Chú Giải Kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác
(Dịch theo bản in lần thứ nhất của Hoa Tạng Phật Giáo Đồ Thư Quán, Đài Bắc, tháng 2, năm Dân Quốc 81 (1992))
Vận Thành Hạ Liên Cư hội tập
Hoàng Niệm Tổ chú
giải
Như Ḥa dịch Việt
--- o0o ---
|
Các căn khí được kinh này hóa độ
Hoa sen báu và quang minh Phật
|
---o0o---
Trong ba bộ kinh căn bản của Tịnh tông, kinh Vô Lượng Thọ giảng chi tiết nhất về nhân địa, quả đức của đấng giáo chủ cơi Cực Lạc cũng như giảng rơ về bốn mươi tám nguyện vĩ đại của đấng Đại Từ Bi Phụ, cực lực xiển dương pháp môn tŕ danh Niệm Phật. Theo cư sĩ Hồng Nhơn, kinh này được chú giải rất nhiều, nhưng hoặc là v́ những bản chú giải kinh này chưa hề được dịch ra tiếng Việt, hoặc rất có thể là do kiến văn quá hủ lậu nên mạt nhân chưa hề được đọc những bản dịch ấy.
Từ lúc mới bắt đầu tập tễnh theo đ̣i Tịnh nghiệp, mạt nhân vẫn mong mỏi sẽ được đọc một bản chú giải thật tường tận về kinh Vô Lượng Thọ như các tác phẩm A Di Đà Kinh Yếu Giải và A Di Đà Kinh Sớ Sao, nhưng niềm mơ ước ấy tưởng chừng như không bao giờ trở thành hiện thực.
Cho đến khi hội Trung Hoa Điện Tử Phật Điển (CBETA) đăng tải các kinh văn trong Đại Tạng trên Internet, mạt nhân đă háo hức t́m đọc các bản chú giải Đại kinh trong Đại Tạng. Tiếc thay, trong Đại Tạng, trước sau chỉ có bốn bản chú giải kinh này nhưng nặng về tính cách giải thích kinh theo kiểu khoa chú và có những phần mạt nhân mong mỏi được chư tổ giảng rộng thêm th́ lại chỉ giảng lược qua. Chẳng hạn, bản Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ của ngài Tịnh Ảnh Huệ Viễn chỉ phân loại 48 nguyện của Phật Di Đà và chỉ giảng sơ về một hai nguyện được coi là chính yếu. Có những đoạn kinh văn chỉ nêu đại ư và giảng lướt qua, không chú trọng đến phân tích tỉ mỉ ư nghĩa từng câu như cách chư Tổ Liên Tŕ, Linh Phong đă giảng kinh Di Đà.
Tính đến nay, những bản chú giải của các vị khác như Huệ Cảnh, Bành Tế Thanh, Thích Đạo Ẩn, mạt nhân vẫn chưa hề có phước duyên được đọc. Tác phẩm Kinh Vô Lượng Thọ Giảng Yếu do cư sĩ Hồng Nhơn dịch tuy đă tổng hợp được những ư kiến chú giải của các vị cổ đức, nhưng vẫn chỉ chú trọng đến ư chính của từng đoạn kinh; phần trọng yếu của kinh Vô Lượng Thọ là bốn mươi tám nguyện của đấng Từ Phụ lại chỉ trích dẫn chánh kinh, không giảng ǵ cả. Bởi thế, mạt nhân vẫn cứ ao ước sẽ được đọc một tác phẩm chú giải kinh Vô Lượng Thọ thật chi tiết, thật tường tận.
Măi đến cuối năm 1995, nhờ chút phước thừa, mạt nhân đọc được bản chú giải kinh Vô Lượng Thọ của lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ do Hoa Tạng Phật Giáo Đồ Thư Quán ấn hành với tựa đề: Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác Kinh Giải. Dĩ nhiên, xét về mọi mặt, tác phẩm này không thể nào sánh kịp với hai bản chú giải trân quư Di Đà Yếu Giải và Di Đà Sớ Sao của cổ đức, nhưng so với những bản chú giải kinh Vô Lượng Thọ trong Đại Tạng; bản chú giải của cư sĩ Hoàng Niệm Tổ rất tỉ mỉ, tổng hợp nhiều lời giải thích của chư tôn cổ đức Trung Hoa, Nhật Bản.
Hoàng lăo cư sĩ cũng khéo trích dẫn những đoạn kinh luận khiến cho người đọc hiểu được tường tận kinh Vô Lượng Thọ. Với mỗi lời nguyện, Hoàng cư sĩ đều chú giải tỉ mỉ nguyên do. Đến phần nói về chánh báo, y báo trang nghiêm Cực Lạc, Hoàng cư sĩ giảng tỉ mỉ những thứ trang nghiêm ấy do từng bổn nguyện nào kết thành.
Điểm đặc biệt hơn nữa là Hoàng cư sĩ đă khéo dung hội những quan điểm khác nhau của Thiền, Tịnh, Mật khiến cho người đọc thấy rơ pháp vị dung thông, nhất như giữa các pháp môn, làm nổi bật bản hoài vĩ đại của chư Phật: khai, thị ngộ nhập tri kiến Phật cho chúng sanh. Ngoài ra, đối với những từ ngữ Phật học chuyên biệt được dùng trong bản kinh này, Hoàng lăo cư sĩ cũng chẳng tiếc công chú giải tường tận. Trong lời giới thiệu, Ḥa Thượng Tịnh Không đă nhiệt liệt ca ngợi công tŕnh tâm huyết này của Hoàng lăo cư sĩ.
Được đọc một tác phẩm giá trị như thế, mạt nhân thường cầu nguyện bản chú giải sẽ được một vị thạc đức quảng văn phiên dịch sang Việt ngữ. Nhưng chờ măi năm này qua tháng khác, quang âm ṃn mỏi vẫn không thấy bản chú giải này được ai phiên dịch. V́ ḷng tiếc pháp, tham pháp và với tâm niệm chia sẻ pháp lạc cùng các liên hữu đồng tu Tịnh Độ, mạt nhân đă đánh liều chuyển ngữ tác phẩm này sang tiếng Việt dù tŕnh độ thế học lẫn đạo học hết sức kém cỏi. Mạt nhân chỉ hy vọng việc làm liều lĩnh của ḿnh sẽ khiến cho những bậc thức giả chú ư đến tác phẩm giá trị này và sẽ bỏ công chỉ điểm, hoàn chỉnh bản dịch này hoặc dịch lại hoàn toàn.
Do tŕnh độ Hán văn quá kém cỏi cũng như hiểu biết về thế học lẫn Phật học quá hạn hẹp, bản dịch nháp này không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót. Ngưỡng mong chư tôn đức, thức giả thương xót chỉ dạy và phủ chính cho.
Nếu như việc làm liều lĩnh này có đem lại chút lợi lạc nào cho các vị đồng tu Tịnh nghiệp th́ trên là xin đem công đức ấy hồi hướng đến bổn sư Thượng Tọa thượng Giải hạ Thắng, tọa chủ chùa Bửu Quang, Sài G̣n và các vị ân sư hoằng truyền Tịnh tông: cố Ḥa Thượng thượng Thiền hạ Tâm, Đại Lăo Ḥa Thượng thượng Trí hạ Tịnh, Đại Lăo Ḥa Thượng thượng Tịnh hạ Không, lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ cùng các liên hữu thuộc Tịnh Tông Học Hội Đài Loan đă phát tâm ấn thí tác phẩm vô giá này khiến cho mạt nhân có cơ duyên được đọc; dưới th́ xin phổ nguyện pháp giới chúng sanh đều được văng sanh Cực Lạc, viên thành chánh quả.
Xin chân thành cảm tạ các vị đạo hữu Từ Hỷ, Huệ Trang, Không Châu, Tâm Từ đă nhiều lần khuyến khích, sách tấn mạt nhân cố gắng hoàn thành việc chuyển ngữ. Trân trọng cảm tạ các đạo hữu Minh Lập, Huệ Trang và Vạn Từ đă bỏ công duyệt bản thảo tỉ mỉ và góp ư sửa chữa. Đạo hữu Vạn Từ c̣n bỏ công tra cứu các tài liệu để t́m ra niên đại của các dịch giả năm bản dịch kinh Vô Lượng Thọ cũng như lược sử ngài U Khê (tác giả cuốn Viên Trung Sao thường được Hoàng lăo cư sĩ nhắc tới nhiều lần trong bản chú giải này) Nguyện hồng ân Tam Bảo thường gia hộ cho các vị thiện tri thức trên thân tâm luôn an lạc, đạo hạnh tăng tấn, một hậu cùng được hội ngộ chốn Liên Đài.
Mùa An Cư năm 2002, Bửu Quang tự
đệ tử Như Ḥa kính ghi
Ḥa Thượng Thích Tịnh Không
Mùa Thu năm Bính Dần, tôi
thường qua lại cả hai miền Đông Tây
nước Mỹ hoằng pháp, viếng thăm cả
mười thành phố lớn. Trong số kiều bào, có không
ít vị tin tưởng vào cơi Tịnh Độ của
Phật Di Đà, phát nguyện tu hành đúng như kinh giáo. Tôi
mừng vui vô lượng, biết họ thiện căn
phước đức thật chẳng thể tính kể.
Viếng thành phố Lạc Sam Ky (
Tôi đáp: ‘Thật là thuần hiếu. Việc lành ấy hơn cả việc tụ tập thân hữu chúc tụng, nâng chén chúc thọ nữa v́ đem Thọ kinh này trao cho mọi người th́ sẽ được hưởng vô lượng thọ’. Tôi lại bảo: ‘Mùa xuân năm nay, Tuyết sư (cư sĩ Lư Bỉnh Nam, thầy của Ḥa Thượng Tịnh Không) quy Tây, tôi muốn báo ân pháp nhũ của thầy, tính giảng bản hội tập kinh Vô Lượng Thọ của Đại Sĩ Hạ Liên Cư. Thầy tôi trước đây hay giảng kinh này ở Đài Trung, từng đích thân ghi chú trên lề sách, duyệt kỹ lời đề tựa của hai vị Mai, Hoàng (Mai Quang Hy và Hoàng Niệm Tổ) cũng như lời bạt của cụ Niệm Tổ; nồng nhiệt khen hay. Thầy bảo mười bốn khoản ca ngợi kinh Vô Lượng Thọ trong bài Hợp Tán đă nêu trọn bản hoài của chư Phật, đích thật là cả một tấm ḷng tha thiết. Mở sách ra đọc, buồn vui lẫn lộn!’
Anh em họ Hoắc phát tâm xin ấn tống hai ngàn bộ, tôi lănh ấn tống tám ngàn bộ, lại hứa sẽ tận lực tuyên dương nhằm kết thắng duyên khiến muôn người sanh Tây.
Giữa Xuân năm Đinh Măo, kinh Vô Lượng Thọ in xong, thí khắp trong ngoài nước, lưu truyền rộng răi. Chỉ nguyện Phật thanh rền vang khắp tam thiên đại thiên thế giới, chín phẩm sen gieo khắp biển khổ. Đầu tháng Tư, hội Phật Giáo Hoa Thịnh Đốn thành lập, các liên hữu suy cử tôi làm hội trưởng, xin giảng đại ư kinh Vô Lượng Thọ. Những vị đồng tu từ Hoa Tạng Tinh Xá đến báo họ đă lễ thỉnh cụ Hoàng Niệm Tổ sang Mỹ hoằng pháp, tôi khen ngợi: ‘Cụ Hoàng là truyền nhân của Liên Đại Sĩ (cụ Hạ Liên Cư). Cơi này may mắn sao cảm được điềm lành ứng hiện, thật sung sướng quá!’.
Tôi lại dặn ḍ đại chúng
phải khéo thờ kính pháp sư, phải trân quư thắng
duyên hy hữu này. Tháng Tám, trong khóa tu học Hạ Linh Doanh
tại chùa Trang Nghiêm ở Nữu Ước, tôi giảng
Phổ Hiền Nguyện Vương. Đến ngày măn khóa, tôi
qua Hoa Thịnh Đốn rồi trở về Đạt Lạp
Tư (
Đọc xong, xếp sách thở dài tự nhủ:
‘Nay là thời chánh pháp suy vi rồi; thiếu người đề xướng, hội bản của cụ Hạ Liên Cư tuy đă lưu hành nhưng vẫn chưa đủ, c̣n nhiều người chưa được thấy nghe. Tôi đă mấy phen xướng xuất ấn hành nhưng vẫn chưa có đủ để mỗi người được có một cuốn.
Huống hồ là kẻ giảng kinh này đă ít, người chú giải kinh này càng ít! Thường chỉ thấy lưu hành những bản như Tiên Chú của cư sĩ Đinh Phước Bảo, Nghĩa Sớ của ngài Cát Tạng đời Đường, Nghĩa Sớ của ngài Huệ Viễn đời Tùy mà thôi. So trong ba bản trên, bản của ngài Huệ Viễn minh bạch, tường tận nhất. Tiếc là văn từ giản ước khiến cho người thời nay khó ḷng nghiên cứu, học hỏi.
Từ trước, tôi từng nghĩ bản kinh bậc nhất trọng yếu hy hữu này thật là lời giảng xứng tánh đến cùng cực của Như Lai, là pháp thức hóa độ sẵn có của chúng sanh, là liễu nghĩa Nhất Thừa, là tổng tŕ môn của vạn hạnh, là cương lănh của mọi kinh Tịnh Độ, là chỗ quy hướng của giáo pháp toàn bộ Đại Tạng, là đại kinh căn bản của ba kinh Tịnh Độ. Măi vẫn chưa thấy có bậc hiền đức đương thời chú giải, thường ăn năn, tiếc nuối thời gian dần trôi, nào ngờ ngày nay có được bản Chú Giải này, thật là điềm chánh pháp lại được hưng khởi đấy ư, là do phước đức nhân duyên của chúng sanh cảm thành đấy chăng!”
Đọc lại lượt nữa, càng thấy lời chú giải kinh tường tận, tỉ mỉ, giảng nghĩa tinh yếu, xác đáng, dẫn chứng rộng răi. Lời văn thành thực khuyên lơn hành nhân phải coi việc sắm sửa tư lương Tịnh nghiệp là nhiệm vụ cấp bách đă cảm động người đọc sâu xa.
Ôi chao! Pháp môn Tịnh Độ cực khó tin mà cực dễ hành, thật khó giảng rơ nghĩa kinh. Nay đă có được bản hội tập kinh như thế, lại có bản chú giải kinh như thế th́ thật là đă sẵn phương tiện hỗ trợ làm sáng tỏ nghĩa kinh. Việc hoằng giảng tuyên dương càng dễ dàng hơn!
Tôi nay tuổi đă hoa giáp (sáu mươi), tin tưởng sâu xa pháp môn Tịnh Độ là pháp môn độ sanh thành Phật bậc nhất của hết thảy chư Phật. Kẻ có chí hướng Đại Thừa ắt phải đọc, người phổ độ hữu t́nh phải hoằng truyền bản kinh này, phải phát nguyện đến tột đời vị lai đọc tụng, khuyên lơn, sách tấn vậy. Bởi thế, tôi sốt sắng nhận trách nhiệm lưu thông, xin ấn hành mười ngàn bộ. Nhận trách nhiệm xướng xuất, tha thiết nguyện cầu thực hiện bổn nguyện của cụ Niệm Tổ: các nơi nghe tiếng đua theo, kẻ in vô lượng, người đọc vô lượng, người phát tâm được hưởng lợi ích cũng vô lượng, thí trọn pháp giới để văn hồi kiếp vận.
Trong lời bạt, cụ Niệm Tổ có nói:
‘Kinh này in thêm một bộ, người tŕ tụng tăng thêm một người th́ giảm thiểu được một phần nghiệp lực, văn hồi được một phần kiếp vận thế gian.
Ngưỡng mong những bậc trưởng đức hoằng pháp, bậc hiền đức hằng lo âu cho đời sẽ hợp lực đề xướng, phổ biến, tuyên truyền khiến cho bộ khế kinh chiếu chơn đạt tục, sự lư viên dung này, bộ bảo điển gồm thâu phàm thánh, tánh đức tu đức bất nhị này được quang minh rạng rỡ khiến cho Phật nhật luôn rạng ngời, tai họa dần tiêu tan, hỗ trợ kỷ cương đạo đức. Thật là vị tướng vĩ đại có hiệu lực chẳng thể thí dụ nổi!
Trong những kế sách b́nh trị từ cội gốc không chi hay hơn nổi kinh này, trong những yếu quyết cứu đời cũng không chi vượt nổi kinh này. Các vị tuổi tác, thạc đức trọng vọng đều cùng nhận xét như thế, xin chớ xem thường vậy!’
Hay sao lời nhận xét ấy! Thật là chẳng thể nghĩ bàn. Những người góp sức biên tập, hiệu đính bản chú giải này gồm các vị: Giản Phong Văn, Diêm Thụy Nhan, Nguyễn Quư Lương, Lư Diễn Trung, Trịnh Quang Huệ v.v… sau khi hiệu đính hoàn tất bản chú giải đă lănh hội sâu xa những điều khai thị trong bản Chú Giải. Ai nấy đều phát đại tâm, nguyện suốt cuộc đời chuyên tâm hoằng truyền.
Các vị Giản, Diêm v.v… đều đă tốt nghiệp đại học tin tưởng ḿnh có duyên thù thắng đối với bản chú giải này nên xin tôi dạy kinh này và học thêm các kinh luận Tịnh Độ khác để tư lương tu tập càng được thêm rộng lớn. Tôi khen ngợi chẳng cùng, chẳng dám nại cớ học vấn thô lậu để từ khước lời thỉnh cầu.
Nguyện những vị đồng tu tâm đồng Phật, nguyện giống như Phật, hiểu biết giống như Phật, hạnh giống như Phật, đều được chư Phật hộ niệm, được hết thảy Bồ Tát ủng hộ, đều đắc thượng phẩm thượng sanh th́ mới chẳng cô phụ nỗi khổ tâm hội tập, chú giải của hai vị Đại Sĩ Hạ Liên Cư và Hoàng Niệm Tổ.
Cụ Hoàng chẳng nề hà sức học tôi kém cỏi, bảo viết lời tựa, v́ nghĩa chẳng dám chối từ, đành xin thuật lại nhân duyên thù thắng để thưa chuyện cùng các thiện tín mà thôi.
Ngày Chư Phật Hoan Hỷ (Vu Lan)
năm Mậu Th́n (1988)
Tịnh nghiệp học nhân Thích Tịnh Không
kính ghi tại Hội Phật Giáo Hoa Thịnh Đốn
---o0o---
Chú giải kinh tạm xong, lại xin bày tỏ đôi lời. Niệm Tổ tôi chướng sâu, phước mỏng, kiếp phù sinh mấy chục năm trôi nổi lênh đênh trong chốn phiền năo, may được từ quang chiếu dội nên mới được dừng nghỉ. Bởi thế, tôi cảm ân, báo ân, liều chết chú giải kinh.
Năm Kỷ Mùi (1979), gạt bỏ việc đời, t́m đủ các kinh luận Trung Hoa, ngoại quốc, khổ tâm t́m ṭi, tham khảo, trăn trở suy nghĩ suốt cả hai năm; măi đến năm Đinh Dậu (1981) liền đóng cửa tạ khách, nhất tâm chú giải. Trong năm ấy, hoàn tất bản thảo đầu tiên; năm kế, hoàn tất bản thảo thứ hai. Năm tiếp đó, chợt bị bịnh nặng, sức chẳng kham nổi, huyết áp tăng cao (220/120), tim bị loạn nhịp, xuất hiện tử mạch. Bởi vậy, trong năm Quư Hợi (1983) phải tạm ngưng viết, đóng cửa tiềm tu; mỗi ngày niệm Phật tu pháp và tŕ chú vài vạn câu.
Mùa Xuân năm Giáp Tư (1984), y tá cảnh cáo phải chú ư nghỉ ngơi, nhưng tôi thấy vô thường nhanh chóng, thời gian chẳng chờ đợi ḿnh, sợ chưa viết xong sách đă mất mạng, chẳng dám nghỉ ngơi để tự giữ thân. Do đó, cố gắng viết hoàn tất bản thảo thứ ba. Mất cả sáu năm mới tạm hoàn tất. Trí cạn lực cùn nên bản chú giải ắt có nhiều điểm sai lầm. V́ vậy, trước hết chỉ in cảo bản để rộng cầu được các bậc thức giả chỉ ra những chỗ sai lầm rồi sửa đổi sau, chỉ mong tạm bày sơ lược ư kinh để báo ân Phật.
Suốt mấy năm tận lực chú giải kinh, hoặc gặp khi trời quá nóng, mồ hôi thấm ướt bản thảo; hoặc có lúc cảm xúc ân Phật, lệ đẫm nét bút; hoặc có lúc toàn thân lông tóc dựng cả lên, ư tứ, câu văn cứ tuôn tràn ra; hoặc có lúc đang bế tắc chợt hiểu ra, vỗ bàn kêu lớn!
Tôi vốn toan báo ân Phật, nhưng càng muốn báo ân càng cảm thấy ân Phật khó báo. Phát tâm chú giải th́ lại do chú giải mới càng thấy ư nghĩa kinh thật u huyền. Đối với lẽ Thiền, Tịnh, Mật dung thông nhất vị, phương tiện rốt ráo tŕ danh, cảnh giới sự sự vô ngại trong Đại kinh, càng suy xét sâu hơn càng thấy biển cả Phật pháp viên dung tuyệt hẳn đối đăi, vi diệu, tinh thâm chẳng thể cùng tận; mới biết là Đại kinh như biển cả, c̣n lời chú giải ở đây chưa bằng nổi giọt nước đọng nơi đầu sợi lông. Chỉ mong người khác tự tin nơi bản thân ḿnh, do giọt nước này sẽ biết đến biển cả.
Pháp này viên dung, siêu t́nh ly kiến, như những hạt châu nơi lưới Thiên Đế trùng trùng vô tận. Vô biên lời răn dạy, vô tận đà ra ni, tám vạn bốn ngàn pháp môn, hết thảy vô lượng vô biên diệu pháp như thế đều có thể nhập vào trong mỗi một pháp, như quang sắc tỏa ra từ ngàn viên châu đều nhập trong mỗi một viên châu. Trong mỗi một viên châu gồm trọn ngàn viên châu. Bởi thế, Đại kinh gồm trọn vô tận tạng. Sáu chữ hồng danh gồm trọn hết thảy pháp. Tịnh Độ chính là Thiền.
Kinh nói: ‘Dùng cái tâm
chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật… chẳng nhọc
phương tiện, tự được tâm khai’ và ‘Chỉ
cần niệm A Di Đà đă là vô thượng thâm diệu
thiền’. Tịnh tông cũng chính là Mật, một câu
Di Đà chính là chơn ngôn (câu đầu của chú Văng Sanh chính
là thánh hiệu Di Đà bằng tiếng Phạn. Namo amitabhaya
tathagataya:
Nếu xét theo lư thể th́ ‘pháp này b́nh đẳng, chẳng có cao thấp’. Tám vạn bốn ngàn pháp môn, pháp nào cũng dẫn về Viên Đốn, môn nào cũng là hạt châu nơi lưới Thiên Đế. Bởi thế, những lời lẽ tán dương Tịnh Độ trong bản chú giải đây cũng là lời tán dương Thiền, ca tụng Mật, khen ngợi hết thảy pháp.
Phật pháp như chiên đàn cắt thành miếng, miếng nào cũng thơm; như đổ thủy ngân ra, giọt thủy ngân nào cũng tṛn xoe. Nếu luận về mặt thích ứng căn cơ th́ thiên sai vạn biệt, khó dễ cả một trời một vực, trong đại b́nh đẳng hiển lộ sự sai biệt đến tột cùng. Trong ngàn muôn viên châu, chỉ có một viên ngọc Tịnh pháp đối với kẻ phàm phu c̣n đầy dẫy phiền năo là dễ nghe, dễ biết, dễ tin, dễ nhập. Trong hết thảy pháp, Tịnh Độ là pháp dễ hành nhất.
Pháp môn Tịnh Độ lại gồm trọn muôn pháp, đốn siêu tam thừa, tâm này làm Phật, tâm này là Phật, đương hạ cứu cánh. Niệm Phật chính là có công tu đức th́ Phật hiệu chính là tánh đức mới hiển. ‘Bằng với chư Thánh trong một lời, vượt khỏi ba a tăng kỳ trong một niệm’, nhiếp khắp muôn loại, hội quy Nhất Thừa, vượt ngang khỏi tam giới, chứng trọn bốn cơi Tịnh Độ. V́ thế, trong hết thảy pháp, trước hết phải hoằng dương Tịnh Độ.
Pháp môn vi diệu thù thắng như vậy ‘chỉ có Phật với Phật mới có thể thấu hiểu rốt ráo’. Niệm Tổ là kẻ hạ ngu dám đâu lạm bàn, kính mong chư vị Tăng, tục khắp nơi, những bậc đại đức tu lâu, chẳng tiếc ḷng từ bi chỉ dạy đính chánh cho, thật mong lắm thay.
Hoàng Niệm Tổ cung kính đảnh lễ
Đầu Thu năm Giáp Tư
Đại kinh hợp tán
(Lời khen ngợi chung kinh Vô Lượng Thọ)
Muốn tu Tịnh Độ ắt phải đọc kinh này v́ kinh này là cương yếu của mọi kinh Tịnh Độ. Không đọc kinh này th́ chẳng thể thâm nhập, có đọc mới có thể tổng tŕ. Người tu Tịnh nghiệp chẳng thể không đọc v́ kinh này thuật đủ không sót nhân quả thế gian, xuất thế gian, sự khổ điều vui. Không đọc kỹ chẳng thể chánh tín. Đối với những y báo, chánh báo cơi Cực Lạc, pháp thức tu tŕ nếu không đọc kinh này th́ khó ḷng hiểu nổi.
Kẻ tu Thiền cần phải đọc kinh này v́ pháp môn này chính là vô thượng thâm diệu Thiền. V́ Di Đà chính là tự tánh, v́ Tịnh Độ chính là duy tâm. Có Thiền, có Tịnh Độ như hổ mọc thêm sừng. Hơn nữa, Thiền chính là Tịnh, Tịnh chính là Thiền; ngoài Tịnh chẳng có Thiền, chẳng tin Tịnh Độ chính là chẳng tin Thiền, mà cũng chính là chẳng tin vào tự tâm vậy.
Người học Mật cần phải đọc kinh này v́ tự ngay đầu kinh, đức Thượng Sư thuyết pháp, nhập địa vị Quán Đảnh, thọ kư Bồ Đề, đến đạo tràng trang nghiêm, Bổn Tôn phóng quang, toàn bộ bốn thứ mạn đà la đều được đầy đủ. Hơn nữa, cơi Mật Nghiêm nào khác với Cực Lạc.
Người tu theo tông Hiền Thủ chẳng thể không đọc kinh này v́ các đại Bồ Tát cùng tuân hạnh đức của Phổ Hiền đại sĩ, chỗ nào cũng dẫn dắt về Cực Lạc; v́ kinh này thuần hiển lư sự vô ngại, mà cũng v́ kinh này chính là Trung Bổn Hoa Nghiêm, v́ Cực Lạc chính là Hoa Tạng.
Tông Thiên Thai chẳng thể chẳng đọc kinh này v́ hễ thành kính đọc theo kinh văn này th́ Chỉ lẫn Quán đều vẹn, chẳng cần phải theo thứ lớp mà vào ngay môn viên đốn tự tại; v́ cảnh chính là tâm, tâm chính là cảnh; v́ hội tam quy nhất. Lại cũng chính v́ kinh này chính là như kinh Pháp Hoa đă dạy: ‘Chỉ một sự thật duy nhất, c̣n hai sự khác thời chẳng phải là chơn thật’.
Pháp Tướng tông chẳng thể không đọc kinh này v́ y báo, chánh báo cơi Cực Lạc chính là Pháp Tướng, v́ tín nguyện tŕ danh chính là Duy Thức. Do nguyện sanh mà ngộ vô sanh, do Y Tha chứng được Viên Thật, v́ nhập hữu đắc không, chuyển thức thành trí.
Người đă tŕ kinh Tiểu Bổn càng lại nên đọc kinh này, đốn giác tâm địa khai minh. Đă đọc kinh này lại đọc kinh Tiểu Bổn mới thấy chỗ giản dị, vi diệu, tinh thuần, thiết thực. Nương theo kinh này phát tâm Bồ Đề, một bề chuyên niệm th́ mới đắc nhất tâm bất loạn, chẳng thể chuyên niệm th́ thật khó mà nhất tâm.
Người đọc Quán kinh xong nên đọc kinh này để càng thêm tin ‘tâm này làm Phật, tâm này là Phật’, v́ kinh này càng giảng tường tận về việc tu tập ba phước. Hơn nữa, so với những pháp nhật quán, thủy quán cho đến bảo thọ, Bồ Tát Phật quán trong Quán kinh th́ cách tu tập trong kinh này lại càng thiết yếu, dễ tu hơn nữa.
Kẻ chưa tin Phật càng chẳng thể không đọc kinh này v́ kinh này có khả năng phát khởi chánh tín, nhân duyên nguyện lực xuất sanh thiện căn, v́ kinh này có thể gieo hạt giống đạo vĩnh viễn vào mảnh ruộng thức ô nhiễm. Đọc kinh này th́ dẫu chẳng tin Phật cũng chẳng trở thành kẻ ác.
Kẻ thích văn tự càng chẳng thể không đọc kinh này v́ kinh này chọn lọc những điều thanh nhă, giản khiết từ cả năm bản dịch Hán, Ngụy, Đường, Ngô, Tống; đọc kỹ sẽ hiểu phương pháp hành văn khiến cho văn chương càng thêm cao diệu; lại nếu dùng Bát Nhă để quán chiếu văn tự th́ sẽ thông đạt được Thật Tướng.
Người hướng đến Đại thừa nhất định phải đọc kinh này v́ trong kinh nói: ‘Đúng như lời dạy mà tu hành th́ chẳng phải là Tiểu thừa, đáng gọi là đệ tử bậc nhất trong pháp ta’. Người này đă từng gặp gỡ đức Phật quá khứ, được thọ kư Bồ Đề, vô lượng ức Bồ Tát thảy đều cầu pháp môn vi diệu này, tôn trọng nghe nhận, có nhiều vị Bồ Tát muốn được nghe kinh này mà chẳng được nghe.
Kẻ học Nho chẳng thể chẳng đọc kinh này v́ một bề chuyên niệm chính là ‘thành ư chánh tâm’. Phát Bồ Đề tâm mới có thể ‘minh đức tân dân’, cùng sanh Cực Lạc th́ mới có thể ‘chỉ ư chí thiện’. Sự tịch cảm của kinh Dịch, sự tinh nhất của kinh Thư, sự không điều ǵ chẳng kính của kinh Lễ, sự suy nghĩ chẳng tà của kinh Thi đều gồm trọn trong kinh này.
Chẳng luận là kẻ đang theo việc quân, người làm việc nước, kẻ đang học hành, người bận kinh doanh ai cũng không thể không đọc kinh này v́ kinh này đối trị tham, sân, si, tiêu nghiệp, đoạn trừ tập khí, tăng phước khai huệ, uốn nắn tâm người, cải hóa phong tục, tiêu tai hóa kiếp, khiến cho vận nước xương long, thế giới b́nh an. Kinh này chính là vô tận bảo tạng vậy.
Chẳng luận tăng, tục, trai, gái, ai cũng không thể không đọc kinh này v́ kinh này độ khắp ba căn, trị lành các bịnh, dẹp khổ ban vui, là đèn sáng phá tối tăm, là thuyền từ để vượt biển nghiệp, thật là Nhất Thừa liễu nghĩa, tổng môn của vạn thiện, được mười phương chư Phật khen ngợi.
(Bửu Quang tự đệ tử Như Ḥa dịch xong ngày 02 tháng 07 năm 2002)
Nguyện xin việc chuyển ngữ bản chú giải này nếu có chút phần công đức nào th́ đều xin hồi hướng cho pháp giới chúng sanh, hết thảy u hiển thánh phàm cùng sanh Cực Lạc, cùng chứng đại Bồ Đề.
Niên Sử Năm Bản Hán Dịch
Vạn Từ soạn
Như quyển Chú Giải nầy đă cho biết rằng kinh Vô Lượng Thọ khi được chuyển dịch sang Hán văn có đến 12 bản dịch khác nhau, lưu truyền được đến ngày nay chỉ c̣n 5 bản. Khi chuyển dịch sách nầy sang Việt ngữ, chúng tôi xin nêu ra sử và bối cảnh của 5 bản dịch nầy.
1-Vô Lượng Thọ Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác Kinh được dịch vào năm 186 bởi ngài Chi Lâu Ca Sấm dưới thời vua Linh Đế triều Hậu Hán (25-220 sau CN).
Ngài Chi Lâu Ca Sấm là người nước Đại Nhục Chi, đến Lạc Dương vào những năm cuối thời Hán Hoàn Đế (147-167). Trong khoảng 178-189, ngài dịch được hơn 20 bộ kinh như: kinh Đạo Hành Bát Nhă, kinh Bát Chu Tam Muội, kinh A Xà Thế Vương, kinh Thủ Lăng Nghiêm...
Ngài là người đầu tiên dịch thuật và truyền bá kinh điển thuộc hệ Bát Nhă vào Trung Quốc. Riêng kinh Bát Chu Tam Muội góp phần h́nh thành tư tưởng Di Đà Tịnh Độ vào thời kỳ sơ khai, như về sau có ngài Lô Sơn Huệ Viễn lấy kinh nầy làm nền tảng để lập nên Bạch Liên Xă.
Ngài là người giới hạnh thanh cao, cần mẫn tu tập, suốt cả đời lấy chí nguyện hoằng dương Phật Pháp làm trọng trách. Phong cách phiên dịch của Ngài là không câu nệ nơi lời văn trau chuốt, mà chỉ cần dịch toát được ư kinh. Ngài mất vào năm nào sử không ghi rơ.
2- Phật Thuyết A Di Đà Tam Da Tam Phật Tát Lâu Phật Đàn Quá Độ Nhân Đạo Kinh do ngài Chi Khiêm dịch vào năm 228 vào đời Ngô (222-280)
Ngài Chi Khiêm vốn là cư sĩ, tự là Cung Minh, xuất thân từ nước Đại Nhục Chi. Dưới thời Hán Linh Đế (168-189), theo học với ngài Chi Lượng là đệ tử ngài Chi Câu La Sấm.
Cuối triều Hậu Hán, xảy ra cục diện loạn lạc Tam Quốc phân tranh, Ngài chạy loạn vào đất Ngô, được Ngô Vương Tôn Quyền triệu kiến, lại hỏi về những điều thâm áo của Phật Pháp, ngài Chi Khiêm tùy nghi ứng đáp minh bạch. Ngô Vương rất cảm phục tôn Ngài làm Bác Sĩ để dạy cho Thái Tử Tôn Lượng.
Trong khoảng năm 222-253, Ngài dốc sức dịch được hơn 30 quyển kinh như: Kinh Duy Ma Cật, Kinh Đại Bát Nê Hoàn, Pháp Cú, Bát Sư.... Văn phong của Ngài rất uyển chuyển lưu loát.
Lúc Thái Tử lên ngôi, Ngài lui về ẩn cư nơi núi Khung Ải, gạt mọi việc đời, theo ngài Trúc Pháp Lan tu tập. Mất năm 60 tuổi.
3- Vô Lượng Thọ Kinh do ngài Khang Tăng Khải dịch vào năm 252 tại chùa Bạch Mă, Lạc Dương.
Hiện nay các sử liệu c̣n lưu lại cho chúng ta biết rất ít về ngài Khang Tăng Khải, chỉ biết rằng Ngài xuất thân từ Thiên Trúc. Cuối niên hiệu Gia B́nh (252), Ngài đến ngụ tại Lạc Dương kinh đô triều Tào Ngụy (220-263) một trong ba nước thời Tam Quốc. Trong thời gian ở Lạc Dương, Ngài ngụ tại chùa Bạch Mă, nơi đây Ngài dịch các kinh sau: Úc Già Trưởng Giả Vấn Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh, Tứ Phần Tạp Yết Ma...
4- Vô Lượng Thọ Như Lai Hội, bản nầy trích từ kinh Đại Bảo Tích, do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch vào năm 706 vào đời Đường (618-907).
Ngài Bồ Đề Lưu Chí là người Nam Thiên Trúc, xuất thân từ giai cấp Bà La Môn, tinh thông thiên văn, địa lư, lịch số, chú thuật, y phương, cùng các học thuyết ngoại đạo. Năm 60 tuổi ngộ được chỗ thâm diệu của đạo Phật. Năm 67 tuổi xuất gia tu hạnh đầu đà. Từ đấy Ngài nổi danh là uyên bác.
V́ nghe danh nên vua Đường Cao Tông (650-683) cho người cung thỉnh Ngài sang Trung Quốc hoằng pháp; v́ ḷng đại bi thương xót chúng sanh trong ṿng sanh tử, Ngài nhận lời mời. Đến Trung Quốc không bao lâu th́ vua Cao Tông băng hà. Năm Trường Thọ thứ 2 (693), Vơ Hậu Tắc Thiên thỉnh Ngài trụ tại chùa Phật Thọ Kư ở thành Lạc Dương; tại đây Ngài dịch được 11 bộ kinh như : Phật Cảnh Giới, Bảo Vũ... Vơ Hậu Tắc Thiên cũng hạ chiếu thỉnh Ngài dịch và giảng Kinh Đại Bảo Tích.
Năm 706 đời vua Đường Trung Tông, Ngài dời đến chùa Sùng Phước, Trường An, tiếp tục dịch thêm được nhiều kinh khác. Công tŕnh lớn nhất của Ngài là duyệt và dịch lại những hội chưa hoàn chỉnh của Kinh Đại Bảo Tích, Ngài làm việc ṛng ră suốt 8 năm để hoàn tất việc nầy.
Tháng 9 năm Khai Nguyên thứ 15 (727) đời vua Đường Huyền Tông, tại chùa Trường Thọ, Lạc Dương, Ngài tuyệt thực, không thuốc men mà thần sắc vẫn tươi tỉnh. Ngày 5 tháng 11 Ngài an nhiên thị tịch. Vua truy tặng chức Hồng Lô Đại Khanh, ban thụy hiệu là Khai Nguyên Nhất Thiết Biến Tri Tam Tạng.
Về tuổi thọ của Ngài th́ có thuyết cho rằng 166 tuổi, nhưng có nơi lại nói rằng 156 tuổi và khi sang Trung Quốc th́ Ngài đă 123 tuổi.
5- Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Trang Nghiêm Kinh do ngài Pháp Hiền dịch vào năm 980 dưới thời Bắc Tống (960-1127).
Hiện nay chúng ta chỉ c̣n biết rằng ngài Pháp Hiền xuất thân từ Tây Vực. Năm 980 Ngài dịch kinh tại phủ Hà Trung. Năm 982 được vua ban hiệu Truyền Giáo Đại Sư. Ngài mất năm 1001 được vua ban thụy hiệu là Huyền Giác Đại Sư. Kinh điển do Ngài dịch khoảng 120 bộ.
Vạn Từ soạn
Ngài U Khê tức là Truyền Đăng Đại Sư một cao tăng sống vào đời Minh (1368-1644), người ở Tây An, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, họ Diệp, hiệu Vô Tận.
Thuở nhỏ lễ ngài Tiến Hiền Ánh Am cầu xuất gia, sau học giáo pháp Thiên Thai nơi ngài Bá Tùng. Năm 1582 đời Minh, nhân thưa hỏi ngài Bá Tùng yếu chỉ Lăng Nghiêm Đại Định, thấy ngài Bá Tùng trừng mắt nh́n quanh, chợt khế nhập, được truyền cà sa tía viền vàng.
Năm 1587, Ngài chọn chùa Cao Minh ở U Khê, núi Thiên Thai, lập Tổ Đ́nh Thiên Thai, dạy dỗ học tăng, nghiên cứu tu tập Thiền và Tịnh Độ. Ngài thường thăng đường giảng pháp. Khi Ngài nhận chức Thụ Nghĩa trước tượng Đại Phật tại Cao Xương cả hội chúng đều nghe tiếng thiên nhạc vang rền. B́nh thời Ngài thường tu các sám pháp: Pháp Hoa, Đại Từ, Quang Minh, Di Đà, Lăng Nghiêm... mỗi năm thực hành 4 pháp Tam Muội. Khi lâm chung, Ngài viết 5 chữ “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”, xướng to đề kinh 2 lần rồi lặng lẽ thị tịch, thọ 75 tuổi. Về năm sinh và năm mất của Ngài th́ không rơ.
Tác phẩm của Ngài gồm có: Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận, Lăng Nghiêm Kinh Huyền Nghĩa 4 quyển, Thiên Thai Sơn Phương Ngoại Chí 30 quyển, Lăng Nghiêm Kinh Viên Thông Sớ 10 quyển, Tánh Thiện Ác Luận 6 quyển, A Di Đà Kinh Lược Giải Viên Trung Sao 2 quyển, Duy Ma Kinh Vô Ngă Sớ 12 quyển, Thiên Thai Truyền Phật Tâm Ấn Kư Chú 2 quyển.
Riêng quyển Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận về sau được Ngẫu Ích Đại Sư xếp vào bộ Tịnh Độ Thập Yếu.
Quyển nhất | Quyển hai | Quyển ba | Quyển tư
--- o0o ---
Source : http://www.niemphat.net/
Sưu tầm : Diệu Mỹ ; Tŕnh bày: Nhị
Tường
Cập nhật: 7-2003