Chùa Hàn Sơn trong hồn thơ Trương Kế

 PGS - TS. HỒ SĨ HIỆP

 Một ngôi chùa, một tiếng chuông chùa qua hồn thơ của thi nhân mà trở nên bất hủ. Bài thơ của Trương Kế sẽ còn sống mãi trong lòng Phật tử với chùa Hàn Sơn và tiếng chuông chùa. Hôm nay, đến Tô Châu thả hồn trong chùa Hàn Sơn đầy hương khói và tĩnh lặng tôi mới thấu hiểu điều đó. Kỳ diệu thay thơ ca và Phật giáo giao hòa tự bao giờ và tự bao đời trên cõi đời này!
Đối với người Việt Nam yêu thích thơ Đường những địa danh Trung Hoa như lầu Hoàng Hạc, Thái Hồ, Cô Tô, bến Tầm Dương, bến Phong Kiều và chùa Hàn Sơn trở nên thân quen. Chuyện kể rằng hôm ấy sư thầy trụ trì chùa Hàn Sơn đêm đã khuya lắm rồi mà vẫn còn thao thức vì không làm được hai câu cuối bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. Cũng đêm hôm đó chú tiểu trong chùa không sao chợp mắt. Biết được tâm trạng của sư thầy, chú tiểu xin phép đọc hầu hai câu mà chú làm trong đêm không ngủ. Sư thầy vui lắm, vì tình cờ mà hai thầy trò trong đêm nay đã làm được một bài thơ. Sư thầy truyền cho chú tiểu lên thắp hương, thỉnh chuông để tạ ơn Phật tổ đã giúp cho hai thầy trò ngẫu nhiên làm được một bài thơ xứng ý. Tình cờ sao, đêm ấy dưới khoang thuyền đậu ở bến Phong Kiều thuộc thành Cô Tô thi sĩ Trương Kế, người đất Thượng Châu, Hồ Bắc, đang nằm và không sao ngủ được. Trương Kế không ngủ được vì nhiều lẽ nhưng có nguyên do là ông đang làm một bài thơ mà “bí” không tìm được tứ thơ của hai câu cuối. Trong không gian mùa thu, đêm đã khuya, trăng đã ta, lại thêm tiếng quạ kêu, sương lạnh rơi khắp trời, thì bất ngờ thay Trương Kế nghe được tiếng chuông chùa Hàn Sơn vẳng đến. Tiếng chuông chùa đêm khuya trong trẻo, ngân vang đã lay động tâm hồn u sầu, mất ngủ của thi sĩ. Cảm xúc đó đã giúp cho Trương Kế sáng tác một bài thơ lưu truyền xưa nay - bài “Phong Kiều dạ bạc” (Đêm đậu thuyền bến Phong Kiều):
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong như hỏa đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh
đáo khách thuyền.
Tản Đà dịch :
Trăng tà, chiếc quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến, sầu vương
giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa
Hàn San.
Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt vẻn vẹn chỉ 28 chữ mà nói lên bao điều về đạo và đời. Hai câu đầu nói về cảnh mùa thu ở một bến vắng dưới cầu Phong (Phong Kiều) buồn lạnh và cô đơn. Đó là cảnh nhà thơ chấm phá vài nét bằng ngôn từ mà thành một bức tranh có màu sắc, đường nét và âm thanh. Nội dung toát lên qua hai câu thơ này là cảnh buồn, người buồn. Và đúng như Nguyễn Du đã nói “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.” Hai câu sau là nói về đạo. Đạo ở đây là đạo Phật được hiện lên ở một địa danh (là Hàn Sơn tự - chùa Hàn Sơn) và một danh từ (chung thanh - tiếng chuông chùa). Câu thơ giản dị, không điển tích mà làm cho người đọc cảm xúc về một ngôi chùa Hàn Sơn ở ngoại thành Cô Tô, gần bến Phong Kiều và một tiếng chuông chùa trong đêm khuya thanh vắng. Nhà thơ Quách Tấn đã xúc cảm bài thơ này của Trương Kế mà làm bài thơ “Đêm thu nghe quạ kêu” trong đó có câu:
Trời bến Phong Kiều sương
thấp thoáng,
Sông thu Xích Bích nguyệt mơ màng.
Vì yêu bài thơ “Phong kiều dạ bạc” của Trương Kế nên tôi không thể quên ngôi chùa Hàn Sơn và tiếng chuông chùa ngân nga và đầy sức lay động của nó. Vì lẽ đó trong thời gian ở Thượng Hải tôi quyết định đến Tô Châu để thăm chùa Hàn Sơn, bến Phong Kiều và tìm hiểu một địa danh đã đi vào lịch sử, đi vào văn học - Chùa Hàn Sơn.
Chùa Hàn Sơn xây dựng ở phía tây Xương Môn, Tô Châu - thị trấn Phong Kiều bên sông Đại Vân Hà, thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay. Theo sách “Bách thành yên thủy” ghi chép về văn hiến địa phương thì chùa Hàn Sơn được xây dựng giữa những năm Thiên Giám Tiêu Lương (502-519) thời Nam Triều. Như vậy, chùa Hàn Sơn có lịch sử hơn 1500 năm tên cũ của chùa là Diệu Lợi Phổ Minh tháp viện. Vì ở gần bên Phong Kiều nên chùa còn có tên là Chùa Phong Kiều (Phong Kiều tự). Thời Đường (618-907) Phật giáo thịnh hành, chùa chiền mọc lên như nấm, sư sãi đông đúc nên chùa Hàn Sơn trở nên quan trọng. Tương truyền rằng hai vị cao tăng đời Đường là Hàn Sơn và Thập Đắc đã đến trụ trì ở chùa này nên đặt tên là chùa Hàn Sơn tự. Đầu thời Thái Bình Thiên Quốc (976-984), thời Bắc Tống (960-1127) Tiết đô sứ quân Trung Ngô là Tôn Thừa Hiệu cho xây dựng lại Phật tháp. Vào năm Gia Hựu (1056-1063) vua Tống Nhân Tông ban cho chùa tên là Phổ Minh thiền viện. Năm Thiệu Hưng thứ 4 (1134) chùa Hàn Sơn lại đựơc trùng tu và bảo quản kỹ. Cuối đời Nguyên chùa bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Năm Hồng Vũ (1368-1398) đời Minh chùa lại được trùng tu lại. Năm Hàm Phong thứ 10 (1860) đời Thanh cả vùng Phong Kiều, Tô Châu gặp nạn binh hỏa, nhà điện, lầu gác, cửa chùa biến thành tro bụi. Năm Quan Tự thứ 32 (1906) tuần phủ Tô Châu là Trần Quí Long quyên góp tư liệu, tu sửa, đúc chuông, làm lầu gác và chùa viện dần dần khang trang, qui mô to lớn. Năm Tuyên Thống thứ 23 (1910) tuần phủ Trình Đức Toàn, bố chính sứ lục Trung Kỳ lại tu sửa, mở rộng, làm thêm đại điện, hành lang nên chùa trở nên mới mẻ, đẹp đẽ và trang nghiêm như ngày nay.
Từ năm 50 về sau, chùa Hàn Sơn trải qua nhiều lần tu sửa. Năm 1963 chùa Hàn Sơn đựơc thành phố Tô Châu (tỉnh Giang Tô) công nhận là đơn vị bảo vệ văn vật. Năm 1982 ngôi chùa có lịch sử lâu đời này được công nhận là di tích văn hóa của tỉnh Giang Tô.
Sân chùa nằm ở hướng đông, chiếm diện tích 6 vạn m2, hai phía Đông - Tây có tường cửa, Đại Hùng Bảo điện, Hàn Thập điện, Tàng Kinh lâu và Pháp Minh phổ viện. Phía Bắc chùa có Sương Chung các, La Hán đường, Hàn Thập tuyền, Hàn Thập đình, Phương Trượng thư trai và Tăng xá. Phía Nam có Phong Giang lâu, Hoằng Pháp đường, Phòng chuông, lầu chuông. Năm 1996 Ngọc Tháp Bảo Minh xây mới, làm thành 5 cấp bốn mặt lầu gác theo kiểu kiến trúc đời Đường nguy nga, hùng tráng , trở thành tiêu chuẩn mới của chùa Hàn Sơn. Trong chùa trưng bày la liệt bản bia thư pháp của các danh gia từ đời Tống, Minh về sau như : Nhạc Phi, Trương Tức Chi, Đường Diễn, Văn Trưng Minh, Dũ Việt, Khang Hữu Vi và cả những bức tranh tượng, các sư tăng Hàn Sơn và Thập Đắc do La Sính và Trịnh Văn Trác sáng tác, làm tăng thêm cảnh quan của chùa. Trên lầu chuông treo chiếc chuông rất lớn đúc từ đời Thanh. Tiếng của chiếc chuông lớn này mỗi lần vang lên làm chấn động tâm hồn mọi người. Hàng năm, cứ đến đêm trừ tịch, chùa Hàn Sơn đến cử hành nghi thức “nghe tiếng chuông đón mừng năm mới” (Thính chung thanh nghênh tân niên) mọi người khắp nơi tụ tập đông đúc, trang nghiêm lắng nghe 108 tiếng chuông chùa để giã từ năm cũ và nghênh đón năm mới.
Chùa Hàn Sơn cũng là chứng tích lịch sử thể hiện mối bang giao hữu hảo giữa nhân dân hai nước Trung – Nhật. Ngay từ năm Trung Nguyên thứ 20 (804,) thời Đường Đức Tông, cao tăng Nhật Bản là Không Hải Đại Sư vượt biển đến Trung Hoa để cầu pháp đã ghé qua Tô Châu và lưu lại ở chùa Hàn Sơn. Hiện nay trong Đại Hùng Bảo Điện có treo đầu núm chuông đồng do Sơn Điền Hàn Sơn người Nhật Bản năm Minh Trị thứ 38 (1905) đúc tặng. Trong La Hán đường và Hoằng Pháp đường có hai bức tượng đồng Quan Am Bồ Tát và Không Hải do đoàn thể hữu hảo Nhật Bản tặng chùa.
Văn hóa, kinh tế và du lịch của Thành phố Tô Châu không ngừng phát triển. Hơn 10 năm trở lại đây cảnh quan Phong Kiều và chùa Hàn Sơn không ngừng thay đổi và mang lại một bộ mặt mới. Khu du lịch Hàn Sơn tự bao gồm Cổ Vận Hà, cổ trấn Phong Kiều, Phong Kiều, cầu Giang Thôn, cửa Thiết Linh, vườn Phong Kiều và toàn bộ Khu Chùa Hàn Sơn hấp dẫn du khách thập phương trong và ngoài nước.
So với các chùa khác đời Đường, chùa Hàn Sơn không phải chùa lớn. Nhà Đường thành lập năm 618 thì chùa Hàn Sơn đã có trước đó gần 100 năm. Chùa Hàn Sơn ở Tô Châu thuộc tỉnh Giang Tô còn Trương Kế là người Hồ Bắc. Không hiểu nguyên do nào Trương Kế từ Hồ Bắc đến Tô Châu, tỉnh Giang Tô và đêm đó ngủ dưới thuyền ở bến Phong Kiều ? Câu chuyện kể trên chỉ là truyền thuyết nhưng đúng là Trương Kế là người có thiện cảm với chùa Hàn Sơn và đặc biệt là tiếng chuông chùa Hàn Sơn trong đêm khuya thanh vắng.
Chùa Hàn Sơn và bài thơ “Phong kiều dạ bạc” đã gắn liền với tên tuổi của nhà thơ đời Đường Trương Kế. Nhà thơ sinh và mất năm nào không rõ, chỉ biết ông tự Ý Tôn, người Tương Châu (nay là Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc). Có thuyết nói ông là người Nam Dương (nay là huyện Nam Đăng - tỉnh Hà Nam ). Năm Thiên Bảo 12 (753) đời Đường ông đậu tiến sĩ. Vào khoảng những năm Đại Hưng (766-779) ông làm Kiểm hiệu tư bộ viên ngoại lang ở Hồng Châu (nay là Nam Xương, tỉnh Giang Tây). Có lẽ ông chết vào cuối thời Đại Lịch? Cao Trọng Vũ, người đồng thời với Trương Kế trong “Trung Hưng giang khí tập” nói rằng: “Ông ta làm văn, không gọt dũa trang sức, cùng với bạn bè thi đậu anh tú đương thời, thể thơ mới mẻ, mang phong cốt của kẻ có đạo”. Thơ của ông phần lớn làm ra đều do ngẫu hứng, tác phẩm có “Trương Từ bộ thi tập”. Mùa đông năm Thiên Bảo 14 (755) An Lộc Sơn nổi loạn, Trương Kế lánh nạn xuống miền Nam và phiêu bạt ở vùng vùng Giang Hoài (sông Trường Giang - Hoàng Hà) và đi qua vùng Ngô Trung. Ông đã từng leo lên Thành Lâu, cúi xuống nhìn cánh đồng với tâm hồn đầy xúc cảm. Theo sách “Tự trị thông giám” thì mùa đông năm đầu Nguyên Niên (760) vùng Giang Hoài xảy ra phản loạn, Tô Châu bị vây hãm. Bài “Phong Kiều dạ bạc” có thể Trương Kế sáng tác trong thời gian này. Đó là đêm mùa thu ông nằm dưới thuyền lẻ loi đậu ở bến Phong Kiều. Với cảnh ấy, người ấy và tâm hồn cảm xúc với đạo Phật mà Trương Kế đã tạo nên bài thơ bất hủ. “Phong Kiều dạ bạc” được coi là “Thiên cổ tuyệt xướng” (bài ca tuyệt vời ngàn xưa) và “Phong Kiều vãn chung” (tiếng chuông chiều Phong Kiều) trở thành “Ngô Trung tuyệt cảnh” (cảnh đẹp tuyệt vời của đất Ngô Trung). Từ đời Tống trở về sau, bài “Phong Kiều dạ bạc” của Trương Kế được lưu truyền rộng rãi và đựơc coi là thi phẩm ngơi ca đạo Phật hay nhất đời Đường và hậu thế. Địa danh Phong Kiều - Cô Tô , Hàn Sơn tự và tiếng chuông chùa trở thành hấp dẫn, nhân loại thế gian từ bao đời. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt “Phong Kiều dạ bạc” trở thành một đề tài tranh luận. Có người cho rằng hai câu thơ đầu “Nguyệt lạc ô đề sương man thiên, giang phong ngư hỏa đối sầu miên” thì các chữ “ô đề” và “sầu miên” không phải là “tiếng quạ kêu” và “giấc ngủ buồn” mà là chỉ địa danh thôn “Ô Đề” và núi “Sầu Miên” ở gần chùa Hàn Sơn. Đầu đề bài thơ không phải là “Phong Kiều dạ bạc” mà là “Dạ bạc Trùng giang” (Trùng giang đêm đậu thuyền) v..v… Có sự rắc rối như thế bởi người đọc đời sau quá yêu thích bài “Phong Kiều dạ bạc” và xúc cảm với chùa Hàn Sơn cùng với tiếng chuông chùa trong đêm thanh vắng mà suy đoán như thế. Đúng là ở phụ cận trấn Cô Tô, không xa chùa Hàn Sơn có thôn Ô Đề và có núi mang tên Sầu Miên nhưng các địa danh này đều có sau khi bài thơ ra đời. Một ngôi chùa, một tiếng chuông chùa qua hồn thơ của thi nhân mà trở nên bất hủ. Bài thơ của Trương Kế sẽ còn sống mãi trong lòng Phật tử với chùa Hàn Sơn và tiếng chuông chùa. Hôm nay, đến Tô Châu thả hồn trong chùa Hàn Sơn đầy hương khói và tĩnh lặng tôi mới thấu hiểu điều đó. Kỳ diệu thay thơ ca và Phật giáo giao hòa tự bao giờ và tự bao đời trên cõi đời này!

(Viết từ Thượng Hải)

Source: Chuyển Pháp Luân

Bài Tháng Chín


Biên tập: Cư sĩ Liên Hoa (Nhật Minh)
Sửa văn bản tiếng Việt và trình bày : Diệu Tịnh | Sửa văn bản tiếng Anh: Diệu Ngọc
Phụ trách mạng : Chánh Niệm | Email: Padma9mt@hotmail.com