢNH
GIỚI CHÂN NHƯ...có được Niết bàn !" Lư lẽ đó,
người học Phật chưa sâu, khó t́m thấy
chỗ "phi chân lư". Cho nên có thể có rất
nhiều người thích nghe thứ giáo lư "thùng
rỗng kêu to" như vậy. Qua cái thấy
của người chứng đạo: CHÂN không thực,
lấy CHÂN đâu để lập ? CHÂN không tự thể,
lấy ǵ để LẬP cái gọi là CHÂN ? Đối
với VỌNG th́: "VỌNG
không CHÂN, t́m VỌNG ở nơi nao ? VỌNG không CHÂN
nghĩa là tự nó không có thực thể th́ lấy ǵ
để DIỆT ? Thấy
được vấn đề VỌNG CHÂN không tự
thể, hành giả sẽ "rảnh" hết
những ư niệm TRỪ và DIỆT. Ư niệm CẦU và
CHỨNG hành giả trở thành "nhàn đạo
nhân". Vấn đề CÓ,
KHÔNG cũng vậy. CÓ là CÓ cái ǵ ? KHÔNG là KHÔNG cái ǵ ?
Người chứng đạo không hề phủ
nhận sự hiện diện của vạn pháp mà
cũng không khẳng định vạn pháp là CÓ theo
kiểu thấy thông thường. Người chứng
đạo xóa sạch hết ư niệm CÓ, KHÔNG. V́ CÓ, không
tự thể đó là CÓ mà không. KHÔNG, không tự thể
nhưng không phải vĩnh viễn KHÔNG như sừng
thỏ lông rùa. Hiểu chân lư đó hành giả không c̣n quan
tâm vấn đề CÓ và KHÔNG. HỮU VÔ CÂU KHIỂN
BẤT KHÔNG KHÔNG Người
đạt đạo không những không vướng
mắc vào một thứ không mà hai không, ba không... cho
đến mười lăm không, mười sáu…thứ
không cũng đều không vướng mắc. Tất
cả chư Như Lai thành tựu quả vị của
ḿnh cũng từ sự thể nhập chân lư thanh
tịnh rỗng rang vô trụ vô trước ấy. *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Tâm thỊ căn, pháp thỊ
trẦn Dịch nghĩa: *
Tâm chủ động, nảy sinh nhiều thọ
tưởng *
Căn TRẦN ấy, chỉ là thứ bụi mờ trên
kính TRỰC
CHỈ CĂN có sáu: Nhăn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ư. Đó là cơ quan
để cho sáu thức tâm vương biểu hiện
thông qua sáu căn ấy. TÂM được
biểu hiện ra sáu công dụng: Đó là tánh thấy,
nghe, ngửi, nếm, xúc và biết. THỨC tâm Y căn mà
biểu hiện. Căn là chỗ sở y của thức
tâm, cho nên TÂM không ngoài sáu căn. Sáu căn không ngoài TÂM: TÂM
là CĂN vậy. PHÁP tóm chung có sáu
dạng, đó là: sắc, thanh, hương, vị, xúc và
pháp. Sáu món nầy đại biểu cho tất cả
hiện tượng vạn hữu trước mắt
ta. Tánh của chúng vốn không nhiễm ô, nhưng v́ chúng
mà sáu căn của con người có thể nhiễm ô cho
nên gọi chúng là TRẦN. TRẦN không ngoài các
pháp, các pháp là những dữ kiện sanh ra TRẦN. PHÁP là
TRẦN vậy. CĂN và TRẦN
vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả sanh khởi
phiền năo vô minh. Nguồn gốc của mọi nguyên
nhân đau khổ. Nhưng truy nguyên, chúng chỉ là một
thứ "huyễn hư" không tự tánh. Đối
với tâm tánh trong sáng, rỗng rang thanh tịnh của con
người, chúng chỉ là thứ bụi bặm phủ
trên thể gương sáng mà thôi. Bụi lau rồi th́
thể sáng tự khắc hiện ra. TÂM con người, theo
giáo lư Phật, từ xưa đến nay thể của
nó vốn trong sáng rỗng rang thanh tịnh. Cảnh bên
ngoài, sắc, thanh, hương, vị, xúc...tánh của
chúng vốn lặng lẽ và vô t́nh, nào có gây nguyên nhân
đau khổ cho ai ! Hành giả hồi quang phản
chiếu nhận lấy TÂM KHÔNG vốn có, nhận
biết CẢNH TỊCH vốn vậy, hành giả sẽ
viễn ly được vọng tâm đắm nhiễm
sai lầm chân lư trong cuộc sống hằng ngày. Bấy
giờ hành giả sẽ sống trong "chân tâm thường
trú", sống trong "thể tánh tịnh minh"
vốn có của ḿnh.
"TÂM PHÁP song vong tánh tức chân"
Và hành giả với tâm trạng an nhiên thanh thoát ngâm nga: "..Căn
TRẦN ấy, chỉ là thứ bụi mờ trên kính *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Ta mẠt pháp ! Ác thỜi thẾ ! Dịch nghĩa: Ôi
mạt pháp, cơi đời nhiều trược ác Nghĩ
chánh pháp của Như Lai Đốn Giáo TRỰC
CHỈ Phật pháp là CHÁNH PHÁP.
Chánh pháp vô thỉ dĩ chí vô chung, không có MẠT ǵ cả.
Cũng như LỬA vô thỉ đến nay đă nóng,
đang nóng, dĩ chí vô chung LỬA sẽ măi măi là nóng. Khái
niệm "mạt pháp" thuộc khái niệm nhận
thức của tâm linh. Văn nhi tư, tư nhi tu một
cách tinh tấn dũng mănh đem lại hiệu quả
như ư một trăm phần trăm, gọi đó là "thời
kỳ chánh pháp". Nghe mà không suy nghĩ, nghe hời
hợt, qua loa chiếu lệ, tin càn, mù quáng, có tu mà ít có
người đạt đạo. Người ta gọi
là "tượng pháp". Chữ tượng có
nghĩa là "na ná" giống như tu dữ lắm,
nhưng v́ tu sai chánh pháp cho nên không đem lại kết
quả. "Mạt" là ngọn, là sự cuối mùa,
gió vẫn c̣n lai rai, nhưng không sập nhà
được nữa. Sầu riêng c̣n bán, nhưng sượng
ngắt chẳng ra ǵ... Sự tu hành
của những tâm trạng lơ mơ, có h́nh thức,
thân, khẩu, ư chẳng tu sửa, chẳng trau dồi, trí
tuệ chẳng mở mang. Ở chùa chỉ làm cái
việc thỉnh chuông ngày hai buổi, kinh kệ ê a rên
rĩ vài lần. "Đạo nghiệp bất cần,
công quả vô nhân khắc tựu". Tóm lại, Pháp
ở nội tâm của người "mạt", không
phải chánh pháp của Phật có "mạt". Chánh pháp trong ḷng
"mạt" th́ ta sẽ là người ở trong
"cơi đời nhiều trược ác", nghĩa là
ta sẽ không có được sự an lành, thanh thoát,
tự tại trong cuộc sống, gọi đó là "ác
thời thế". MA ở ḷng ta "cường",
Phật pháp ở ḷng ta "nhược". Ta không
thương nhớ Phật, không tỉnh thức, trí
tuệ bị vùi lấp bởi vô minh, cho nên sự
hiểu biết sai quấy, mê tín dị đoan, duy tâm siêu
h́nh...gọi chung là "tà kiến" ở ḷng ta ngày càng
sâu nặng, nó làm cho tâm hồn, cuộc sống của ta
quá nhiều phiền muộn khổ đau. Khi t́nh cờ nghe
đọc, nhớ chánh pháp Như Lai về
"Đốn Giáo" bừng tỉnh ra, th́ ta nhận
ra rằng: Từ lâu nay, cuộc sống của ḿnh bị
vô minh tà kiến dẫn dắt đi "lầm
đường". Giờ này tỉnh ngộ, dơng
dạc, đường hoàng thốt: "Nghe chánh pháp của Như Lai về
Đốn Giáo *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Tác TẠi tâm, ương tẠi
thân Dịch nghĩa: Dấy
khởi niệm, dữ lành TÂM chủ động TRỰC
CHỈ Đạo Phật chú
trọng TÂM, Ư, THỨC. Tâm, ư thức gọi có ba tên khác
nhau là tùy theo diệu dụng biểu hiện ở môi
trường, ở vị trí và hoàn cảnh khác nhau mà TÂM
là then chốt. TÂM là chủ động cho mọi hành vi và
ngôn ngữ biểu lộ trong cuộc sống hằng
ngày. Không ai thấy được TÂM, nhưng
người ta có thể biết được tâm
của ḿnh, kể cả tâm của người khác. TÂM có thể xây
dựng cho con người những quả phúc an lành.
Trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát thậm chí
địa vị Như Lai Vô Thượng Bồ Đề.
Ngược lại, Tâm cũng tạo cho con
người quả khổ gớm ghê như: địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh mà con người mang
chịu ngay trong cuộc sống trên cơi đời
nầy. "Tác tại tâm, ương
tại thân" Dấy khởi
niệm dữ lành tâm là chủ. Nghiệp thiện, ác
hiện hành ra thân miệng. Nếu hậu quả là
xấu, tội lỗi th́ thân mang chịu khổ đau.
Với chân lư nhân quả trong đạo Phật, hành
động thiện hay ác của ḿnh làm, ḿnh thọ
lấy hậu quả khổ hay vui, không ai, cũng không do
sự oan khiên thù hận của ai đó đem gán ép cho ta
được, dù đó là của "thần linh, thánh
hiền" của những tâm hồn nhẹ dạ
cả tin. Dựa trên chân lư NHÂN
QUẢ, mọi người có thể xây dựng cho ḿnh
một thế giới an vui, hạnh phúc, tự tại,
khinh an, giải thoát, giác ngộ, Niết bàn tịnh
lạc...Muốn làm được việc đó
đừng phỉ báng chánh pháp của Như Lai mà
phải học chánh pháp, hành theo chánh pháp và phải
sống theo chánh pháp ngay bằng với giáo lư của
THỪA mà ḿnh tu học hành tŕ. Giáo lư Phật có
"ngũ thừa", như năm công ty du lịch sẵn
sàng đón đưa khách gần xa, tùy số tiền và ư
muốn của khách hàng mua vé đi du lịch vậy. Thiện,
ác do tâm. Vui khổ do tâm.... "Chớ trách ai, đừng
đổ lỗi oan khiên nào ! Nghiệp vô gián, muốn tránh xa hăy tu
học Như Lai chánh pháp" *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Chiên đàn lâm vô tẠp thỌ Dịch nghĩa: Rừng
cây quí thuần chiên đàn không tạp TRỰC
CHỈ Người có ư
chí, quyết đi con đường giải thoát, giác
ngộ, tự lập chí, tạo cho ḿnh một hoàn
cảnh sống, một thú vui riêng, một môi
trường tiêu khiển và giải trí không giống
với cách tổ chức, cách sinh hoạt của
những bậc phong lưu, những hàng quí phái giàu sang
trong xă hội. Tác giả
Chứng Đạo Ca phác họa cách tự vui của
ḿnh: Vui với cảnh thâm u, tịch mịch, vui với
cây cỏ núi rừng, quạnh quẽ cô liêu. Rồi
người tu sĩ rảo bước theo mé suối chân
rừng, khi nh́n cảnh chiều tà ác vàng vừa khuất
núi, lúc thưởng thức trăng thanh gió mát, khi
thiền định dưới cội tùng xanh, lúc quán
chiếu sự mầu nhiệm về chân lư duyên sinh
của vạn tượng sum la muôn hồng ngh́n tía. Người tu
sĩ không có th́ giờ nhiều trong việc thù tạc
văng lai, tiếp nhân sử sự và thường tự
nhủ: "...Thường
độc hành, thường độc bộ..."
Người tu sĩ đâu có dễ t́m "Đạt
giả để đồng du....", thôi th́: "Điệu
cổ thần thanh.... *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Sư tỬ nhi chúng tùy hẬu Dịch nghĩa: Giống
sư tử, sinh ra con, ṇi sư tử TRỰC
CHỈ Sư tử con vẫn
là giống ṇi sư tử, ba năm tuổi đă
biết gầm. Sư tử mà gầm th́ rung chuyển
cả núi rừng, vang dội khắp hang sâu động
hiểm. Chó hoang, chó chóc dù
có lớn tuổi gấp năm, gấp bảy lần
sư tử đi nữa, chó chóc vẫn là chó chóc. Dù chó
chóc sủa suốt trăm năm, sủa vua, sủa
đấng Giác ngộ, sủa Phật vẫn là tiếng
chó chóc, sủa chẳng có chút giá trị nào mà c̣n chói tai
những ai nghe chúng sủa. Tác giả
Chứng Đạo Ca vạch ra rằng: Giá trị
của chánh pháp vô cùng vĩ đại. Chánh pháp đánh
thức những ai c̣n mê mộng, ch́m đắm trong sông
ái biển mê. Chánh pháp réo gọi những khách phong trần
đang say mê lợi danh vật dục. Chánh pháp phá tan
những tà thuyết mê tín dị đoan, hoang
đường, ảo tưởng của những tâm
hồn yếu đuối, nhẹ dạ cả tin.Chánh
pháp là ngọn đuốc sáng hướng dẫn cho ai
đă lạc lối lầm đường, có
điểm tựa để quay trở lại con
đường quang minh chánh đại. Kinh điển
Phật thường ví chánh pháp của Phật nói như
tiếng gầm của sư tử. "...Ba tuổi
năm, gầm rung chuyển núi rừng xanh..." Những tà giáo, phi
chánh pháp dù có tuyên truyền rao giảng trải nhiều
tháng năm, tốn nhiều công đức cũng không
đem lại lợi ích cho ai. Tệ hơn nữa,
những tà giáo ấy nhuộm bẩn tâm hồn trong
trắng của những người có tâm lành, có ḷng tin,
lẽ ra phải trong sáng. Chó dù sủa vua,
vẫn là tiếng chó sủa. Suốt trăm năm
cũng vẫn là tiếng "gâu gâu" của chó chóc,
không v́ sủa lâu năm mà tiếng chó chóc tăng thêm giá trị. "...Bầy
chó hoang, vờn theo gót đấng Pháp vương *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Viên ĐỐn giáo vẬt nhân t́nh Dịch nghĩa: Pháp
Viên Đốn, thuyết phải là trực thuyết TRỰC
CHỈ Giáo lư của
đạo Phật có nhiều tư tưởng hệ:
Thông giáo, biệt giáo, đốn giáo, viên giáo....Có hệ
giáo lư khế cơ không khế lư. Có hệ giáo lư khế
lư không khế cơ. Người thuyết pháp phải
biết vận dụng "tứ tất đàn". Lúc
nào vận dụng "thế giới tất đàn".
Lúc nào chỉ phải nói "đệ nhất nghĩa
tất đàn" mà không được vận
dụng... Người nói
pháp "đủ bản lănh" ứng cơ tiếp
vật. Người nghe pháp cũng phải thành thật
mà nghe và phản quán, tự đặt ḿnh thuộc
đối tượng nào ? Thừa nào trong ngũ
thừa ? Giáo nào trong ngũ giáo ? Chủng tánh nào trong
ngũ chủng tánh ? Khi thuyết
về Đốn Giáo, pháp sư không nên vận dụng,
hạ thấp thành giáo lư "khế cơ" để
đáp ứng cho số đông người. Giáo lư
Đốn Giáo dành cho người "Đại
thừa", có chủng tánh Đại thừa nghe và tu
học lợi ích rất lớn. Tuy nhiên, pháp sư có
thể bị công kích, phản đối, thậm chí
hủy báng...Nếu gặp trường hợp như
thế, th́ pháp sư hăy "mời để thảo
luận trao đổi" hy vọng cởi mở
mối nghi của riêng ai đó. Phần Pháp sư phải
giữ lập trường: "Viên Đốn giáo vật nhân
t́nh"
Có lẽ tác giả Chứng Đạo Ca cũng đă
nếm mùi cay đắng trong những tháng năm
"tiếp nhân xử sự" trong quá tŕnh hành
đạo thuyết pháp rồi. "Bất
thị sơn tăng sính nhân ngă
Quả là lời thiết tha như khẩn khoản và
"xuống nước" v́ sự nói thẳng về
pháp Viên Đốn của ḿnh. Tác giả Chứng
Đạo Ca nói rằng ḿnh rất sợ sự tự
cao, ngă mạn, v́ hành động đó dễ rớt vào
Chấp Thường Đoạn. Điều mà tác
giả không dám làm và không bao giờ làm ! *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: ThỊ bẤt thỊ, phi bẤt
phi Dịch nghĩa: *
Gọi là THỊ, không tướng mạo lấy chi làm
chuẩn ! *
Dựa nhân quả, quyết định SAI hay ĐÚNG TRỰC
CHỈ THỊ có nghĩa là
đúng phải. PHI có nghĩa là sai, quấy. Có thể nói
THỊ, PHI là vấn đề chót lưỡi đầu
môi của mọi người trong cuộc sống
hằng ngày. Tất cả mọi người đều
có thể tưởng rằng vấn đề THỊ
PHI là việc tầm thường cho nên ai cũng có
quyền nói THỊ hoặc nói PHI. Ai cũng có quyền
khen tặng hay phê phán kẻ khác một cách dễ dàng.
Người được khen tặng, tâng bốc
rất dễ bằng ḷng, đắc chí. Người
bị phê phán, chê bai rất dễ thối chí năn ḷng
thậm chí đâm hoang mang, sợ sệt. Dưới mắt
của người Chứng Đạo, không phải
vậy. Được khen hay bị chê đều
phải cân nhắc, phải sử dụng lư trí, nhận
xét khách quan vấn đề. KHEN, ai khen? CHÊ ai chê ?
Người khen là hạng người nào? Người
chê là hạng người nào ? Dựa trên tiêu chuẩn nào
để khen, để chê, để nói đúng, nói sai.
Sự thật, THỊ và PHI không ai t́m ra được
h́nh mạo, dáng vẻ của thị phi. Vậy th́
vấn đề thị phi không phải dễ đánh
giá, dễ nói trên đầu môi chót lưỡi mà
người ta tưởng là ai cũng có thể nói phê
phán ĐÚNG, SAI dễ dàng. Cái thấy của
người Chứng Đạo: THỊ PHI không có dáng
vẻ h́nh mạo, nó không có cái "tướng
thực" cho nên trên cơi đời không có nhiều
người đủ tư cách, có trí tuệ, chân chính,
sự xét đoán mới đáng tin cậy. Cao hơn một
bậc, người tu sĩ phải dựa trên chân lư NHÂN
QUẢ để làm chuẩn đo THỊ và PHI. Lời
nói, việc làm đem lại hậu quả lợi
lạc thật sự, an ổn thật sự, hạnh
phúc thật sự và giải thoát thật sự. Lời
nói việc làm đó là THỊ. Ngược lại, dù có
tán thán, có tâng bốc qua cửa miệng của đa
số người cùng bào chuốt, ngợi khen,
dưới cái thấy của người chứng
đạo, đó vẫn là PHI. “...
THỊ tắc Long nữ đốn thành Phật *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Ngô tẢo niên lai tích hỌc
vẤn Dịch nghĩa: *
Trong quá khứ, tôi mang danh nghe nhiều học rộng *
Vào kho bạc đếm không công vô ích TRỰC
CHỈ Văn nhi tư, tư
nhi tu là tiến tŕnh, một hệ thống học tu trong
đạo Phật. Thông thường, giáo lư kinh
điển Phật dạy: Tu phải học. Học cho
hiểu chân lư, để phân biệt đâu tà, đâu
chánh, đâu chân, đâu ngụy, thế nào là Đại,
thế nào là Tiểu, thế nào là Thiên, thế nào là Viên.
Cho nên người ta ví: Học như đôi mắt, tu
như hai chân. Muốn đi đến đích nhờ hai
chân khoẻ mạnh đă đành, nhưng nếu không có
đôi mắt sáng th́ đôi chân khỏe cũng không
thỏa măn được sự mong cầu đến
đích. Đại Trí Văn Thù và Đại Hạnh
Phổ Hiền, hai vị Bồ tát được biểu
trưng cho giáo lư TRI HÀNH trong đạo Phật. Tri hành
hợp nhất, chắc chắn đường tu sẽ
thành công viên măn. Qua cái thấy
của người chứng đạo, tri chưa sâu
sắc tinh tường, chưa được hành,
hoặc tri mà không hành chỉ làm "đau ḷng
Phật" sẽ bị Phật quở trách cho: Rằng
vào biển đếm cát, vào kho đếm bạc không
công, là việc làm của người không thực tế
trong cuộc sống, làm những việc vô ích ấy, ai
khen. Rốt cuộc, "nhất đán vô
thường..."Ngoảnh nh́n lại cuộc
đời những năm tháng trôi qua th́ chính ḿnh chỉ
là khách phong trần dày gió dạn sương, trôi nổi
theo ḍng thời gian, năm tàn tháng lụn không đem
lại cho bản thân một sự an lạc nào ! Trên bước
đường tu học theo đạo Phật, "Hành
giả" mới đem lại sự an lạc, giác
ngộ, giải thoát cho người tu sĩ. Học
giả, học để trích cú tầm chương,
chỉ là người phân biệt danh ngôn, lăng mạn
hơn, đem sở học biến thành tṛ tiêu khiển:
"ngâm phong vịnh nguyệt". Bí quyết của
sự tu hành, của sự giải thoát, giác ngộ,
của sự nhận thức chân lư với cách nh́n
vạn pháp th́ nói rặt những thứ bọt bèo, b́a
chéo, rẻ rề !... Cái nh́n của
người chứng đạo, tác giả Chứng
Đạo Ca, KHẤT SĨ mới quí. Thạc sĩ,
tiến sĩ chỉ quí ở thế gian và với
thế gian mà thôi. Trong đạo Phật không quí văn
bằng, học vị. Thời Phật tại thế,
Phật dạy cho những người ngoại cấp,
không học vị văn bằng vẫn thành công trong
giải thoát giác ngộ. Ở Đông độ, Lục
Tổ Huệ Năng được người
đời kính quư tôn thờ... cũng chẳng văn
bằng học vị.
Thảo nào tác giả Chứng Đạo Ca tự
trách: "Ngô
tảo niên lai...." *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: ChỦng tánh tà, thỐ tri giẢi Dịch nghĩa: *
Tà chủng tánh, thường hiểu sai chánh giáo *
C̣n một hạng ngu si ấu trĩ TRỰC
CHỈ Giáo lư của
đạo Phật về "b́nh đẳng môn" th́
tất cả chúng sinh là Phật, tất cả chúng sinh
sẽ thành Phật. Tuy nhiên về "sai biệt môn"
th́ căn cơ chủng tánh là tiêu chuẩn, thước
đo để đoán định sự thành công sớm
hay muộn trên con đường đi đến
đích giác ngộ giải thoát. Người có chủng
tánh ngoại đạo khó tiếp thu giáo lư liễu
nghĩa thượng thừa. Họ là người theo
cái đạo "cầu bên ngoài" trông chờ ỷ
lại nơi sự giúp đỡ, che chở của tha
nhân, của quỷ thần, của những đấng
họ đặt niềm tin mà không bao giờ kiểm
chứng được. Giáo lư Viên
Đốn, người chủng tánh Đại thừa,
những bậc tối thượng lợi căn
mới có thể tiếp thu tốt. Hàng chủng tánh
Nhị thừa, Thanh văn, Duyên giác, đức tinh
tấn th́ tốt nhưng chưa đủ trí tuệ
để tư duy, quán chiếu tinh tường giáo lư
Viên Đốn. C̣n nói chi hạng tiểu căn cơ, trí
tuệ thô thiển, phương tiện và cứu cánh
lộn ṣng: Nh́n nắm tay mà cho rằng đă bắt
được hư không thật. Trên
đường tu, căn cơ, chủng tánh, trí tuệ
không có th́ sự tu hành rất khó thành công, phương
tiện và cứu cánh không nhận thức cho rơ ràng,
lấy phương tiện làm cứu cánh th́ mục tiêu
giác ngộ giải thoát không bao giờ có được.
Không nhận thức được chất thanh tịnh
bản nhiên của CĂN và CẢNH khiến cho căn
cảnh trở thành một thứ nguyên nhân khổ đau
tai họa. Sự thật,
CĂN CẢNH nào có tội t́nh ǵ ! Chỉ v́ sự
tiểu căn, thiển trí không tiếp thu nổi
Đại thừa Viên Đốn của Như Lai cho nên
giống như tu nhiều, cần khổ tinh tấn
cả cuộc đời mà không thọ dụng
được quả an lạc giải thoát giác ngộ ! *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: BẤt kiẾn nhẤt pháp
tỨc như Lai Dịch nghĩa: *
Bằng Phật nhăn CẢNH CĂN là huyễn *
Giác là hết, c̣n chi vay với trả TRỰC
CHỈ Hiện tượng
sum la, muôn hồng ngh́n tía vạn biệt thiên sai
trước mắt, nh́n bằng cái nh́n của nhục
nhăn th́ không ai có thể phủ nhận được
điều đó. Qua con mắt của người
chứng đạo, CĂN CẢNH đều là một
thứ pháp "duyên sinh". Mà duyên sinh th́ không có cái
"Tự ngă", cái "Thực thể". Thế cho
nên: "Bằng
Phật nhăn CẢNH CĂN là huyễn
Với Phật nhăn, thấy tất cả, mà như không
thấy ǵ hết, "như không thấy ǵ hết",
v́ thấy tận tường "thực
tướng" của vạn pháp là vô tướng. Phật, theo giáo lư
của đạo Phật, không phải là cái ông ǵ ghê
gớm lắm đâu. Phật là người, một con
người khác hơn nhiều người ở chỗ
nh́n vạn pháp mà "không thấy một pháp nào".
Phật, sự thật chỉ có vậy. Người nào
có khả năng như vậy, người đó là
Như Lai, là Phật. Địa vị Phật trong
Phật giáo không phải địa vị độc tôn
dành riêng cho "một ông Phật nào" hay "một
tập đoàn Phật" ở một cơi nước
thanh tịnh xa xôi nào. Người nào có được
"chánh quán niệm" thường xuyên liên tục,
giữ được cái trong sáng, cái thấy, thấy
tận tường thực tướng của vạn
pháp, gọi đó là "Quán tự tại". Theo cái thấy
của người chứng đạo, tác giả
Chứng Đạo Ca "Quán tự tại" không là
một con người mà là "một pháp Quán"
được liên tục thường xuyên không bị
tạp niệm vọng tưởng xen vào.
TỘI TÁNH BỔN KHÔNG, th́ cái gọi là nghiệp
chướng cũng không có được
thực."...Ngũ uẩn phù hư không khứ lai".
"Tam độc thủy bào hư xuất
một"....
Cho nên:
"Giác là hết, có chi vay với trả *****Top CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Cơ phùng ngỌc thiỆn
bẤt năng xan Dịch nghĩa: Đói
gặp cỗ không ăn sao no được ! TRỰC
CHỈ Giáo lư của
đạo Phật dạy rằng: Là một con
người, tự ḿnh định đoạt số
phận ḿnh không ai thay thế sắp xếp định
đoạt cho ḿnh được. Cải tạo và xây
dựng là hai mặt tích cực, con người dựa
vào đó mà quyết định hướng đi và
nơi đến của đời ḿnh. Không cải
tạo, đào thải, gạn bỏ vô minh phiền năo,
không xây dựng đức tánh từ, bi, hỉ, xả
bồi dưỡng phước đức, trí tuệ th́
địa vị Hiền thánh, quả Bồ đề,
Niết bàn không ai ban cho ta được. Đói phải
ăn mới no được. Tiệc của vua chiêu
đăi, không ăn vẫn đói. Bệnh phải uống
thuốc mới lành, tránh thầy, trốn thuốc,
bệnh không lành được. Học chánh pháp, phải
hành theo chánh pháp mới đem lại kết quả giác ngộ,
giải thoát thật sự. Đối với chánh pháp
không dám nghe, không để tâm suy nghĩ, không hành th́ không
hy vọng ǵ ở nơi sự giúp đỡ bất
cứ từ đâu đến. "Kim sanh tiệm tu quyết
đoán, TẠI DỤC HÀNH THIỀN TRI
KIẾN LỰC. Dưới
mắt của người chứng đạo, tu sĩ
cần có nghị lực, có trí tuệ sắc bén
đủ sức CẢI TẠO TẠI CHỖ, phiền
năo vô minh, chuyển phiền năo thành Niết bàn. Chuyển
sinh tử thành Bồ đề ngay nơi cơi Ta bà ở
trong CƠI DỤC. Đó là điều người tu sĩ,
đệ tử Phật phải làm và làm được.
Người hành thiền không cần trốn tránh, không
cần xa lánh phiền năo vô minh, t́m một nơi, một
cơi nào đó "thanh tịnh" để Thiền. Sen mọc
từ bùn mà không hôi tanh mùi bùn mới là mầu nhiệm.
Sen mọc trong biển lửa sắc màu vẫn
tươi nhuận, càng mầu nhiệm hơn ! TẠI
DỤC HÀNH THIỀN TRI KIẾN LỰC !
Vấn đề TỘI PHƯỚC: "Tội
là chi, phước lại là chi
Theo giáo lư Đại thừa liễu nghĩa: "Tội
tánh bổn không"..... *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Sư tỬ hỐng vô úy
thuyẾt Dịch nghĩa: Phật
thuyết pháp vạch ra đường vô úy TRỰC
CHỈ Người đệ
tử Phật, đọc bài thi ca này phải giữ chánh
niệm không được phóng tâm buông lơi cảnh
giác về "Thừa", về "Giáo", về
"Tất đàn", về "Chủng tánh".
Phải tự soát lại tư tưởng và nhận
định về kiến thức của ḿnh. Giáo lư Đại
thừa phải nhân thức bằng tư tưởng
đại thừa của người chủng tánh
Đại thừa. Đem nhận
thức, tư tưởng và chủng tánh không phải
Đại thừa để mong đáp ứng thỏa
măn ư muốn là điều không thể có. Tư tưởng Đại
thừa: "Tội
ṭng tâm khởi ṭng tâm diệt Với
nguồn tư tưởng ṿi vọi như vậy không
phải căn cơ chủng tánh nào cũng bằng ḷng
tiếp thu. V́ vậy, phải thận trọng khi
đọc và t́m hiểu nguồn tư tưởng
Đại thừa. ! *****Top CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: HỮu nhỊ tỲ khưu
phẠm dâm sát Dịch nghĩa: Giới
dâm sát có hai thầy phạm phải TRỰC
CHỈ
Tiếp ư bài thi ca 50, nói về vấn đề PHẠM
GIỚI, mắc tội được giải quyết
theo quan điểm và tư tưởng của Đại
thừa. Thi ca 51 nầy, hai
Tỳ kheo phạm cùng một tội danh và cùng một
tội trạng. Thế mà, Ưu Ba Ly thượng
thủ xử hai thầy phải tội trọng, tội
"đoạn đầu", "khí", tức là
tội phải đuổi khỏi Tăng đoàn
khất sĩ, không được làm Tỳ kheo, không cho
tu nữa. Đại sĩ
Duy Ma Cật thay mặt cho hai Tỳ kheo "kháng án" và
nhân danh Đại thừa tư tưởng, phát huy
Đại thừa chủng tánh của hai thầy,
Đại sĩ Duy Ma Cật xử hai thầy
"trắng án". V́ lẽ TỘI TÁNH BỔN KHÔNG....rơ
ràng: "Ba Ly huỳnh quang tăng
tội kiết
Ưu Ba Ly xử "đoạn đầu" là xử
theo Tiểu thừa tư tưởng. Duy Ma
Đại sĩ xử "trắng án" là xử theo
Đại thừa tư tưởng và phát huy Đại
thừa chủng tánh vốn có trong hai thầy Tỳ kheo
ấy. *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: BẤt tư ngh́ giẢi thoát
lỰc Dịch nghĩa: *
Lực giải thoát nghĩ bàn sao cho hết *
Thân dù nát, xương tan như bột TRỰC
CHỈ Giúp cho
người của cải vật chất chỉ cứu
được ngặt, không cứu được nghèo.
Họa hoằn một đôi khi có cứu thoát
được nghèo nhưng không cứu được
khổ. Khổ, khó cứu. Bao nhiêu người chết
oan, chết ức, chết tức, chết tưởi
chỉ v́ khổ, không phải ngặt nghèo. Có rất
nhiều trường hợp ở trong cảnh ngặt
nghèo mà người ta không hề khổ. Giúp cho người
chánh pháp, khiến cho người hết khổ. Từ
hết khổ là điều kiện rất cần
để tiến tới hết ngặt, hết nghèo.
Đó không phải là điều khó hiểu. Đạo
Phật chủ trương cứu khổ là mục
đích chính. Cứu nghèo là khuyến khích tiến lên.
Bởi v́ nghèo, ngặt người ta vẫn có thể có
hạnh phúc, an lạc, tự tại, khinh an thậm chí
giác ngộ, giải thoát được. Ở trong
cảnh lầu son, gác tía, vàng ngọc đầy
rương vậy mà xưa nay biết bao nhiêu
người không hề có an lạc, hạnh phúc....trong
cảnh phù hoa ấy. Của cải
vật chất có chăng, chỉ đem lại cho con
người sự an vui mong manh, tạm bợ trong
hiện tại. Chánh pháp của Như Lai, ban cho
người thọ dụng sẽ có được an vui
vĩnh cửu, vui Niết bàn, vui bất diệt bất
sinh. Đó là ư nghĩa: "..Lực
giải thoát nghĩ sao cho hết Giáo lư Phật dạy
cho biết: Tài thuộc ngũ gia. Của cải vật
chất có thể là nguyên nhân đau khổ cho chính
những ai tham lam cất chứa nó. Đấy cũng
không phải chuyện khó thấy, khó hiểu. Thế cho
nên, người làm cái việc PHÁP THÍ nói chánh pháp rồi
động viên cổ vũ mọi người cùng
với ḿnh sống trong chánh pháp. Làm được
việc đó, phước đức vô lượng vô
biên. Đó không phải đại ngôn mà là sự thật.
Bởi v́ làm được điều đó, tức là
ḿnh và người đều đạt đến
mục đích, đến đỉnh cao của kiếp
sống con người. Làm được vậy,
vấn đề "tứ sự cúng dường"
và thọ dụng tứ sự cúng dường không c̣n ǵ
đáng ngại mà khỏi lo sợ "nợ
nần", "vay trả" để rồi phải
"từ nan".
Cổ Nho c̣n nói: "Huỳnh
kim thiên lượng vị vi quư *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: Pháp trung vương tỐi cao
thẮng Dịch nghĩa: Vua
các pháp bậc tối tôn tối thắng TRỰC
CHỈ Là môn sinh tử
đệ của Phật, cần phải hiểu
Phật. Phật không bao giờ bằng ḷng cho ai tôn
xưng ḿnh là ĐẤNG SIÊU NHIÊN SIÊU NHÂN ǵ hết.
Phật bằng ḷng và rất bằng ḷng khi người
ta hiểu Phật chỉ là một con người. Và
chỉ khác hơn con người ở chỗ: Phật là
con người đă phát huy trí tuệ đến mức
tận cùng cao tột của trí tuệ. Đạt
đến đỉnh cao tột của trí tuệ, có
khả năng nhận thức chân lư một cách viên măn,
không c̣n một sai lầm nhỏ, một tí xíu mù mờ.
Trạng thái tỉnh thức, sáng suốt đó,
người ta gọi là GIÁC NGỘ. Cho nên, Phật
bằng ḷng khi người ta hiểu Ngài là một GIÁC
GIẢ. bậc "Giác Giả" nhận thức chân
lư, nhận thức về lẽ sống của con
người rất viên măn, cho nên Phật không hề có sai
lầm. V́ không sai lầm chân lư cho nên Phật có sức
tự chủ với lục căn, tự tại với
lục cảnh, trừ bỏ hết vô minh bao phủ
của lục trần, vậy thôi ! V́ sức tự
chủ, tự tại đối với vạn pháp, cho
nên Phật cũng bằng ḷng khi đệ tử gọi
ḿnh với đức hiệu PHÁP VƯƠNG, là vị
đạo sư VUA ĐỐI VỚI CÁC PHÁP. Mười
phương Như Lai cùng chung một thứ quả
vị giống nhau như vậy. Mười
phương chư Như Lai cũng chẳng phải là thứ
ông ǵ ghê gớm như nhiều người hiểu
lầm về Như Lai Phật. Tác giả
Chứng Đạo Ca nói rằng: Những điều tôi
tŕnh bày trong đây là ư tứ của Phật, của kinh,
tôi chỉ "Bảo châu Như ư" của chư
Như Lai có, các bạn cũng đă có sẵn trong các
bạn. Nếu các bạn đồng ư về giáo lư b́nh
đẳng tuyệt đối nầy th́ bạn cũng
như tôi, chúng ta cùng thọ dụng b́nh đẳng,
về Phật tánh b́nh đẳng vốn có trong tất
cả mọi người. V́ Phật là một con
người, bạn cũng là một con người, th́
cái ǵ Phật có, bạn cũng sẽ có. Hăy luôn luôn
nhớ rơ: PHẬT CHỈ LÀ MỘT BẬC PHÁP
VƯƠNG *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: LiỄu liỄu kiẾn vô
nhẤt vẬt Dịch nghĩa: Thấy
rất rơ không hề có thật vật TRỰC
CHỈ Trước mắt
người chứng đạo, thấy vạn vật
không có thật vật, thấy người không thật
người, thấy Hiền Thánh không thật có Hiền
Thánh và Phật cũng không có Phật. Đại thiên
thế giới nhiều như cát sông Hằng, cũng
chỉ như thứ bọt bèo hữu cùng nổi ch́m sanh
diệt ở trên mặt nước biển vô cùng,
nghĩa là cũng không có thật Đại thiên sa
giới...Người chứng đạo, nh́n vạn pháp
qua cái thấy của tuệ nhăn. Cái thấy của
người chứng đạo là kết quả của
mọi quá tŕnh tu tập quán chiếu tư duy, thiền
định lâu dài. Cho nên cái thấy của người
chứng đạo nh́n thủng các lớp màn vô minh
chấp mắc bao vạn đời kiếp của con
người, thấy được cái THỰC
TƯỚNG của vũ trụ vạn hữu là
"tướng duyên sinh" mà có. Có bằng cái có của
"duyên sinh". Nhân duyên c̣n ḥa hợp th́ c̣n có gọi là
sinh. Khi nhân duyên chia ly th́ gọi là diệt. Dưới cái
thấy của Tuệ nhăn, vạn pháp CÓ mà không thực
có. V́ nó không có cái tự ngă chân thật của riêng nó.
Nhưng người chứng đạo, cũng không hoàn
toàn phủ nhận rằng vạn pháp là KHÔNG, v́ vạn
pháp không phải trống không như không của sừng
thỏ lông rùa. Hiền Thánh,
Trời Phật tư duy cho sâu sắc, quán chiếu
cho tinh tường chân lư, người ta sẽ hiểu
tất cả những từ để xưng gọi các
địa vị tôn quư đó, cũng chỉ là danh ngôn
giả lập mà ra. Hiền Thánh là ai ? Trời là ai?
Phật là ai ? Tất cả địa vị ấy, danh
xưng tôn quí ấy đều từ một con
người. Dựa vào tiêu chuẩn giác ngộ chân lư
trọn vẹn hay chưa mà "ước
định" cấp bậc và gán cho cái danh xưng ấy.
Mà danh xưng giả lập th́ cũng chỉ một
dạng "duyên sinh như huyễn" của vạn
pháp ở trong vạn pháp. Do vậy,
trước cái thấy của người chứng
đạo là: KHÔNG CÓ THẬT VẬT và KHÔNG CÓ THẬT
TẤT CẢ. *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: NhẬt khẢ lănh nguyỆt
khẢ nhiỆt Dịch nghĩa: Trăng
có nóng ! Mặt trời dù có lạnh ! TRỰC
CHỈ Áng văn 288 câu dệt
thành tác phẩm THI CA CHỨNG ĐẠO, thuần
chất liệu tư tưởng Đại thừa VIÊN
ĐỐN. VIÊN ĐỐN GIÁO VẬT NHÂN T̀NH. Tác giả
Chứng Đạo Ca đă tiên liệu một cách
chắc chắn rằng sẽ có rất nhiều
người , rất nhiều tập đoàn tập thể,
họ cũng mệnh danh là đạo này, đức
nọ, phê đây phán kia, đối với nguồn tư
tưởng liễu nghĩa Đại thừa. Thi ca
số 55 nầy tác giả khẳng định lập
trường và tư tưởng của ḿnh một cách
quyết liệt. "Trăng
có nóng ! Mặt trời dù có lạnh !
"Chân lư" được cô đọng trong 288 câu
của tác phẩm Chứng Đạo Ca là chân lư Liễu
nghĩa Đại thừa, cho nên lũ ma quân làm sao có
khả năng, làm sao có trí thức nào khác đủ
sức để mà xuyên tạc mà đối thoại. Đối với
hạng người không "tri kỷ tri bỉ.."
đọc lơm bơm vài quyển sách loại "tiền nào
của nấy"....mà khua môi, múa mép, căi cối căi chày th́
tác giả nghiêm khắc: "Thớt
xe voi, đổ dốc tiến lừ lừ *****Top CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Phiên âm: ĐẠi tưỢng bẤt du
ư thỐ kính Dịch nghĩa: Voi
vĩ đại, không đi đường ngoằn ngoèo
của thỏ TRỰC
CHỈ Đường đi
của thỏ, nhỏ hẹp ngoằn ngoèo, luồn qua
lách lại theo hốc đá kẽ cây. V́ vậy, chỉ
có thỏ, đi theo con đường của thỏ. Voi
th́ đi đường thênh thang rộng lớn, có lúc
chà đạp cây rừng, hất văng đá khối
để mở lối đi cho ḿnh. Ở Việt "
Là trượng phu, hăy nuôi chí lớn, khai đường
mở lối mà đi, đừng dơi theo dấu chân
của Như Lai để bước. Hăy nhắm đích
để mà đến. C̣n đi bằng phương
tiện ǵ, phát xuất từ hướng nào, việc
ấy không cần câu nệ. Đến như những
lễ nghi bề ngoài có tánh khách sáo, những tập quán
thờ phượng, cúng bái, khấn nguyện, van xin theo
kiểu tín ngưỡng của một tôn giáo tầm
thường, dưới mắt người chứng
đạo, tất cả là "tiểu tiết".
Bậc Đại ngộ không chấp nhận những
thứ đó trong chánh pháp. "Đại
ngộ bất câu ư tiểu tiết"
Có nghĩa là những tập quán, lễ nghi h́nh
thức rườm rà vặt vănh ấy không hợp chánh
pháp, người đại ngộ không làm. Dù có trái ư
nghịch ḷng với một số bạn đồng
song, pháp lữ đồng sàng dị mộng, bậc
đại ngộ vẫn cam ḷng chấp nhận. Bởi
v́, nh́n trời qua những điều kiện khác nhau th́
nhận biết về trời cũng không sao đồng
nhau được. Cho nên bậc đại ngộ,
phải thấy bằng cái thấy của ḿnh, biết
bằng cái biết của ḿnh. Nếu phải nói, th́
lời nói ra phải bằng ngôn từ ư tứ của
chính ḿnh. "Vị
liễu ngô kim vị quân quyết" *****Top 1 Bậc tuyệt học vô vi nhàn đạo Thân ảo hóa với pháp thân cũng vậy Nhận thức rơ hai thân pháp hóa (1) Thân ngũ uẩn chỉ là phù vân tụ tán Gọi tam độc, thực tánh không hề
độc 2 Đấy lẽ thật, đây lời nói thật 3 4 5 6 7 * Tôi không thích ba hoa vặt vănh 8 Sáu thần dụng, thấy sắc mà phi sắ c3 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 * Cũng như thế, tâm ta là châu NHƯ Ư 23 * Tôi lấy cả ráng mây, làm màu áo 24 * Cầm tích trượng tưởng như nắm
trong tay chân lư 25 * Nhận thức rơ, "Như Lai chân thực
tướng" 26 27 * Kẻ chấp CÓ bị khổ đau v́ CÓ 28 29 30 31 32 * Trong một tánh, bao hàm hết thảy tánh 33 * Danh văn cú...vốn là danh ngôn giả đặt 34 35 36 * Có người hỏi: Cho biết pháp môn tu chứng 37 * Khi chánh pháp truyền sang Đông Độ 38 * Mười sáu món (1), gọi là KHÔNG, không dính
dáng 39 * Căn TRẦN ấy, chỉ là thứ bụi mờ
trên kính 40 41 42 43 44 45 * Dựa nhân quả, quyết định SAI hay ĐÚNG 46 * Vào kho bạc, đếm không công vô ích 47 * C̣n một hạng ngu si ấu trĩ 48 * Giác là hết, c̣n chi vay với trả 49 50 51 52 * Thân dù nát, xương tan như bột 53 54 55 56 HẾT ! |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
![]()
![]()
![]()