CHỦ ĐỀ
Con thuyền chở
trăng ra biển cả
ĐƯỜNG VỀ
VÔ NGÔN
Bài cuối của
chủ đề “Con đường chở trăng ra
biển cả”
Cư sĩ Liên Hoa

Mây
trắng trong ngần, mây trắng bay
Hư không
tràn ngập khắp phương trời
trở về bến đất
tìm ngọc ẩn
ngọn tháp Chân tâm sáng Pháp đài
Tiếng
chuông nhè nhẹ rõ đêm ngày
thanh ngân
không đến cũng nào đi
chở
người tìm lại tâm vô trụ
sen nở
trong lòng, tâm vẫn xanh
Lời
pháp năm nào vẫn còn đây
dù cho
bảo tháp phủ rừng dầy
đủ
duyên bảo tháp chân tâm hiện
trụ
giữa nhân gian một tấm lòng
Xưa, Bồ tát Đại Nhạo
Thuyết hỏi
Từ Tôn thương xót mở pháp
mầu
Bảo pháp Chân tâm không hoại diệt
tỏ mờ che phủ bởi vọng
mê
Khi các Pháp thân đều nhóm tụ
mười phương khởi mở
Tháp Chơn Như
Như Lai Đa Bảo đồng
xuất hiện
Bên Đức Thích Tôn ngự
một toà
Bodhgaya, bao đời còn in bóng
trên chốn trần gian,
chuyển pháp mầu
rừng lửa sân si bền
kiên cố
một tiếng lòng từ
lửa nở sen
Gió đưa rào rạt lá
bồ đề
dừng bước giang
hồ, bỏ chấp nê
tháp của hữu sinh
thường hữu diệt
xin con tạo tháp ở trong
lòng
Chuông khuya cảnh tĩnh
người say mộng
mộng ngủ trên đồi
hay giấc mơ
trùng khơi sóng vỗ
đời ảo mộng
Đức Phật từ bi vẫn
mỉm cười….
Minh Thanh
Sau một đêm bị gió bão hành hạ,
thành phố
Mọi người co cụm vào nhau, tìm đến từng tấm lòng để sưởi ấm, để chia sẻ trong lúc hoạn nạn, bối rối và tìm kiếm xem lại kẻ còn người mất, nhìn lại những gia sản của mình có còn nguyên vẹn hình hài hay đã là dĩ vãng. Thanh âm còn lại, khô đặc, im ắng hiện rõ trên mắt sâu mất ngủ, trên gương mặt hằn âu lo, đôi môi khô bỏng của mọi người là sự im lặng. Sư im lặng của khoảng không, bất lực. Có còn gì để nói, để bàn tán… khi mọi cảnh vật đều biến hoá vô thường trước cơn thịnh nộ của thiên nhiên. Thế nhưng, qua ngày hôm sau, trời đất lại trong sáng, mang dáng vẻ thanh lịch, hiền hoà, dịu dàng như chưa từng có chuyện gì đã xẩy ra, dù cây cối còn ngả ngổn ngang, dù nhiều mái nhà bị tróc nóc, có chỗ là khoảng trống, chơ vơ, mộc mạc….Thành phố như vừa tĩnh giấc sau một đêm dài với giấc mơ hãi hùng, kinh sợ.
Vào đêm
mưa bão, trên tầng 2 của căn nhà đang cư
ngụ, trước bàn thờ Phật, tôi đã sống
với giây phút thực nhất của cuộc đời
trong chánh niệm, để nhìn rõ chiều sâu của pháp
sinh diệt, trụ hoại, có không v.v…khi bên ngoài từng
cơn gió rít vang như tiếng kêu thảm khốc,
nhức nhói, ghê rợn. Gió như chực muốn cuốn
đi tất cả đi vào hư không, cảm giác căn
nhà như nghiêng đổ, có lúc cũng làm tôi chột
dạ, muốn xuống tầng dưới để chạy
trốn. Nhưng, nhìn lên nét mặt của Đức
Phật vẫn hiền hoà, trang nghiêm, mỉm cười
như chia sẻ cho giây phút thật hiểm nguy của
hiện tại. Tôi đã nhẫn nại ngồi lại, im
lặng, đi sâu vào nội tâm….những giây phút đó sao
nhẹ nhàng quá, như một cánh mây thong dong, bay nhảy
trên những bầu trời bao la, hương vị
của pháp, chất liệu của vô thỉ vô chung, cái tâm
của vô cùng tận. Nếu lúc đó, mình ra đi thì sao…….
Đời sống kéo tôi về hiện
thực, mưa đã không còn mạnh mẽ; gió đã không
còn kêu gào, than khóc. Mọi sự im lặng, dày đặc
trong bóng đêm, thỉnh thoảng vài cơn chớp sáng loé
lên, vẫn còn đâu đây tiếng sấm gầm, như
còn lưu luyến, răn đe trên sinh mạng của con
người. Rồi việc gì cũng phải qua, dù có muôn
ngàn khó khăn, bức bách…..và phải quên đi những gì
đã đến, đã xẩy ra, của ngày qua, phải
đối diện với những gì đang biến
hiện ra trước mặt, hiện tại và dù cho
bất cứ chuyện gì đến đi trong cuộc
đời nầy, dù lớn lao, nguy hiểm cách mấy, đều
rồi cũng phải trôi qua, biến đổi như
một chuyện bình thường khi duyên hợp trụ
tan.
Trong việc giao tiếp với nhiều
người, có những câu thăm hỏi mà vài người
đề cập đến, làm tôi thực sự khó trả lời, như:
- “Đọc
những bài viết của anh, với văn chương,
với tư tưởng phóng khoáng, triết lý Phật giáo
vượt qua những khuôn khổ thông thường,
với mục đích đem đạo vào đời
một cách nhẹ nhàng, thanh thoát, không sáo ngữ, không kinh
điển, nhưng thấm đậm tinh thần
Phật giáo, nơi đó, giáo Pháp được trình bày
tinh khiết, rõ ràng… Nhưng, xin thú thật là anh đừng
buồn nha. Khi gặp anh ngoài đời thường với
con người bằng xương bằng thịt,
trước mặt, thấy thất vọng lắm, vì hình
như anh rất thô thiển, chất phác, chậm chạp,
mộc mạc và đơn giản, thường quá… vậy
mà tôi cứ tưởng tượng là anh phải khác
hơn nhiều với người thường, thánh thiện
hay đặc biệt gì lắm chứ. À, anh viết như
vậy, nhưng mà anh có tu, có thực hành giáp Pháp trong đời
sống hằng ngày không hay là chỉ viết cho văn vẻ,
văn chương cho vui thôi?
Còn chủ
đề “Con thuyền chở trăng ra biển cả” thì
khi nào chấm dứt, vì đã có
mặt rất lâu rồi trên
Trang nhà, hình như đã hơn một năm trôi qua?”.
Thật là tội nghiệp cho tôi, vì từ
lâu rồi, tôi vẫn luôn hay bị người ta chê cười
vì cái sự quê mùa, chân chất của mình và hôm nay, thêm một
lần nữa, câu hỏi và lời phê bình, nhận xét nầy
làm tôi hơi ngượng ngùng, nụ cười trở nên
méo mó, khó coi…..Ồ, như vậy, là bản ngã mình vẫn
còn nguyên vẹn, vì mới nghe lời nói chê bai thì làm như hơi
bị chói tai, nhưng rồi chỉ thoáng qua như gió thoảng,
vì người ta chỉ nhận xét một cách chân thật
qua cặp mắt nhìn thấy, tiếp cận. À, những lời
nhận xét nầy cũng đúng thật, vì mình rất là
quê mùa, cục mịch mà…
Nếu mình viết mà có người đọc,
hiểu và thực hành giáo Pháp thay mình, thì còn gì bằng, vì mỗi
một người hiểu sẽ tu, chuyển hoá nghiệp
để trở nên người tốt, người hữu
ích cho xã hội, thì cũng coi như là mình có tu và có đóng
góp một chút gì đó cho Phật giáo… Còn việc thực hành
giáo Pháp hằng ngày của riêng mình, nghĩ mà mắc cở
lắm…. Xin được im lặng và không dám trả lời.
Hương
thiền đã thấm bao lâu
mỗi
ngày ôm gió cỡi mây sơn hà
hỏi
rằng đi được bao xa?
thưa
rằng, cũng vẫn vòng quanh ta bà….
Minh Thanh
Ồ! Trên cuộc đời nầy, giữa
cõi Ta bà với biết bao nhiêu vấn nạn xẩy ra, khổ
đau, hạnh phúc, phiền não, thanh tịnh, uế trược
v.v.. và dù hoàn cảnh có như thế nào đi nữa, mà được
thư thả, thong dong trong đời sống hằng ngày,
trong hơi thở…để có thể nhìn thấy những
mầu nhiệm có mặt chung quanh, với nét đẹp
thiên nhiên, có hồn, có sức sống … Không phải đó là
điều mà ai cũng mong muốn sao? Đạo Phật
dạy phải tiếp cận, sống thực với cái
tâm trong sáng…. Thì có cần phải hỏi, sẽ đi về
đâu, đến đâu?
Ta lặn
lội bao năm đời sương gió
Tìm chân
thường giữa những chốn đổi thay
một
đôi khi bắt gặp dáng trở về
nhưng là
mộng giữa trùng trùng giấc mộng…
Minh Thanh
Trong lịch sử Y học học Việt
nam, có Hải Thượng Lãn Ông- một Đại Y sư,
có nói rằng: “Thiện
diệc lãn vi hà huống ác. Phú phi sở nguyện, khởi
ưu bần”. Ồ thì ra “Việc
thiện mà còn lười biếng làm nữa, huống chi
là làm ác. Giàu không phải là sự mong cầu, thì có sợ gì
nghèo”.
Tất cả mọi con đường
đi đến bất cứ cảnh giới nào, cũng đều
khởi bước từ cõi ta bà ô trược nầy, phải
trực diện, nhận thức đúng, không chạy trốn
và sống hiện tại….
Buổi sáng Chủ nhật,
được nghỉ ngơi sau những ngày trong tuần
làm việc. Ngồi yên lặng theo dõi tin tức trên màn
ảnh truyền hình, uống tách cà phê sữa. Cho
đến bây giờ, dù là bận rộn, dù bị ngổn
ngang trăm mối ( không biết mối lo gì nữa?) tôi
vẫn thích được uống cà phê phin. Từng
giợt đậm đen rớt xuống ly, hoà lẫn
với sữa, tạo thành một màu sắc ấm êm, thân
thiết.
Cái hương vị của cà phê đã
theo tôi khi còn học Trung học, rồi lên Đại
học với những ngày căng thẳng, cần
phải thức khuya, dậy thật sớm để lo ôn
bài thi cho những kỳ thi ở trường. Đậu
thì còn tiếp tục học, còn nếu rớt thì có quân
trường chờ sẵn. Và cà phê đã đến
với tôi như người tình từng sánh vai, giúp
đở qua những thời kỳ nhiểu nhương,
biến động. Vả lại, tôi lại là
người thích hưởng thụ, thư thái và lại hay
đi tìm những thời gian ngắn ngủi như lúc nầy,
cho tâm bớt mông lung, bay nhảy. Suốt cả cuộc
đời con người đã không phải là thời gian
dài vong thân, chạy đuổi theo con đường dài
ngoằn nghèo trước mặt hay sao? Những giờ
phút hiện tại, khi tìm lại mình, chỉ một giây
phút thôi, ôi sao chợt cảm thấy như đang ở
phương nào….
Từng giọt
đậm đen rớt xuống đời
tan trong
sương gió, bốc hơi say
mùi trần bỗng
chốc bừng cơn tỉnh
thoáng thấy bên
mình, chất ngọt cay
Em đến bao
năm giữa đất trời
hương
thơm xoã tóc mộng thành mây
huyền vào trong
mắt, thơm hương nhụy
pháp nhủ
nương về, tỉnh cuộc say...
Minh Thanh
Thật là tức cười quá, chỉ với tách cà phê buổi sáng mà đã thơ với thẩn, nhưng thử hỏi những ai đã bén ghiền cà phê, hoặc đã từng trải qua những đêm thức trắng, nhìn soi lại mình trong bao cơn bão táp, mưa sa của cuộc đời, mới biết hương vị cà phê ra sao? Có nhiều người dùng chất cafeine của cà phê làm dược chất cho hệ thần kinh lắng dịu tạm thời để chống chỏi lại những cơn buồn ngủ khi cần phài thức, hay để tỉnh táo làm những công việc thiết yếu… Nhưng, nếu ngưòi không ghiền sẽ không biết đến ý nghĩa của cà phê là gì?
Miên man với những chập tư tưởng đến đi, như từng hơi thở ra vào….phải rồi, cà phê đã đi theo Đoàn Hành Hương trên đất Phật. Mọi người ai nấy đều mệt nhoài. May mắn, trong nhóm Bát Chánh Đạo, gồm 6 người đi từ Houston và 2 người đến từ Florida, được gom chung để dễ dàng coi sóc lẫn nhau, sợ thất lạc. Đâu có ai biết chắc là người lớn tuổi, hay người già hay nguời mà trên mặt có nhiều phong trần, cũng vẫn đi lạc như thường, chứ không phải chỉ trẻ nhỏ. Chia nhóm như vậy cũng tốt, mỗi lần lên xuống xe hay mỗi khi đến chỗ Thánh địa vào chiêm bái, cũng dễ nhìn ra mặt nhau, bà con quen thuộc của vài ngày qua, hoặc của kiếp nào đó nay hội tụ lại thành một nhóm, dù mặt mày ai nấy đều bơ phờ, nhưng dung nhan héo úa, tàn tạ thì dù sao cũng vẫn còn coi được được .
Nhóm
chúng tôi, may mắn quá, có vài người thủ sẵn cà
phê gói, nên cũng có lúc thưởng thức được
ly cà phê nóng dù vội vàng, nhưng rất là thú vị, vì do thiếu
thốn đủ thứ. Đặc biệt, vào lúc
nầy, ly cà phê dù tầm thường, lạt nhách cũng
vẫn ngon dễ sợ, làm tỉnh giấc ngủ ngàn
thu….
Văng vẳng từ băng sau xe, có tiếng niệm Phật đều đặn của một chị đi chung nhóm. Tiếng niệm lien tục không dứt khoảng, vang lên lúc lớn lúc nhỏ, như lời tâm tình, lời nhắn nhủ. Hình như là người niệm Phật không biết mệt, nhưng mọi người chung quanh, trong xe, lại cảm thấy mệt nhọc, vì đi đường trường, đôi lúc, ai cũng muốn được im lặng, suy tư hoặc đi thiếp vào giấc ngủ, bù sức lại cho đoạn đường đầy cực nhọc, thiếu thốn như thử sức, thử lòng kiên nhẫn, tín tâm của mọi người. Đường đi vẫn còn xa quá, xe vẫn vùn vụt lao tới theo lịch trình định sẳn, con đường gồ ghề, dằn vặt, nhiều chỗ xe như bị tung lên. Có nhiều đoạn đường đang chạy, khi màn đêm buông xuống, tối mịt mùng như đêm 30, không thấy rõ nhà cửa hay người ở. Thỉnh thoảng, chợt thấy mù mờ của ánh đèn đầu sáng chập chờn, xa xa, hiu quạnh toả ra một khoảng ngắn, thì biết đó là có nhà ở hai bên đoạn đường vừa qua.
Màn đêm phủ khắp mọi phương trời, màu đen kịt. Người tài xế với tay lái dày dặn kinh nghiệm, vẫn lủi xe vượt tốc độ trong đêm tối, và trên xe đang có mấy chục người, có ai biết chuyện gì sẽ xẩy ra và có cần phải biết chuyện gì xẩy ra hay không? Cách duy nhất, trở về với hơi thở, niệm Phật và để cho Phật lo. Đó phải chăng là điều thú vị vi diệu mà người Phật tử có thể mang áp dụng trong đời sống hàng ngày như câu kệ của vị Thiền sư nào đó nói rằng:”Đêm đêm ôm Phật ngủ. Ngày ngày cõng Phật đi. Cùng Phật ngồi một chỗ. Cùng Phật ăn một nồi…”.
Trên xe chỉ còn để đèn mờ mờ, có máy điều hoà không khí, cũng dễ thở. Mọi người chìm vào giấc ngủ mệt. Thỉnh thoảng có tiếng cười của người nào đó, có lẽ đang ngủ bị mớ chăng hay là đang thấy mình đã đến địa điểm hành hương rồi, nên vui mừng? May là xe chạy cũng khá mau, và quen đường, nếu mà gặp phải mà vừa chạy vừa suy nghĩ, rề rề thì không biết chừng nào mới tới nơi được. Vì mọi người đều ao ước mau đến, dù biết rằng khi đến nơi, nước mắt sẽ đổ xuống, lòng nhiều nổi xót xa, tâm tư nặng trĩu như khi đã được đến chiêm bái nhiều địa danh vừa qua, vì nhìn thấy những hình ảnh hoang tàn, hũy hoại do vô minh, do lòng thù hận của con người đã tàn phá, mong xoá để không còn dấu vết của Đấng Từ Tôn, của Giáo Pháp vi diệu mà vì Đại Bi tâm mà Ngài đã đi vào trần gian đầy uế trược để giảng truyền.
Nhưng không có một ai hoặc một thế lực nào có đủ khả năng phá hũy được tuệ giác, hay giá trị tâm linh thực sự của nhân loại, dù họ mang nhãn hiệu hay danh xưng nào đó. Giáo Pháp của Đức Từ Tôn đâu chỉ trụ và tồn tại trên những ảnh tượng, trên di tích còn lưu lại, những đền thờ chùa tháp v.v… vì những gì hữu sinh, hữu tướng sẽ hữu diệt, hữu hoại, vô thường. Cho nên, sức sống đích thực của đạo Phật tồn tại là trong tâm mọi người. Ai là người không có tánh giác? Ai là người không có tánh Phật hoặc không có từ bi trí tuệ trong tâm? “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và đều là Phật sẽ thành”- Đó là nhận thức căn bản và là cứu cánh của đạo Phật muốn khai phá và cống hiến cho giá trị của con người, để đưa con người vượt thoát lên trên những bất hạnh, đau khổ…và để làm con người với vóc dáng xứng đáng hơn.
Ai không muốn nâng cao tâm thức của mình, ai là người không muốn hạnh phúc chân thật, có đời sống giá trị, cao đẹp, hướng thượng. Vì thế, tất cả những hành động đã từng xẩy ra trong lịch sử, của quá khứ chỉ vì do lòng thù hận, cuồng tín, độc tôn, chia rẽ, vô minh, mất nhân tánh nên mới nông nổi thực hiện, và chính vì lẽ đó, đã để lại sự mất mát, một sự thiệt thòi quá to lớn cho nhân loại, khi đã tiêu hũy những công trình nhân bản, đánh mất đi những giá trị tâm linh cao quí, vô giá của mình và của muôn loại.
Nhưng nếu khi con người còn biết hổ thẹn, còn có chút lương tâm, còn có ý thức, còn nhận thức được những đức tánh làm nên con người, chưa nói là làm nên Bậc Thánh Nhân … thì sẽ có sự thống hối thực sự và không thể nào lại đang tâm để tái diễn được những thảm cảnh như vậy, trừ khi không còn con người vì không còn lương tâm hoặc không hiểu nhân tánh là gì và con người sống lùi dần vào những thời đại đồ đá xa xưa.
Chỉ có những người con Phật dù mang tâm phàm phu, còn nhiều cảm xúc, và do lòng kính ngưỡng Đức Phật, nên khi nhìn những cảnh hữu tướng bị hư hoại, suy xụp mà lòng xót xa, rung động…nhưng, trong lòng thì vẫn luôn cầu nguyện cho những ai đã đang tâm tạo ra những vấn nạn nầy, dù bất cứ lý do nào thúc đẩy, thì khi xả bỏ thân tâm bất tịnh, bỏ tâm ác và đều được chuyển hoá để có hạnh phúc, an lạc như câu kệ vẫn thường tụng “ tình dữ vô tình, đồng thành Phật đạo”.
Bổng nhiên, mọi người trong xe đều giật mình, lao xao, vì hình như xe đang chạy chậm lại. Kià….rồi…, hình ảnh Tháp BodhGaya cao vời vợi, còn lưu dấu dù sau bao nhiêu thiên niên kỷ, bao năm tháng thăng trằm, bị che lấp bởi rừng sâu. Hùng tráng quá, đẹp đẻ quá, trang nghiêm quá…. Dù còn đang ngồi trong xe, nhìn qua cửa kiếng, nhưng như có một sự huyền diệu, cảm ứng nào đó, lôi cuốn, làm cho tâm mọi người như bừng sáng hẳn.
Phái đoàn- mọi người ai nấy đều hoan hỉ, hạnh phúc như trào dâng lên trong lòng, nôn nao, xúc động, một tâm trạng khó diễn tả. Làm sao có thể giải thích được hết những làn sóng trong tâm lúc nầy, tâm của niềm vui, tâm của kính ngưỡng, tâm của hạnh phúc chợt bừng lên, tâm của các con người luôn noi theo dấu chân Đức Từ Phụ, dù sinh ra đời không gặp Phật, nhưng may mắn còn đón nhận được Giáo Pháp lưu truyền lại, và mang tâm nguyện đi theo dấu chân của Ngài “Con niệm Phật để lòng nhớ mãi. Hình bóng Người cứu khổ quần sanh. Để theo Ngài trên bước đường. Chúng con khổ, nguyền xin cứu khổ. Chúng con khổ nguyền xin tự độ…”
Xin cho trái tim nầy
là đôi tay nồng ấm
đi bên cạnh cuộc đời
san sẻ những khổ đau
xin cho trên đôi môi
lời oán thù vắng mặt
lửa sân si chực cháy
trở thành hồ nước trong
xin khi đang đau khổ
hãy chấp lại cành sen
mong mọi người hạnh phúc
đem tánh Phật vào đời..
Minh Thanh
Sau khi sắp xếp chỗ ăn ở trong khách sạn, ai nấy đều mệt nhoài. Lần nầy được sắp xếp ở trong một khách sạn do người Tây Tạng làm chủ, đầu tư nên tương đối có điều kiện tốt gấp nhiều lần vài nơi đã đi qua.
Khách sạn lần nầy được rất thoải mái, ấm cúng, vui vẻ làm cho tình tương thân tương ái trên chuyến hành trình sau nhiều ngày qua, tạo thêm nhiều gắn bó, chia sẻ cho nhau những tâm tình tâm linh, an lạc của người con Phật trong khi tu tập.
Thực ra, vì là chuyến đi Hành hương chiêm bái Thánh Tích, chứ không phải là chuyến du lịch, nên các người trong Đoàn Hành Hương không một ai đòi hỏi những gì cầu kỳ, tiện nghi quá đáng, mà chỉ ước muốn đơn giản là có một nơi chốn nghỉ ngơi, ăn uống tương đối để dưỡng sức lại cho cuộc di chuyển đường trường, xa xôi, mệt nhọc, lả người.
Cho nên, khi được ở Khách sạn nầy cũng rất là an ủi, hạnh phúc lắm rồi, vì để bù lại cho có nơi chốn mà Phái đoàn đến để lấy Khách sạn tạm trú qua đêm, sau đoạn đường dài, nhưng lại không có đủ phòng, đành chở nhau đến tá túc tại Chùa một đêm. Đến Chùa tá túc, vì quá đông người với đồ đạc đem theo rất nhiều, do đó, hành lý không ai được lấy xuống khỏi xe, nên không có quần áo sạch để thay, phải mặc “bụi đời” như vậy để ngủ. Thức ăn không có, tự người nào có gì ăn đó, mọi người xếp hàng để đợi phiên mình có nước sôi để nấu mì gói. Trong hoạn nạn cũng có điều hay, vì rất may mắn là trong Đoàn có một người đem theo được đồ nấu nước (resistance). Nên nối đuôi nhau để chờ từng đợt nước sôi đến phiên mình. Hoạt cảnh diễn biến, nhìn thấy thật vui, thật đẹp, tuy nhiên thì cũng thật tội nghiệp cho Ban Tổ Chức chuyến Hành Hương nầy.
Theo như Chương trình dự định, thì ngày mai, Phái đoàn sẽ được hướng dẫn đến chiêm bái Thánh tích Bodhgaya vào buổi sáng sớm và đi chung với nhau, để hành lễ, tụng kinh v.v…
Nhưng, sau buổi cơm chiều nóng ngon tại khách sạn, từng nhóm người riêng rẽ đã đi bộ ra Tháp Bồ Đề Đạo Tràng, tâm trạng có nhiều rung động, cảm xúc. Màn đêm đã tràn ngập, bóng tối vô tình lan khắp, nhưng chung quanh, dọc theo con đường đi đến Đại Tháp, có nhiều ngọn đèn đường giăng mắc, sáng sủa. Hương thơm bay ngào ngạt của muôn loại được cúng, của trầm hương, của tâm thành, của biết bao nhiêu người có mặt nơi đây. Đứng ngắm ngôi Đại Tháp, đến thật gần, cảnh sắc thật đẹp, oai hùng, làm choáng ngợp tâm hồn mọi người.
Tiếng tụng Kinh, tiếng niệm Phật vang rền của mọi sắc dân từ khắp miền trên thế giới đổ về để hành hương, chiêm bái Thánh tích …Nhiều người đang ngồi thiền hoặc trì chú, khắp mọi nơi, chìm sâu trong niềm an lạc khi thực hành Pháp, tạo nên một khung cảnh kỳ vĩ thật không thể tưởng tượng được. Chúng tôi đến đảnh lễ nơi Đại Tháp và đi kinh hành chung quanh Tháp…..
Cũng chính nơi đây, mưa gió bụi trần
Sương khuya xuống, giá lạnh tràn da thịt
Thân xác ốm, sen bồ đề tươm mật
tấm lòng từ, vô lượng nước
đại dương
Cũng chính nơi đây, mãi còn ghi dấu
chốn rừng già, vắng lặng đến cô liêu
Đại sĩ ngồi đó, để thời
gian rời bỏ
chiếc y mòn che thể xác quạnh hiu
cũng chính nơi đây, lời thề còn rõ nét
phóng bát đi, trôi ngược dòng sông đời
thịt nát, xương tan, thân vác vô thường
chưa thành Đạo, bồ đoàn không dời gót
cũng chính nơi đây, Ma vương quậy sóng
bão cuộc đời, thác đổ cuốn vọng
mê
căn nhà xưa nối dài vòng luân chuyển
tìm cội nguồn, sanh tử bến vô sinh
cũng chính nơi đây, Thánh nhân có mặt
đem đạo Hoà bình gieo rắc sinh linh
hương của Từ bi, ngạt ngào Trí tuệ
vô minh buồn, đau khổ trở về Không….
Minh Thanh
Sáng sớm, khi sương chưa kịp tan, còn nhờ nhợ hơi lạnh. Bầu trời còn im tiếng khi ánh mặt trời chưa mở mắt, nhưng tất cả mọi người trong Phái Đoàn đã có mặt tại Phòng Khách của Khách sạn để chuẩn bị đi đến chiêm bái Tháp Bồ đề Đạo Tràng.
Cả một
đêm qua, thật là khó ngủ, vì hình ảnh thân thương,
chiếm lòng người một cách êm dịu và là nơi
ghi đậm dấu vết linh thiêng ngày Thành Đạo của
Đấng Cha Lành. Có phải ngày đó, Ma Vương run sợ,
bóng tối vô minh tan biến và lòng người hớn hở,
tâm chan hoà niềm vui sướng- một vị Giáo chủ của một tôn giáo
lấy Từ Bi và Trí Tuệ, lấy Giáo pháp Giải thoát
chỉ con đường giúp cho muôn loài đến bờ
An Vui, Hạnh Phúc. Giáo Pháp đó không mang hận thù, chia
rẽ, đố kỵ, thần quyền, không có sức
mạnh của vũ khí, bạo lực, áp bức v.v…
nhưng đã lan truyền khắp mọi nơi nơi,
từ cõi trần gian Ta bà uế trược chí đến
các cõi Trời, đều qui ngưỡng, kính lạy.
Ngài không có
quyền uy, danh vọng, sức mạnh, thế lực….nhưng
chất liệu của tình thương và trí tuệ đến
từ sự chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác, và rồi Tuệ giác và Tình thương đó đã
khuất phục được muôn khối vô minh, để
đưa trở về nhân tánh chân thật- đó là thiện nhân để
huân tu, đưa dẫn để trở thành những
vị Tỉnh Thức.
Ồ! Buổi sáng hôm nay có phải cũng giống như một buồi sáng của thời gian trên 25 thế kỷ qua, đón chào vị Bồ Tát vừa thành Chánh quả, với Tuyên ngôn đầu tiên của Đức Phật:
“Xuyên qua nhiều kiếp sống trong luân hồi, Như Lai thênh thang đi, đi mãi. Như Lai đi tìm mà không gặp, Như Lai đi tìm người cất cái nhà nầy. Lập đi lập lại đời sống quả là phiền muộn. Này hỡi người thợ làm nhà, Như Lai đã tìm được ngươi. Từ đâ, ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa. Tất cả sườn nhà đều gãy, cây đòn dông của ngươi dựng lên cũng bị phá tan. Như Lai đã chứng Vô Sanh Bất Diệt và Như Lai đã tận diệt mọi Ái dục” (1)
Gió tươi mát, trong lành, hương thơm ngào ngạt. Có dẫm bước trong khoảng không gian nầy, có đi vào vùng linh địa ngất trời tâm linh nầy, lòng mới cảm nhận và thấu hiểu được nổi niềm Hạnh phúc của biết bao nhiêu chủng loại hữu tình hoặc vô tình khi đón nhận Giáo Pháp Giải thoát.
Lời xưng tán Đức Phật tràn ngập, bay trong không gian, lan toả ra vô tận cõi. Mây lành che phủ, hương hoa rải xuống tràn ngập, hương Giới, hương Định, hương Huệ, hương Giải thoát, hương Giải thoát Tri kiến….. năm hương quyện lấy nhau trong lòng, chạm sâu vào tận đáy tâm của người con Phật.
Tiếng nhạc Trời Càn Thát Bà, của muôn sinh linh hữu hình hoặc vô hình, có tình hay vô tình ….vẫn còn như trổi lên đầy khắp không gian, ca tụng, tán thán, kính ngưỡng, phát tâm dâng cúng.
Vẫn biết rằng:”Nhứt thiết pháp không! Nhứt thiết pháp tùy tâm tưởng!”, nhưng làm sao nói hết được tột cùng tấm lòng của những người con Phật trước nơi chốn có sự hiện hữu của Đấng Cha Lành như trong lịch sử đã ghi nhận.
Những hình
ảnh của ngàn xưa như hiện rõ đến hôm
nay, khúc phim vi diệu của một lần trong muôn một,
soi rõ bóng dáng của một Con Người Vĩ Đại-
một vị Thầy siêu
việt của Trời người.
Qua bốn cửa thành, chứng kiến tận mắt cảnh sống bồng bềnh của kiếp nhân sinh, với sinh già bệnh chết như một hệ lụy tất yếu. Làm sao có thể vượt thoát ra sự thống khổ “thâm căn cố đế” nầy? Làm sao có thể tự tại vượt ra khỏi vòng sinh tử? Nước mắt đau khổ của chúng sinh nhiều hơn biển cả, hạnh phúc chỉ là những giả tạm sinh diệt, vô thường, chớp mắt đã trôi qua, tan biến….Đó là những gì đã thôi thúc, khuyến tấn vị Bồ tát phát tâm dũng mãnh, với tấm lòng hướng thượng, vì đại nguyện cứu khổ muôn loài thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, vì quyết tâm tìm ra Chân lý Giải thoát bất sinh bất diệt, tự giác cho chính mình (Tự giác), hướng giải thoát cho con người (Giác tha) và để viên tròn hạnh nguyện giải thoát (Giác hạnh viên mãn).
Rời bỏ Hoàng cung, từ bỏ tất cả những hạnh phúc giả tạm của riêng mình trên cuộc sống Vương giả, quyền quí…, Thái tử Siddharta đã vượt qua nhiều chặng đường gian nan, tìm đến các nơi chốn của các Đạo sư đương thời… để thọ giáo tu học, tinh tấn và trải nghiệm thực hành, mong tìm được con đường Chân Lý, nhưng rồi kết quả không như ý muốn, vì tất cả các pháp môn đó đều có giới hạn, không đưa đến cứu cánh giải thoát thực sự và Người lại bỏ ra đi….
Bên cạnh ngôi làng nhỏ Sambodhi, Người thả bước chân đi sâu vào khu rừng già, hoang sơ, đầy những bất trắc, muỗi mòng, dã thú, vắng bóng người lai vãng…. Đêm về phủ đầy bóng tối, lạnh lẽo, âm u. Ngày gay gắt nắng, nóng hừng hực như thiêu đốt… những bất thường của môi trường khắc nghiệt xung quanh, của thời tiết đe dọa, cản trở đến sự dấn thân tu học … nhưng đã không làm sờn lòng, chùn bước chân của Bậc Đại sĩ. Thái tử Siddharta đã lấy chính thân mình áp dụng pháp tu khổ hạnh, ép xác….
Sáu năm tu khổ hạnh, dù khu rừng già đã như quen thuộc, dù với mọi hoàn cảnh bức bách của môi trường nơi rừng sâu hoang vu, nhưng tất cả đã bị khuất phục trước nguyện lực lớn của con người hướng thượng, yêu thương mọi loài. Ngược lại, thì thân xác Người còm cõi, khô héo, chỉ còn da bọc xương, đôi mắt hõm sâu… Một lần nữa, nhận thấy cách tu khổ hạnh không phải là pháp tu đưa đến giải thoát, mà chỉ làm kiệt quệ sức khoẻ con người, có thể chết trước khi đạt được Chân lý. Bên dòng sông Ni-liên-thiền (Nairanjana) chảy xuôi theo dòng đời, nước trong mát, có những con sóng lăn tăn nhảy múa. Gió rung nhẹ những cành cây bâng quơ chung quanh. Người đã kiệt quị trong tấm thân tiều tụy, sức lực héo tàn và được người thiếu nữ Sujata dâng bát cháo để Người thọ dụng và từ đó, Người lại quyết từ bỏ lối tu nầy và chọn thực tập theo con đường Trung đạo.
Dưới cội cây Bồ đề, tỏa rộng bóng mát. Người đã đến đây ngồi thiền quán và phát nguyện lớn rằng: “Nếu không đắc quả thành Chánh Giác thì sẽ không bao giờ rời khỏi nơi đây”. Lời nguyện đó làm rung động tam thiên đại thiên thế giới, làm sợ hãi các Ma vương, làm khuynh đảo vọng niệm vô minh. Sau bảy ngày đêm thiền định, miên mật trong giai tầng của nội tâm và với nổ lực không ngừng, khi ánh sáng bình minh vừa ló dạng, cũng là lúc Người đã khám phá ra căn nhà nhân duyên đã ràng buộc muôn loài, lôi kéo trầm luân trong vô lượng kiếp và chứng đắc đạo quả vô thượng A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề (Anuttara-samyak-sambodhi), trở thành Bậc Đại Giác ngộ- một vị Đại Tỉnh Thức trong Hiện kiếp.
Lịch sử và bao nhiêu Kinh sách đã nói đến một sự kiện lịch vĩ đại nầy của một con Người Siêu Việt, trong giờ phút trở thành vị Phật. Nhưng, Kinh sách làm sao nói hết và lịch sử thì chỉ ghi nhận một dữ kiện, nhưng lại không đủ diễn tả hết nội dung hay tâm lực kỳ vĩ được hàm chứa của chính dữ kiện đó. Và, cũng chính từ sự chứng đắc Đạo quả Vô Thượng của Đức Phật- mà một Tôn giáo Hoà bình xuất hiện, vì lợi ích của trời người, của muôn loài mà đem giáo pháp Trí Tuệ Từ Bi đi giáo hoá, chuyển hoá đễ dẫn đến bờ An vui và Hạnh phúc.
Cây bồ đề từ ngàn xưa, nay vẫn còn đó. Cây bồ đề đã tạo bao duyên lành khi che mưa, che nắng cho vị Đạo sĩ trong thời gian tu hành. Cây vẫn vươn cao, khoẻ mạnh, sừng sững giữa khoảng không gian bao la, như một chứng nhân của lịch sử. Lá bồ đề vẫn reo vui trong gió, vẫn luôn khảy khúc nhạc lòng hoan hỷ, hạnh phúc vì có một Thánh nhân vừa đắc đạo quả Vô Thương.
Cây bồ đề đã là biểu tượng cao quí của Phật giáo vì sự liên hệ đến Đức Phật, và hình ảnh đẹp thấm nhuần chất liệu từ bi hỷ xả đó đã lan rộng trên toàn thế giới, thẩm thấu lòng người để khi nhìn đến, nghĩ đến, sẽ làm ấm lòng và khiến chuyển hoá tâm để hướng thượng.
Theo Đại Đường Tây Vực ký của Ngài Huyền Trang, thì lịch sử của ngôi Tháp Bồ Đề Đạo Tràng (BodhGaya) là do Vua A-dục (Asoka) xây dựng. Tuy nhiên, vì thiếu bia ký ghi lại hay do sự phá hoại của các vị Vua vì ganh tị lẫn nhau hoặc là đoàn quân Hồi giáo cuồng tín khi xưa phá hoại, nên chưa chứng thực được.
“Tháp cao 52 mét, nền tháp cao 20 mét
vuông, nằm ở phía Đông của
gốc cây Bồ Đề. Tường của tháp
được xây dựng bằng gạch xanh trộn
với vôi chu nam, các khám tượng của mỗi tầng
đều thếp bằng vàng. Bốn mặt tường
đều đầy những tượng khắc
đẹp: chỗ nầy là hình ảnh những chuổi
ngọc dài, chỗ kia là những vị tiên. Mặt phía
đông có một toà lầu 3 tầng và các mái hiên, cột
trụ và cột nhà cùng các cửa lớn và cửa sổ đều
được trang hoàng với những ảnh
tượng bằng vàng hay bạc, với ngọc ngà dính
vào tượng và các kẽ hở. Về phía tay mặt và
trái, đều có tượng của Bồ tát Quan Thế
Âm và tượng Đức Bồ tát Di Lặc. Những
tượng nầy đều bằng bạc và cao
khoảng 3 mét. Tại chỗ Tháp hiện tại, Vua A
Dục ban đầu có lập một ngôi Chùa nhỏ……”
Phái đoàn Hành Hương đã được
hướng dẫn đi từ Khách sạn ra đến Bồ
Đề Đạo Tràng, vừa đi kinh hành vừa niệm
Phật. Mọi người đều chắp ta trưóc
ngực, những bước chân hoà bình chậm rãi, thanh thoát,
hoà lẫn với tiếng niệm Phật vang rền, chí
thành, quán nguyện, đã làm cho bầu trời hôm đó nhu bị
rung động bởi những âm thanh sấm sét…..Hình ảnh
quả là tuyệt đẹp, đẹp quá…
Bước chân nhẹ,
nhưng rền vang sấm sét
lời kinh xưa, cháy
sạch bóng vô minh
một sớm mai,
sương mờ ôm hơi lạnh
nhưng tâm người,
tiếng niệm Phật dịu êm
trở về đây,
nguồn cội toả sen lòng
Chân tâm nở vô luờng
chân hạnh phúc
Ai bắt gặp dấu
chân trần Vô Thượng
Lòng quay về, xoá bỏ
dấu thiên thu
rồi một hôm, mây
trắng chở vô thường
vô lượng cõi hiện
hình trong vô niệm…
Minh Thanh
Những hình ảnh chân chất, hoà bình,
thân thương xuất phát từ tâm biểu lộ ra đến
bên ngoài, đầy bóng mát, không có hận thù, chiến tranh,
ganh tị, bỏn xẻn…chỉ thuấn thấm chất
liệu an vui.
Tháp Bồ Đề Đạo Tràng vươn
mình lên cao, nhìn lên trên chót vót của đỉnh Tháp- được biết trên
đỉnh Tháp tên được gọi là Mahabodhi Stupa
đang thờ Xá lợi của Đức Phật. Tháp
vẫn còn ẩn hiện
trong màn sương mờ ảo. Những đám mây sương
như còn luyến tiếc bên những ấm áp, an vui khi phủ
lên che đình Tháp. Không khí lành lạnh không biết vì suơng
rơi hay vì chất lửa trí tuệ và từ bi trong tâm mà
mọi người đang cần được thắp
lên, thắp sáng lên, sáng lên để ánh sáng chan hoà rải khắp
mọi nơi.
Hãy trong sáng tấm lòng,
cho từ bi lan rộng
Hãy thắp lửa trí
tuệ,
cho bóng tối không còn
lời nào là lời của
mẹ
ngôn ngữ nào là tiếng
nói của trái tim
một chút gió, chút mây, chút
tâm tình đánh thức
lời
ba cõi bổng trở thành
hoa sen báu
từng giọt nước
lưu ly sanh tử tử sanh
đất bùn, sét dưỡng
nuôi cành sen mộng
phiền não ươm mầm
chất liệu thong dong
ai không một lần vác trời
phiêu bạt
thì làm sao thấu lòng chân giác
đại dương
tâm
Phật vẫn là nguồn soi sáng
từ
bến mê, bờ giác…một bước dừng….
Minh Thanh
Tất cả mọi
người đều quì xuống dưới chân Tháp,
gần ngay gốc cây Bồ đề từ ngàn xưa còn
lại. Dưới
cây bồ đề là toà Kim Cương, nơi mà Đạo
sĩ đã ngồi tu hành, nhập định. Cây bồ
đề vững mạnh theo dòng thời gian, đã che
mưa chở nắng nắng cho vị Đạo sĩ
quyết tâm dấn thân vì nguyện lớn, nổ lực
chân chánh tìm ra Chân lý. Mỗi một
thước đất nơi đây vẫn còn tràn đầy
dấu ấn của bước chân từ bi, an lạc của
Đấng Cồ Đàm, mỗi một không gian nhỏ bé
như vi trần xung quanh vẫn còn hiện rõ bóng dáng của
Ngài, hình ảnh đẹp đẻ, khoan dung, tươi sáng
…. vẫn muôn đời còn ghi dấu.
Do đó, mỗi
nơi, mỗi góc chung quanh cây bồ đề là đều
có mỗi phái đoàn khác nhau, đến từ các
nước trên thế giới tụ hội về đây,
cúng dường, đảnh lễ Đấng Cha Lành.
Tiếng tụng Kinh bằng mỗi thứ tiếng khác
nhau, bằng tiếng Việt, tiếng Pali, tiếng Hoa,
tiếng Tây tạng v.v…Mỗi thứ ngôn ngữ của
mỗi dân tộc là những nhịp đập của trái
tim, của sự sống, sự rung động do
những tần số khác nhau, tác động đến
vũ trụ bao la để tạo ra những hương
hoa, âm thanh vi diệu, ái ngữ cúng dường, tán thán, kính
ngưỡng v.v…
Cũng
theo sách đã dẫn, thì khi xưa, ngài Pháp sư Huyền Trang lúc đến
nơi nầy, lòng xúc động vô biên trước những
chứng tích thiêng liêng của Đức Phật, Ngài
từng than rằng:
Phật tại thế thời ngã
trầm luân
Kim đắc nhân thân Phật diệt
độ
Áo não thử thân đa nghiệp
chướng
Bất kiến Như Lai kim sắc thân
Xin
được dịch :
Khi con trầm luân, Phật tại
thế
Khi được thân người,
Phật đã xa
tủi thân vì quá nhiều nghiệp
chướng
chẳng thấy kim thân lúc Phật còn…
Ngày nay, những người Phật tử
chúng con cũng đều mang tâm niệm đụợc nhìn
thấy Phật, thấy được ánh sáng Giác ngộ
chan hoà trong mỗi một con người còn mang nhiều vọng
niệm, để cho khổ đau được giảm
thiểu, hạnh phúc được tăng trưởng,
an lạc được vững vàng, và tâm bồ đề
kiên cố.
Quỳ
trước cội cây bồ đề, nơi khi xưa đức
Phật đã ngồi thiền quán và chứng đạo,
toàn thể Phật tử chúng con xin được dùng « sự thanh tịnh thân khẩu ý,
dùng tâm hương với lòng chí thành …. Với tất
cả tâm nguyện lực của hạnh Phổ Hiền,
tâm lực bao la của lòng thâm tín đối với chư
Phật, và với bao nhiêu ngôn từ có thể, với
tất cả hương hoa của các cõi trời
người, đều mở bày tất cả lòng dâng cúng
lên Đấng Từ Phụ … » (Trích và
lược
dịch bài : Sám Khể Thủ ).
Chúng
con hôm nay mong nhờ chút công đức nầy, mà lòng tin kiên
cố, lòng bồ đề bền chắc, vững
bước trên đường tu hành giáo Pháp và sống chan
hoà cùng mọi người trong tinh thần huynh đệ,
thanh bình.
Theo
sự hướng dẫn của Thầy Trưởng Đoàn,
mọi người đều cùng đọc thời Kinh
ngắn và vì có hai hệ phái đi cùng- Nguyên Thủy và Đại
Thừa, nên chúng tôi đều được tụng hai bài
Kinh khác nhau.
Hình
ảnh sao đẹp quá, có sự linh thiêng kỳ diệu nào
đó, khiến cho tâm mọi người đều cảm
thấy An lạc, Tự tại …. Vì là con người rất
chất phát, lòng không, tôi may mắn đón nhận những
sự kiện hiện hữu với những tâm cảm sâu
sắc, không phải là những hời hợt giả tưởng,
không phải là bong bóng của tâm, nhưng là cảm xúc đi
thật sâu vào tâm….
Nắng
ban mai đã vừa chợt hiện, những tia nắng hăm
hở chiếu xuyên qua những chùm lá bồ đề, lấp
lánh vàng ánh, trải dài như sóng nước, như thủy
tinh, tạo nên cảnh rất đẹp, thanh bình. Nắng
vàng đã reo vui, nhảy múa, gắn những mảnh sáng trên
mình ngôi Tháp, chạy đuổi theo từng nhịp chân kinh
hành, lặng lẽ, bình an…
Phái
đoàn dẫm từng buớc chân nhẹ nhàng, khoan thai, đi
Kinh hành vào bên trong Chánh điện, nơi thờ Tôn Tượng
Đức Bổn Sư Thích ca Mâu Ni, ngồi trong tư thế
rất đẹp, trang nghiêm. Mọi người đều
quì lạy với lòng kính cẩn, xưng dương, tán thán….đồng
thời, đảnh lễ chỗ bồ đoàn- nơi mà
xưa kia vị Đạo Sĩ đã ngồi thiền quán,
và đã chứng đắc quả Phật.
Từ
lúc nhỏ, khi bắt đầu biết đến Đạo
Phật, quy y, nghiên cứu…. Tôi có một ước mơ là
được một lần đến chiêm bái Phật tích
ở Ấn độ, nơi
mà có dấu chân thanh tịnh của Đức Phật. Hôm
nay, sở nguyện chân thành đó đã được thành
tựu, đã được tiếp cận, nhìn tận mắt,
sờ tận tay, thì còn hạnh phúc nào hơn đối với
người con Phật. Nước mắt chợt tuôn rơi,
xúc động, hoàn toàn chìm lắng sâu trong tâm thanh tịnh….
Có
những sự việc không thể nghĩ bàn, cũng chỉ
đành im lặng, trở về với hơi thở. Tôi cảm
thấy như mình vừa nắm trọn vẹn được
niềm vui khôn tả, một cõi hư không trong lòng bàn tay, một
cái tâm thanh tịnh có dấu ấn tâm của Phật, một
sự vô tâm kỳ diệu của vô lượng vô biên thế
giới như nở rộ ra trong từng sát na một, và
một sự im lặng……Sư im lặng vô cùng tận, không
thể diển tả bằng lời nói, bằng ngôn ngữ
thông thường và vì, mỗi lời nói ra đều trở
thành cạn cợt, vô nghĩa, không trung thực với nội
dung. Tôi cũng chợt hiểu rằng, vì sao dù mình là một
con người trần tục, sống với những phiền
não, si tham sân, với những nội kết từ ngàn xưa
đeo đẳng…. Nhưng trong tâm, trong bất cứ lúc nào, nơi nào
v..v… vẫn luôn luôn mong ước cúng dường lên Đức
Phật bằng những lời bộc bạch chân chất
qua chữ nghĩa hạn hẹp của mình, nhưng với
tất cả tấm lòng chí thành… Xin cho con được: «Các dĩ nhất thiết âm
thinh hải. Phổ xuất vô tận diệu ngôn từ. Tận
ư vị lai nhất thiết kiếp. Tán Phật
thậm thâm công đức hải».
Chiếc
y vàng dâng Đức Phật do Phái đoàn đem theo được
một vị Sư đón nhận và thay y mới cho Tôn Tượng
…..Đây là lần đầu tiên với phước duyên
thù thắng lớn, được thấy một sự
kiện hy hữu nầy trước mắt, nên mọi người
đều kinh ngạc, chiêm ngưỡng với đôi mắt
hồn nhiên. Chiếc y cũ vừa được thay cho Đức
Phật, được xé ra làm mảnh nhỏ và phân phát
cho mọi người trong Đoàn Hành Hương. Lòng ai nấy
đều cảm thấy vui, giữ lấy mảnh y nhỏ
nhưng được mang sức nặng tâm linh ngàn cân, làm
cho tâm được ấm áp, thanh tịnh, nhẹ nhàng.
Ngày
xưa, thời Phật còn tại thế, khi loài Rồng
thường bị chim Đại bàng Kim Xí Điểu
bắt ăn thịt, nên đã cầu cứu đến Phật
và Ngài đã xé một mảnh chiếc y cho Rồng và từ
đó, loài Rồng không còn bị nạn đó nữa. Nhưng,
vì không có thức ăn , Đại bàng Kim Xí Điểu đã
cũng Phật xin cứu giúp, nếu không sẽ bị chết
đói. Vì lòng từ bi, Đức Phật đã chế ra cách
cúng cho loài Kim Xí Điểu được no đủ, tránh
sát hại sinh linh, thường thấy mỗi ngày tại Chùa, sau
khi cúng Quả Đường …. Mảnh y vàng nhỏ xưa được
Đức Từ Phụ cho loài Rồng để chúng được
cứu nạn, ngày nay, mảnh y nhỏ cắt ra chia sẻ,
vừa nhận được như có có năng lực làm
cho tâm an ổn, tự tại.
Chung
quanh Tháp Bồ Đề Đạo Tràng được ghi
chú là những nơi linh thiêng, nơi mà khi xưa lúc chứng
Đạo, Đức Phật đã an trú bảy tuần
trong sự vắng lặng an vui của sự chứng ngộ.
Cũng như nhiều nơi chốn khác trên mảnh đất
cằn cỗi của Ấn độ, đều có dấu
chân trần luôn toả sen thơm, đem Giáo Pháp Giải thoát,
Trí tuệ để giúp cho con
người nhận rõ chân thực tướng của vạn
vật, chuyển hoá khổ đau, đạt đến
an lạc, giải thoát
Nếu
ai có duyên được một lần đến nơi đây,
nhìn thấy các hiện cảnh của tất cả mọi
người con Phật trên khắp thế tựu về đây
để chiêm bái, hành trì, thiền quán, lễ lạy…. tạo
thành khung cảnh kỳ vĩ, có nội lực siêu phàm của
nội tâm vì do những từ lực trí tuệ của Phật,
Bồ Tát, chư vị Thánh Đệ Tử, của chư
tăng Ni và toàn thể tín độ miên mật hành trì từ
ngày nầy qua tháng, năm nọ…. suốt chiều dài gần
ba ngàn năm qua. Tiếng tụng Kinh, niệm Phật, trì
chú…. không bao giờ dứt, dù đêm hay ngày, tạo thành khối
nội lực tâm linh, vô hình, cao vời vợi, toả rộng
và có thể chuyển đổi khổ đau của con người
cần cầu tìm đến và chịu thực hành giáo Phật
của Ngài. Một nơi chốn thật bình an, tuyệt đẹp,
ấm áp…..
Phái
đoàn cũng được hướng dẫn đi thăm
Bảo Tháp Tưởng Niệm của nàng Tu Xà Ða (Sujata), cũng
là nơi mà khi xưa, người đã hữu duyên may mắn
dâng cúng bát sữa cho vị Đạo sĩ khi Người
vì tu khổ hạnh bị kiệt sức.
Cùng
trong ngày, Phái Đoàn cũng đi thăm viếng nhiều
ngôi Chùa chung quanh, với những công trình Chùa, Tháp đồ
sộ, trang nghiêm, tạo cho nơi chốn thiêng liêng của
Bồ Đề Đạo Tràng nhiều biến đổi,
ẩn chứa sự thanh bình, an lạc …. ảnh huởng đến
mọi người dân cư tại nơi chốn đó, cũng
như lan rộng trong tâm từng người một, khi được
đến chiêm bái tại Thánh Tích và làm cho đoá sen tâm ngày
càng tươi sáng, chiếu soi, có đời sống an lạc,
tĩnh thức.
Tôi
chợt nhớ khi xưa, khi Phật giáo vừa thoát khỏi
Pháp nạn 1963. Nhiều vị Tôn Túc Phật giáo có ý muốn
xây dựng nhiều Chùa chiền, tạo nhiều Trung tâm tu
học Phật Pháp ở khắp nơi, xây trường học
cho mọi lứa tuổi, tạo các môi trường trong lành
để nuôi dưỡng những gốc rể hạnh
phúc an vui cho mọi người, già trẻ bé lớn, thiếu
niên, thanh niên, cống hiến cho một xã hội tiến bộ
tâm linh …và, nếu lý tưởng đó có điều kiện,
có đủ cơ duyên thực hiện được, có lẽ
đời sống con người sẽ có ít khổ cảnh,
nhà tù sẽ giảm bớt, mọi loại tội phạm
có cơ hội hồi tâm hoàn thiện. Nhưng,…
Buổi
chiều tối, Phái Đoàn tổ chức Buổi Trai Tăng
dành cho Chư Tăng người Tây Tạng, Miến điện,
Thái Lan v.v… Những hình ảnh thật đẹp, rực rỡ
sắc y vàng, một màu sắc quen thuộc với tất
cả hàng Phật tử. Sau đó, Phái đoàn dùng buổi
cơm chiều tại Khách sạn và mỗi người đều
được tặng quà lưu niệm để ngày mai
chia tay. Một số sẽ đi tiếp chuyến Hành Hương
qua Thái Lan, riêng đoàn chúng tôi lại trở về New Delhi để
rồi từ đó lấy chuyến bay đi trở lại
Mỹ.
Thời
gian từng ngày lần lượt trôi, cuốn theo những
ngày qua, hiện tại … vào quá khứ, mỗi sát na vừa
chớm nở là mắc xích của thời gian không còn tồn
tại. Có lúc chúng ta chỉ cảm nhận thời gian qua từng
giờ, từng ngày v.v… nhưng thực ra, mổi sát na lại
là một quá khứ trên lộ trình dài vô định.
Những
ngày Hành Hương tại Ấn độ rồi cũng
trôi qua, dù là chúng ta đã dò dẫm lại bước chân thân
yêu của Đấng Giác Ngộ trên những nơi hành đạo,
giảng pháp, nhập Hạ v.v… nơi đâu cũng đều
toát lên những hương thơm thánh thiện, hoà bình… những nơi mà một lần đến
đó, mọi người đều cảm thấy tâm hồn
mang nhiều thay đổi, hướng thượng.
Đạo
Phật , do Đức Phật Thích ca Mâu Ni thành lập thật
kỳ diệu, vì khi rời những nơi Thánh Tích đã đi
qua, rời Ấn độ với những tâm tư và ý nghĩ khác nhau tùy cảm nhận
của mỗi người, nhưng những gì lưu lại
trong tâm người con Phật, không phải là những hình
ảnh đã được chụp được, được
nắm giữ qua những khúc phim làm kỷ niệm, nhưng
là sự vô thường, vô ngã,
đời sống tâm linh với tất cả những
chất liệu làm thăng hoa con người, hướng
thượng.
"Ý
dẫn đầu các pháp,
Ý làm
chủ, ý tạo,
Nếu
với ý thanh tịnh,
Nói lên
hay hành động,
An
lạc bước theo sau,
Như
bóng, không rời hình »
(Pháp cú số 2- Phẩm
Song Yếu)
Những gì chúng ta nghe
thấy, nhận thức được, cảm nhận được,
tiếp cận được trong Đạo Phật là khối
vô lượng tâm linh luôn luôn tuôn chảy, mong đem lại
An Lạc Hạnh Phúc cho mọi hữu tình để có thể
vượt qua những khổ đau của tâm thức, của
nội tâm, nơi đó không có hận thù, chém giết, ganh ghét,
đố kỵ, phiền não … vì chất liệu duy nhất
của Phật giáo là Giải thoát, Từ bi và Trí tuệ.
Như trong Kinh Lăng
Nghiêm, Phật dạy rằng : « Quy nguyên tánh vô nhị, phương tiện hữu
đa môn » (Trở về với Tánh thì không hai, nhưng
phương tiện đi vào thì có nhiều cửa). Cho nên,
mỗi người đều tùy theo căn cơ, trình độ
v.v…, để tìm cho mình một pháp tu ứng dụng cụ
thể, thích hợp cho riêng mình, mà đi vào ngôi nhà Phật
Pháp và điều quan trọng là có khéo áp dụng và thực
tu hay không ?
Cũng như, có người một lần
đi sâu vào giáo pháp của Đức Phật, sẽ
cảm nhận được mùi vị Giải thoát, an
lạc như thế nào. Những hương vị
của Pháp làm cho tâm hồn lắng đọng, rời xa
những vẩn đục của bóng trần, đưa
tâm trở về với chính mình, để thoát qua khỏi
những khổ đau, dằn vặt của nội tâm,
ảnh huỡng mãi trong suốt dòng đời luân
chuyển.
Do đó, giáo pháp của Đức Phật như con thuyền đưa người qua sông, nơi đó không phải là chốn hứa hẹn, một nơi chốn xa xôi mù mịt, mông lung, không thấy rõ bóng dáng thực thụ của mình, vì rõ ràng, bờ sống vi diệu thực sự lại chính là hiện tại, ngay bây giờ. Khi tâm tỉnh lặng, chúng ta đã bước qua một cuộc đời mới, nơi mà trong tự tâm ánh sáng trí tuệ soi rõ tướng thật của các Pháp, không mê mờ, và khởi lên tâm Từ Bi lớn. Đó chính là hành trạng mà mỗi người cần phải mang theo để dấn thân vào đời……
Người
đi trong gió bụi
tìm một
giấc mơ xưa
bỏ quên
một áo khoát
sương
lạnh buốt bờ vai
trở về
từ mưa hạt
lần trong
chốn bụi trần
tâm an, mang áo
nhẫn
gió bụi đã
rời xa
hạt mưa,
hạt mưa rơi
lòng trần, lòng
trần nhẹ
bao năm rồi
say ngủ
để sóng lùa
lăn tăn
Từng đêm ôm
Phật ngủ
lòng trong, tâm thanh
tịnh
bỏ quên câu
niệm Phật
nhưng có
Phật trong lòng
Minh Thanh
Có một lúc nào đó bên bến đời, dừng chân lại, quán chiếu cuộc đời và chợt nhận ra rằng, đời thật là vô thường. Đôi khi vì cuộc sống, lăn chuyển theo dòng đời, chúng ta không có thời gian để nhìn lại, và để biết đâu là sự thật của đời sống? đâu là bến bờ của an lạc, thanh thản.
Những biến động trên thế giới ngày càng nhiêu, lôi cuốn mọi người tham dự. Có người bị biến mình trong bất cứ hiện tượng nào của thiên nhiên, môi trường hay xã hội để trở thành một trong những diễn viên vào cuộc chơi của kiếp người. Có những người không biết, không nghe hoặc thụ động trước vỡ kịch biến thiên đã đang diễn tiến, những hoạt cảnh vô cùng phức tạp chung quanh. Có người quanh quẩn, hạn hẹp trong bốn bức tường của gia đình, của thành kiến, của những vọng tưởng điên đảo được khoả lấp bởi những danh từ thời thượng, kiêu sa, mưu tìm hạnh phúc cho mọi người, vì lý do nầy vì nọ, nhưng sau lưng họ là những bã lợi danh lợi dưỡng, làm tổn hại xã hội, con người, mưu tìm những lợi ích vị lợi lộc cho chính mình.
Nhưng, bên cạnh đó, vẫn có người thực tâm, từ bỏ những tham ái, đố kỵ, chia rẽ lên đường trở về tâm linh, quán chiếu những vọng động của tâm, chuyển hoá thành tịnh lạc, tìm lại bóng thật ngàn đời xưa cũ, bỏ dần tự ngã, nối lại nguồn tâm trong sáng, trí sáng, tâm mở rộng, dấn thân vào cuộc đời để mong đem chút lợi lạc mà mình đạt được, hiến tặng cho con người.
Từ lúc khởi đầu cho Chủ đề: “Con thuyền chở trăng ra biển cả”, thay vì chỉ ghi chú lại những dữ kiện lịch sử của các nơi chốn đi Hành Hương chiêm bái Thánh tích tại Ấn độ, như một ký sự, nhưng chúng tôi lại dựa vào chính những nơi chốn chứa đựng những chất liệu tâm linh nầy để đi sâu, tìm hiểu vào Thất Bồ Đề Phần hay Thất Giác Chi (Bojjhanga) trong bộ Tăng Nhất A Hàm (Samyutta Nikaya, Maha Vaggã) như một chia sẻ cần thiết của nguời con Phật trên đường về tâm linh.
Chúng ta đã đi từng bước một, dọc theo chiều dài cuộc đời suốt hơn một năm qua. Một con đường rất ngắn so với thời gian dài vô tận, nhưng cũng rất là ngoạn mục để thưởng thức những nụ hoa đạo nở rộ giữa đời thường, giữa tâm hồn người con Phật. Nơi đó, mảnh trăng đã được huyền ảo hoá, chuyên chở những sức sống tâm linh đi ra biển cả, với một không gian bao la, rộng lớn, không ngằn mé, bến bờ, dung thông tất cả hư không vô tận….
Con đường trở về của tâm, thật vi diệu mà với một số trang giấy không thể diễn tả cùng tận, vì nơi đó là vô ngôn như thực tướng và thực thể của chính con đường, nên vì thế, ngôn ngữ ước lệ không còn. Người cùng tử ôm mộng bước đi với các mẫu đề mục ngắn như lời nói một tâm tình, một hỏi han đến cái tâm và mong đuợc nơi đây có thể một phần nào đó, dung chứa mọi suy tưởng chân tình trong Rỗng không, trong Chân tánh, mà nơi đó bước chân trần đi vào cõi thâm diệu, bằng từng bước chân một…
- Hành hương trở về Tâm linh: Nói đến Trạch Pháp, tìm kiếm một hướng đi trong
Muôn vàn con đường Chân lý.
- Ngàn lời ca từ cát sông Hằng: Tinh tấn để có bước chân quả quyết, dấn thân
không mệt mỏi vì lý tưởng độ mình, lợi người.
- Một niệm để đời không ảo mộng: Nói đến Niệm, để đi đến Chánh Niệm trước sự
lựa chọn chân chánh cho cuộc hành trình.
- Lần theo dấu xưa: Niềm Hỷ lạc đạt được do sự miên mật hành trì.
- Nhặt dấu thời gian: Tâm An tịnh giữa những biến động, bất định của cuộc đời.
- Ngọc báu trong lời Kinh: Định, tỉnh thức trước những xáo trộn của tâm và đời
sống.
Và xen kẽ
trong cùng Chủ đề, gồm có nhiều bài khác như: Những
đợt sóng vô tình, Xin đời một trái tim hồng,
Một mơ ước nhân ngày Phật Đản,
Đuổi bắt mùa Xuân, Hoa nở giữa mùa Đông,
Trong mưa gió- chiếc lá vàng rơi, Vẫn còn một cánh
hoa, Một sớm mai thấy bóng dáng Hòa bình, Mời gọi
Xuân về, Người lái đò xưa….
Tất cả những bài viết được đề cập trên, đã dàn trải rộng như thước phim không có thời gian, và không cả không gian mà chỉ để nói đến cái Tâm. Cái Tâm làm nên tất cả những bất hạnh, khổ đau hay Hạnh phúc, An lạc trước những sóng gió cuộc đời. Nhảy vào vùng trời bao la nầy, người con Phật cần cái tấm lòng bồ đề, để khỏi bị choáng ngợp, hấp dẫn, chi phối trước bao diển biến của đời sống, của tâm linh và vì nếu không có tấm lòng nầy, chúng ta sẽ bỏ cuộc trước những mâu thuẫn nội tại của sự kiện, dữ kiện và các vấn nạn.. Nhận thức sai lầm, tà kiến, vọng kiến v.v…do vô minh đã từng dẫn dắt chúng ta lâm vào biết bao nhiêu vấn nạn, gây cho thâm tâm các vết hằn, nhiều nổi nhức nhối. Làm sao để thoát qua khỏi những xáo trộn của nội tâm, những cảm thọ nầy.
Chúng ta đã qua từng giai đoạn trên lộ trình của Thất Bồ Đề phần, từ Niệm, Trạch pháp, Tinh tấn, Hỉ, An, Định, và giờ đây, là chặng đường cam go của cuộc hành trình dấn thân, trở về mái nhà xưa, là Xả (Upekkhã).
Cuộc đời con người như chiếc thuyền trôi ra biển cả, có thể đó là chiếc thuyền nang, thuyền bầu mỏng manh, nhỏ bé hay chiếc tàu lớn v.v… tùy theo nghiệp lực, nhưng cũng là một cuộc ra biển khơi, để đối diện sóng gió của cuộc đời.
Khi còn nhỏ, chúng ta sống vô tư và không biết thế nào là khổ hay vui. Những cái vui rất đơn giản như khi vòi vĩnh được nầy được nọ hoặc khóc la khi không được vừa ý, mất mát. Chúng ta khôn lớn, lớn dần với số tuổi, với sự vuơn cao của cơ thể, thì lại có càng nhiều vấn nạn phức tạp từ tâm sinh lý, từ tứ đại hoạt hành, từ ngoại cảnh, từ sóng gió cuộc đời … xuất hiện đưa đẩy cuộc sống làm như bị vây bủa bởi bát phong, gây nên các bất an, phiền não, khiến cho khó sống an ổn trong Lạc trú của cuộc hiện sinh, sinh tồn.
Xả là một sự quân bình, an nhiên, tự tại trước những biến đổi của các đối tượng hay các pháp bị xoay chuyển đó, với cái tâm bất động, nhìn sự vật như nó là và không bị nó chi phối, dẫn dắt, lung lạc, sai khiến. Các trạng thái tạo cho tâm được an tĩnh phải đến từ sự tu tập, thiền quán và nhận dạng được các biến chuyển hay con đường đi của tâm.
Với sự phát triển tột bực của khoa học kỹ thuật, với đời sống phức tạp được tạo nên do có nhiều nhu cầu đòi hỏi trong vòng lốc xoáy của tiến bộ, văn minh và không dừng lại nơi đó; mỗi người vô hình chung mang cái tâm hồn thương tật, bị gặm nhấm dần mòn trong khuynh hướng vong thân, bỏ mất con người thật của mình. Từ những hướng ngoại, tìm con người mình bằng những sự vật hiện hữu và càng ôm nhiều sự vật, vật chất thì càng chứng tỏ sự có mặt của mình, nhân cách hoá các pháp như chính đó là mình và rồi lại đau khổ khi những pháp đó không có thật, mà biến hoại theo thời gian., lúc còn khi mất.
Từ sự phóng ngoại, đưa dẫn đến đánh mất nội lực theo nhu cầu hướng ngoại, vong thân, tiêu hao mòn mỏi sinh lực theo buớc chân chạy đuổi ngoại cảnh và càng rong ruổi bay xa lại càng đau khổ khi đối diện với chính sư thật của cuộc đời mà tâm luôn xáo động, bất an, không thể an nhẫn trong mọi tình huống hay các biến động của cuộc đời.
Con người phóng ngoại là con người dễ bị cảm lạnh, hắc hơi, xổ mũi, nhức đầu, chóng mặt … trong cuộc đời vốn dĩ sương gió, ôm khổ đau, còn mất, thịnh suy… hay bất cứ những gì tác động đến. Tất cả mọi cửa ngõ của tâm đều đã mở rộng để cho mọi phiền não chi phối, dẫn dắt trên con lộ trầm luân. Người đó không hẳn khi chết mới trầm luân, nhưng khi sống mà tâm hồn trống rỗng, luôn luôn đói khát tâm linh, đói đời sống nội tâm, và tự trong thâm tâm vẫn cố mong làm sao cho nội hàm vững mạnh, vì cứ lẫn lộn, mê mờ Chân Tánh bị mất… Nhưng thực ra, những chất liệu hay tư lương an tịnh, giải thoát vẫn luôn tiềm ẩn trong mỗi con người, chỉ chờ đợi chính người đó tỉnh mộng, biết tu tập, biết chuyển hoá và biết tận dụng khai thác tâm.
Để vượt thoát khỏi khổ cảnh bất an, chao đảo, khổ lụy của đời sống, Đạo Phật đưa bàn tay từ bi để cứu vớt, bằng Giới (Sila) như một thắng cản dừng lại những vọng niệm, như một áo giáp của tâm che chắn trước những làn gió nghiệp lực, để từ đó mở ra các phương trời cao rộng. Dù là đốn giáo hay tiệm giáo, dù theo bất cứ tông phái nào, dù phóng chân nhảy vào Chân đế, dù là bay bổng trên vùng trời Bát nhã, dù là thấy Tánh không trong các Pháp….. nhưng con đường siêu việt vẫn là dẫm bước chân trên Tục đế qua những bước chân trần sen tịnh an nhẫn, thanh tịnh, chậm rải, thong thả trên đất bùn của phiền não Ta bà.
Khi con người trì Giới tức là con người trở thành mới tinh khôi, là giềng mối trở về với tâm thanh tịnh, nơi đó tạm thời ngay buớc đầu đã thoát ra khỏi phiền não, khổ đau, nhìn thấy rõ sự vật hay các pháp như đúng bản chất của nó. Giới sẽ dưa người đó vượt qua những nẻo đường dẫn ý thức rong ruổi theo ngoại cảnh, ôm lấy bất an, khổ đau.
Giới như là viên ngọc Như Ý
Bảo châu, cũng làm cho con người an ổn, sống
hoà điệu với mọi biến động, nhưng
lại vượt thoát ra khỏi mọi dạng tâm sinh
diệt, vì đem người đó trở về với
Trí tuệ sáng suốt vô biên, do tâm được
Định điều phục tâm trí, nên sanh Huệ,
cũng như trở về với Ba Ngôi Báu của Tự
Tâm (Quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng) như lời
Phật dạy: “Hãy tự xem
con là hải đảo của con. Hãy tự xem con là nương tựa của con. Không
nên tìm nương tựa với ai khác” (2)
Đó là kho tàng châu báu quí giá vô cùng (Đa Bảo), có thể vượt qua tất cả mọi u ám, tối tăm (Bảo Thắng), ánh sáng làm thân trở về trong tâm thanh tịnh, làm tươi mát thân tâm (Diệu Sắc Thân) và là thân rộng lớn không cùng, bao dung tất cả phiền não, uế trược, ứng hiện trước mọi nghịch cảnh (Quảng Bác Thân), làm cho tâm lìa vọng tưởng mê mời, không còn sợ sệt, vô úy trước mọi tình huống, mọi xáo trộn (Ly Bố Úy), là tư lương, dịu ngọt để chia sẻ, đem an vui với đến mọi người (Cam Lộ Vương) và trở về Tự Tánh Thanh Tịnh, Chân Tánh của muôn Pháp (Amita)….
Nơi đó, vùng trời Tâm chiếu rọi những quang minh không ngằn mé, cắt đứt mọi phiền não, mọi nội kết, mọi cuồng vọng của si tham sân, mạn, nghi, tà kiến do nhờ ánh sáng của trí tuệ.
Và cũng từ đó, khởi lên năng lực của Tâm, khiến lòng bồ đề khởi phát, muốn làm lợi ích cho người, đem niềm vui, tự tại, giải thoát chia sẻ, đem hạnh phúc để ban vui.
Con đò xưa mất dấu
quá khứ đã qua rồi
người chèo đò tay trắng
thong dong ngắm cuộc đời….
Minh Thanh
Đó là con đường trở về với Vô ngôn, nơi đó cắt đứt ngôn ngữ thường tình, vì chính ngôn ngữ đời thường đã bị chúng ta lợi dụng, chia cắt thực tại. Do những tâm hành chưa chuyển hoá, do vọng niệm lăn tăn triền miên, thiên sai dị biệt, sai sử, điều khiển.. chúng ta đã biến chính ngôn ngữ đơn thuần, chân chất để trao đổi, chia sẻ, cảm thông, hiểu biết ....trở thành vũ khí để tìm lợi ích theo chiều hướng của mình, bẻ cong ngôn ngữ làm cho cuộc nhân sinh vốn đã đảo điên trở nên phức tạp hơn va điên đảo hơn.
Ngôn ngữ
biểu lộ cho tư tưởng, đó là tâm hay tâm thức,
được trình bày, hiễn lộ qua thân khẩu ý. Những
khi nào tâm còn bị chi phối bởi tham sân si mạn nghi tà kiến của căn bản
phiền não, hoặc 20 thứ tùy phiền não như là phẫn,
hận, phú, não, xan, tật, cuống, siễm, hại, kiêu,
vô tàm, vô úy, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải
đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất
chánh tri hay là 24 hành pháp bất tương gồm có như:
đắc, mạng căn,
chúng đồng phận, dị sinh tính, vô tưởng
định, diệt tận định, vô tưởng báo
hay vô tưởng sự, danh thân, cú thân, văn thân, sinh, lão,
trụ, vô thường, lưu chuyển, định
dị, tương ưng, thế tốc, thứ
đệ, phương, thời, số, hòa hợp tính,
bất hòa hợp tính….. thì chúng ta vẫn còn hành xử
theo vọng niệm, tà kiến và vì tà kiến, chúng ta có thể
làm bất cứ những gì chỉ vì mục đích lợi
mình, dù là có hại người, dù là phá hũy hết trần
gian nầy, cũng vì cái tự ngã to lớn, vọng đại.
Do đó, khi Tâm chưa được
chuyển hoá, trong sáng, thi chính đó là nơi chứa cả
một bầu trời mênh mông
thức sinh diệt diệt sinh, bao la vô cùng tận và có thiên
hình vạn trạng, biến đổi khôn lường,
khiến con người bị kéo dẫn trôi lăn theo các ngả đường
luân chuyển, trầm luân. Qua những nội kết, các trạng
thái phiền não được trưng dẫn ở trên chỉ
là một phần nhỏ nào trong tâm thức, mà con người
đó biểu lộ hết tâm tình, hành sự, hành động
qua thân khẩu ý bất tịnh, tạp niệm và đó chính
là nguồn gốc của khổ đau, của chiến
tranh, bất hoà, của bi kịch trong cuộc đời.
Trong Luận Trung Quán, Tổ Long
Thọ nói rằng:
Tâm hành ngôn ngữ đoạn
Vô sinh diệc vô diệt
Tịch diệt như Niết-bàn……
Đạo phật là con đường thực tiễn, đi sâu vào cuộc đời với những pháp tu chuyển hoá khổ đau dễ hiểu, dễ tiếp cận, vì khi chúng ta quán chiếu lại cuộc đời, nhìn thấy những biến hoại vô thuờng của các pháp, nhận thức đúng những khổ đau đang vây bủa không chỉ ở tha nhân, mà còn ngay chính bản thân mình, gia đình, xã hội và tự nơi chiều sâu của tâm thức, khởi lên tấm lòng tìm trở về Tâm linh, và khi nổ lực quay về với chính tâm mình, giữ giới, quán niệm, hoặc thực hành pháp, thì chính ngay lúc đó, trong đời sống hiện tại, chúng ta được an lạc, không cần phải chờ đợi ở kiếp sau….
Do tư tưởng bao la, cao siêu, nhưng rất bình dị, thực tế vì “Phật Pháp bất ly thế gian pháp”, nên những pháp hoặc tất cả các Pháp có thể làm giảm thiểu khổ đau, đưa con người tiến đến trạng thái an lạc, thì đó chính là Phật Pháp.
Thật là kỳ diệu, đơn giản và gần gủi, dễ tiếp cận để có thể chuyển hoá cuộc đời. Vâng, có những sự việc rất là đơn giản, nhưng nơi đó chứa đựng một bầu trời bao la, mầu nhiệm, như nhiều lần được đề cập tới. Cho nên, càng nghiên cứu kinh kiển Phật giáo và cuộc đời của Ngài, những lời giảng dạy cặn kẽ, tường tận của như được mở cánh cửa cho chúng ta bước vào một chân trời bao la, cao rộng.
Vì, như trong Kinh Chuyển Pháp Luân (3), Đức Phật dạy:
“ Này các vị Tỳ kheo, sau đây
là bốn chân lý vi diệu của cuộc đời:
- Chân lý thứ nhất
là thực tại đau khổ. Sanh là khổ, già là
khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương
yêu mà phải xa nhau là khổ, thù ghét mà phải gặp nhau
là khổ, mong cầu mà không toại nguyện là khổ và
chấp vào năm nhóm nhân tính là khổ.
- Chân lý thứ hai là nguyên nhân dẫn đến đau
khổ. Đó là phiền não nhiễm ô, là tâm ái dục, là
sự tham đắm và chấp thủ về cái ta, cái
của ta, là dục ái, hữu ái và phi hữu ái.
- Chân lý thứ ba là
Niết-bàn, tức là sự trừ diệt hoàn toàn gốc
rễ của đau khổ và những nguyên nhân dẫn
đến đau khổ. Đó là sự ly tham, sự từ
bỏ, sự giải thoát và không còn chấp trước.
- Chân lý thứ tư là
con đường dẫn đến niết-bàn, đó là
tám đường chánh, là con đường Trung
đạo.
- Này các vị Tỳ kheo, cần phải liễu tri về thực tại khổ đau. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự vật. Này các vị, cần phải trừ diệt hoàn toàn gốc rễ dẫn đến khổ đau. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự vật. Này các vị, cần phải tu tập trọn vẹn con đường dẫn đến Niết-bàn. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự vật. Như vậy, này các vị chỉ khi nào tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về bốn chân lý vi diệu của cuộc đời dưới ba sắc thái, gồm mười hai khía cạnh đã trở nên hoàn toàn sáng tỏ, thì khi ấy Như Lai mới xác nhận với thế gian, gồm chư thiên, ma vương, Phạm Thiên, giữa các đoàn thể Sa-môn, Bà-la-môn, giữa loài trời và loài người rằng Như Lai đã chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tâm Như Lai đã giải thoát và an tịnh tuyệt đối, đời sống này là cuối cùng, Như Lai không còn bị luân hồi sanh tử nữa … “
Đau khổ chính là gốc rễ và là vấn nạn căn bản của muôn loài. Ai cũng muốn đi tìm hạnh phúc, tìm đến sự an lạc cho cả thân và tâm, cho chính mình, cho cuộc đời ….nhưng vì tham đắm sở hữu, chấp thường, chấp hữu… đưa đến cảnh khổ đau, đầy nước mắt. Hạnh phúc hay Khổ đau cũng là bản chất của vấn nạn hiện hữu, dù là giả hợp, duyên sinh. Đạo Phật đặt vấn đề Khổ không phải để chạy trốn, tránh xa chốn bụi trần, tìm nơi một chốn nào đó để an ẩn, tiêu cực, vì không một ai khi đã có thân hình, thì có thể tránh được khổ đau.
“ Hữu thân hữu khổ,
hữu luân hồi
Vô thân, vô khổ, vô khứ lai…”
Có nhiều người nông cạn cho rằng, vì Đạo Phật bi quan, chán đời nên nói là có thân mới có khổ, nếu không có thân thì đâu có khổ, nên thường tìm đến sự chối bỏ cuộc đời trần tục, sống trên trần gian nhưng tâm tư lại lây lất sống mơ mộng viễn huyền ở một nơi nào đó, hoặc giả có thể tự sát, hũy hoại thân thể để mong cầu chấm dứt khổ đau.
Thật là mê tín và hoàn toàn nhận thức sai lầm vì không thâm hiểu Phật Pháp, vì quên rằng Đạo Phật tôn trọng cái thân xác dù giả hợp, tạm bợ nầy hoặc phải nương vào nơi cõi ta bà đầy uế trược… vì qua đó, nơi đó, chính đó là cái cửa ngõ cho con người mới có đủ phương tiện thiện xảo, mới có những cơ duyên thuận hay nghịch, thay đổi dòng sinh mệnh của chính mình xuyên qua những cảnh giới mà mình chọn lưa, đó là yếu tố nhân bản tối thượng, cao quí vì mình chính là hoạ sĩ, là tác giả của cuộc đời chính mình. …
Chúng ta không biết rằng mỗi ngày, mỗi giờ hay mỗi giây phút, mỗi sát na.. chính mình đã vô tình tạo ra biết bao nhiêu thân mạng. Mỗi một tư tưởng khởi lên là mỗi một pháp có mặt hay đúng hơn là mỗi một thân mạng giả hợp hiện hữu: khổ đau, hạnh phúc, vinh nhục, khoan dung, sân hận v.v…. tùy theo tâm tưởng mà các thân tương ưng xuất hiện.
Đạo Phật đòi hỏi phải trở về Trí như ánh mặt trời rực sáng của “Tuệ nhật phá chư ám” để đối diện, nhận chân, quán chiếu và tìm ra một sinh lộ cho cái tâm, đem tâm u ám chuyển thành trong sáng, đem tâm vọng mê trở về thanh tịnh, qua các phương pháp tu tập “khế cơ khế lý” để chuyển hoá và đòi hỏi phải dụng công miên mật, nhận diện đúng dòng sanh diệt của tâm, mới có thể đi vào Chân tánh, nhìn thấy rõ được bản chất khổ đau chỉ là những trò huyễn hoá (Maya) của cuộc đời.
Tuệ nhật hay mặt trời trí tuệ đó luôn có trong mỗi con người, và khi nếu được khai phá, nội quán, từ định sẽ sanh huệ và d đó, nhận chân được sự thật cuộc đời, của các pháp.
Nếu chúng ta không nhận thức đúng, không nhìn rõ những biến chuyển sanh diệt của tâm, thì sẽ không bao giờ giải quyết được vấn nạn của tâm mà chỉ là làm khoả lấp, vá víu, cho nên, những bất hạnh sẽ còn mãi, lôi kéo vào trong vòng trầm luân, sáu nẻo. Vì như trong Kinh Vô Ngã Tướng (Anatta Lakkhana Sutta), một lần nữa, Đức Phật giải thích cặn kẽ như sau:
“Này các vịTỳ kheo, Sắc là vô ngã. Vì, nếu
sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến
bệnh hoạn, và có thể được các sắc
như sau: "Mong rằng sắc của tôi là như
thế nầy! Mong rằng sắc của tôi chẳng
phải như thế nầy!"
Và nầy các v Tỳ kheoị,
vì sắc là vô ngã, do vậy, sắc đi đến
bệnh hoạn, và không thể có được các
sắc: "Mong rằng sắc của tôi như thế
nầy! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải
như thế nầy!"
Và cũng như vậy,
Thọ, Tưởng. Hành, Thức cũng đều là Vô
Ngã, vì là Ngã thời không
thể đi đến bệnh hoạn, và có thể
được như sau:
"Mong rằng thọ tưởng hành thức của tôi
như thế nầy! Mong rằng thọ tưởng của tôi chẳng phải như
thế nầy!"
Và nầy các vị, vì
thọ tưởng hành thức là vô ngã, do vậy, thọ tưởng
hành thức đi đến bệnh hoạn, và không
thể có được các thọ tưởng hành
thức: "Mong rằng thọ tưởng hành thức của
tôi như thế nầy! Mong rằng thọtưởng
hành thức của tôi chẳng phải như thế
nầy!"
Nầy các vị, các ông
nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô
thường?
- Là vô thường, bạch Thế tôn.
- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
- Là khổ, bạch Thế tôn.
- Cái gì vô thường, khổ, chịu
sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái
ấy là: "Cái nầy là của tôi, cái nầy là tôi, cái
nầy là tự ngã của tôi?"
- Thưa không, bạch Thế tôn…….
Thấy vậy, nầy
các Tỳ kheo, bực Ða văn Thánh đệ tử yếm
ly đối với sắc, yếm ly đối với
thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly
đối với các hành, yếm ly đối với
thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị
ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên:
"Ta đã được giải thoát." Vị ấy
biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã
thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui
trạng thái nầy nữa."
Thế tôn thuyết
như vậy. Nhóm năm vị Tỳ kheo hoan hỷ, tín
thọ lời Thế tôn dạy. Trong khi lời dạy
nầy được nói lên, tâm của nhóm năm vị
Tỳ kheo được giải thoát khỏi các lậu
hoặc, không có chấp thủ……” (4)
Nếu
những ai đã từng đọc kỹ lại lời
Kinh, sẽ vô cùng xúc động trước tấm lòng từ
bi bao la của Đấng Từ Phụ, giảng giải
cặn kẽ từng chút một, với lời chân chất,
dễ hiểu… để cho các chúng đệ tử, các hành
giả có thể nhận thức đúng bản chất của
mọi hiện tượng và tìm đến được
Thực Tướng có thể chứng thực và để
tránh khỏi tham chấp, bám víu và khổ đau. Vì nếu mà
chúng ta không nhận thức được đúng bản
chất của các Pháp là Khổ Không, Vô thường, Vô
ngã, chúng ta sẽ đau khổ, ôm nổi lo âu, sợ hãi
khi còn khi mất, hay với bất cứ những biến động
nào. Khi chúng ta đau khổ, bất an, lo lắng, phiền
não v.v… thì tất cả mọi hiện hành trong ta, chung quanh
chúng ta sẽ bị ảnh huởng lây. Chánh báo không có
đủ nội lực, y báo sẽ vì đó mà nuơng
theo để luân hồi.
Đôi
khi trong đời sống hiện thực, trước tứ
đại suy hoại dần theo thời gian, trước
tám ngọn gió nhẹ nhàng đến đi, lúc nặng lúc
nhẹ, lúc như cuồng phong bão tố, lúc im lìm nhưng đầy
sức nặng…. làm chúng ta sợ sự thật, không dám đối
diện và bằng mọi cách để chạy trốn sự
thật, sợ già, sợ bệnh, sợ chết, sợ đủ
thứ…. Nhưng trong tâm mình lại trống không, không có một
chút nội lực tâm linh sở dĩ để tự bảo
vệ, không một sinh khí, nội hàm hay một tư lương
chánh pháp nào để có thể chuyển hoá, vượt thắng
nổi khổ niềm đau.
Đạo Phật là đạo sống trong cuộc đời hiện tại, chứ không phải nằm trong thư viện, kinh sách hoặc trên một cõi mông lung nào đó, với những hứa hẹn. Đạo Phật chính là cuộc sống ở đây, bây giờ, trong những giây phút hiện tại. Vì lẽ đó, những người con Phật tự bản thân do huấn luyện tâm, do huân tập những chủng tử lành, miệt mài tinh tấn tu tập, đem tâm trở về thân, nương theo Trí để rời bỏ Thức, vì Trí đến từ Chánh Niệm, nhận thức chân chánh và là do công phu tu tập thuần nhuyển, trở về với bản tâm thanh tịnh, còn Thức thì do tạp niệm, do tâm sanh diệt điều khiển, đưa đến khổ đau, bất hạnh.
Trong Kinh Lăng Già Tâm Ấn có đoạn nói rằng:
“Thế gian lìa sanh diệt
Như hoa đốm hư không,
Trí chẳng thấy có, không
Mà khởi tâm đại bi.
Tất cả pháp như huyễn
Xa lìa nơi tâm thức,
Trí chẳng thấy có, không
Mà khởi tâm đại bi.
Xa lìa chấp đoạn thường
Thế gian hằng như mộng,
Trí chẳng thấy có, không
Mà khởi tâm đại bi.....”
Trở về với bản
tâm thanh tịnh là trở về với vô ngôn, trở
về Tâm Đại Bi, con đường của Bồ tát
Đạo, của những Bậc Tĩnh Thức, nhìn rõ được
Thực Tướng của các Pháp, nhìn rõ những nhân duyên
giả hợp của mọi hiện tượng, thấy
được tánh Rỗng Không của các Pháp và không còn bị
xoay chuyển, chi phối hay làm cho tâm bất an.
Ai về khoát áo trăng tà
vườn hoang tỏa mở muôn vàn
loài hoa
cánh chim sải cánh bao la
vào heo hút gió, còn rơi chữ lòng
nhặt cành hoa nhỏ bâng khuâng
cánh thưa trắng mỏng, màu son áo
trời
nụ hoa tóc rủ vô thường
trên miền đất vắng,
nẩy mầm bộc
lưu...
Minh Thanh
Như
đã nói ở trên, nếu không có sự tu tập, không có sự
chuyển hoá tâm, và nếu như tâm vẫn còn bị chi
phối bởi si tham sân, tạp niệm, chấp
trước, ái thủ v.v..... thì mọi hành xử của
chúng ta trong cuộc đời nầy, vô tình bị dẫn
dắt bởi những điều kiện đó và tất
cả mọi đối đải sẽ chỉ còn là lợi
mình, vì danh, vì lợi va hơn thế nữa, vì tất
cả những gì có thể đem lại cho mình những sở
hữu dù giả tạm, nhưng ta lại tin chắc là nó bền
vững, thường hằng, vĩnh cửu và chính chúng ta
dù là người thâm hiểu Phật Pháp, nhưng lại vì
quên giáo lý căn bản nhưng vô cùng thâm diệu, đó là
Nhân Quả. Vì luật nhân quả chi phối mọi mọi
Pháp, mọi đời sống, mọi hiện tượng,
bất cứ là gì, là ai...khi đủ duyên thì nhân quả sẽ
thành hình, tác động, dù trải qua bao nhiêu kiếp, dù ở
bất cứ nơi chốn nào.....trừ khi chúng ta chứng
đạo, thì nhân quả sẽ không còn tác dụng. Vì
lẽ đó, Bồ tát hay người Tĩnh Thức thì
sợ Nhân, nhưng người u tối lại sợ Quả,
mặc dù sợ nhưng vẫn làm và vẫn gây Nhân để
rồi gánh các hậu quả do mình tạo ra. “ Bồ tát sợ nhân, chúng sanh
sợ quả”.
“Giả sử bách thiên kiếp
Sở tạo nghiệp bất vong
Nhân duyên hội ngộ thời
Quả báo hoàn tự thọ”
Khi
vì lợi mình, hại người, vì ái ngã, chúng ta sẽ rơi
vào tà kiến:
- Tà kiến về giáo dục sẽ đưa chúng ta
rơi vào tinh thần nộ lệ, thần thánh hoá các
sự
việc, không hiểu
bản chất đích thực của mọi tượng
duyên sanh duyên hợp.
- Tà kiến về kỹ thuật, sẽ tạo thành
tham vọng, dễ đưa đến hận thù, chiến
tranh..
- Tà kiến về luân lý, đạo đức, tôn giáo
sẽ phát sanh ra những tôn giào thần quyền,
mê mờ tâm trí con
người chỉ mục đích duy nhất là nô lệ
hoá con người
- Tà kiến về xã hội sẽ tạo thành cái ngã dày
cộm, tự tôn, tự đại, làm náo động
đời
sống tâm linh con người
- Tà kiến về nhân phẩm sẽ đưa
đến hình thức bóc lột, độc đoán, làm
đổ vỡ những
liên hệ thân tình giữa
con người v.v.. và v.v...
Thưa bạn, cuộc
sống của con người với những bấp bênh
cố hữu, từ thân mạng, từ tâm mạng và do vì
những nghiệp lực hỗ tương tác động
giữa người nầy với người khác ( biệt nghiệp), giữa xã
hội nầy với xã hội khác, cũng như giữa
quốc gia nầy với quốc gia khác ( cộng nghiệp).
Mọi hiện tượng của cuộc đời đang
ngày càng xáo trộn, thay đổi từng giờ phút một,
chưa thấy được chân trời an lạc chung
cho tất cả mọi người, mọi nơi. Trên thế
giới, bất cứ ở nơi chốn nào cũng đều
bất an như Kinh Pháp Hoa nói: “Ba
cõi không an, giống như nhà lửa”.
Nơi nầy động
đất, chỗ nọ bão tố; nơi nầy đói
nghèo, nơi khác chiến tranh, tất cả mọi nhân phẩm
của con người đều bị thách thức, bị
soi rọi trước lương tâm của nhân loại. Dù
giàu hay nghèo, dù là ít học, vô học, hay trí thức, dù là quyền
cao chức trọng đến những người bần
hèn, hay dù làm bất cứ những gì trên cõi trần gian nầy,
không một ai có quyền sống riêng rẽ, không một pháp
nào không là tình nhân của pháp kia, cùng nhau liên hệ, giao lưu,
hiện hữu, ví như cái thân tứ đại nầy hiện
hữu bởi những cái không hiện hữu, cộng
sinh, cộng hữu như tinh thần Kinh Hoa Nghiêm đã
minh định, mà chúng ta đã nhiều lần quán chiếu
thực nghiệm và nhận thức đúng.
Chúng ta ai cũng muốn được
sống an lạc, hạnh phúc, hoà bình, sống với nhau với
tnìh chân chất, có vị ngọt của con người, nhưng
do vì vô minh, chúng ta đã tạo ra biết nhiêu là thảm cảnh
cho nhau, cho con người.
Là một người Phật tử
nhận được những lời dạy của Thầy
Tổ truyền trao từ Đức Phật- Bậc Vô Thượng Y
Vương, Đấng Cha Lành, là Thầy dạy của Trời và Người-
có đủ mọi luơng dược cần thiết tùy
theo khế cơ, khế lý trao tặng cho con người cần
cầu, tu học.
“Chúng sanh
đa bệnh, Phật Pháp đa phương”.
Và đã có rất nhiều người,
rất nhiều người đã tìm được hạnh
phúc nội tâm giữa biết bao nhiêu là khổ cảnh xẩy
ra mỗi ngày. Từ sự được an lạc qua thân
tâm thanh tịnh, ít bị phiền não quấy phá, tâm trí sáng
suốt và lòng từ khởi dậy, chúng ta đã dấn thân
vào cuộc đời nầy và tuỳ theo hoàn cảnh để
trợ duyên đến mọi người, có thể bằng
vật thực, có thể bằng quần áo, có thể bằng
lời nói ái ngữ, chia sẻ hoặc bằng những gì
khả hữu đem chút niềm vui cho nhau trong những kiếp
nạn, khổ đau của đời người.
Tất cả những bài học nầy
được tìm thấy trong các gương mẫu nơi
những vị Thánh tăng, các vị Tôn Túc, những vị
tu sĩ, những người mang chiếc áo cô đơn đi
vào đời vì “ Thượng
cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh” hay là “Hoằng Pháp vi gia vụ, lợi
sanh vi sự nghiệp”, tất cả đều là những
sứ điệp của tình thương giúp con người
trải rộng dài theo suốt dòng lịch sử, ở bất
cứ nơi nào trong các cõi giới.... Các Ngài đã lìa bỏ
gia đình, bỏ danh, bỏ lợi, bỏ những gì nhỏ
nhoi tầm thường chỉ vì mục đích đem lại
niềm vui, hạnh phúc cho con người.
Đó là lý tưởng cao đẹp
và đáng trân quí thay! Vì con nguời
còn diễm phúc hy hữu có giáo pháp vi diệu của Đức
Phật để tu học, nhận được ánh lửa
“nhiên đăng” của Phật Pháp, cái Đạo làm nên nhân
bản cao đẹp của con người, vì con người
được “truyền đăng tục
diệm” từ hơn hai ngàn năm trăm nay, từ thế
hệ nầy qua thế hệ khác.
Là người Phật tử, chúng tôi
quí trọng những tấm lòng Bồ tát đó, những người
vì cuộc đời đau khổ mà dấn thân, mong đem
giáo Pháp xoá bỏ mê lầm của con người và nếu
như có nhìn thấy gì sai trái nơi các cá nhân đó, thì chúng
tôi thông cảm và chỉ biết đó là những con người
còn phàm tục, còn đang tu tập, chuyển hoá... nên sẽ
trợ duyên khuyến tấn, trao đổi hoặc có thể “kính
nhi viễn chi”, và sẽ không bao giờ, chưa bao giờ
hũy báng, vì trên cuộc đời
nầy, ai nấy đều bất toàn.
Đạo Phật dạy chúng tôi hãy
mở rộng lòng, phá chấp, nhìn nhau với tình con người
để có thể thông cảm, tha thứ, chia sẻ nhau
trên cuộc lữ làm người.
Đạo Phật chuyển hoá chúng tôi
làm giảm bớt hoặc không ít còn tâm ganh tị, thù hằn,
kỳ thị, ganh ghét và tôn trọng tự do, dù là bất cứ
cá nhân nào, hay tôn giáo nào, vì với mục đích làm người
ai cũng muốn sống được an lạc, hạnh
phúc.
Đạo Phật dạy cho chúng tôi
rằng, con người chính là chủ nhân của chính mình và
không một ai có quyền ban ân huệ, tha thứ, ban phước
lành, giải thoát dùm cho mình.
Đạo Phật dạy chúng tôi phải
tôn trọng tự do, vì Ngài là người đã phá bỏ
chế độ nô lệ có mặt bao nhiêu ngàn năm trên đất
nuớc Ấn độ, do Thần quyền và chế độ
đương thời và mọi người ai nấy đều
được tự do tư tuởng, tự do chọn lựa
con đường mình đi, hướng thượng.
Đạo Phật dạy rằng :”chiến thắng vạn quân không
bằng tự chiến thắng chính mình”. Có chiến thắng
chính mình, chiến thắng những tham dục, si tham sân, mạn
nghi, tà kiến v.v...con người mới vượt thoát
ra khỏi những khổ đau, những nhỏ nhen tranh
chấp, thủ lợi theo các dòng sinh hoạt đối đải,
nhị nguyên.
Giữa biết bao nhiêu là biến động,
những manh tâm của chính trị, của bè phái, sự hiểm
ác của thời thế, của các thế lực muốn
toa rập để phá hoại Phật giáo, chia rẽ Tăng
già, mong lam suy thoái lòng tin của Phật tử, cản bước
tiến phát triển và truyền bá đạo Pháp của Phật
giáo- một tôn giáo chỉ có tình thương và hoà bình, tại mọi nơi trên thế giới... Nhưng, chúng con xin thành kính tri ân tất
cả các bậc Thầy Tổ, các vị Tôn Túc Truởng
Thượng, những vị Thầy mà suốt cuộc đời
làm lợi Đạo ích Đời, với cuộc sống
đơn giản, bao dung, những người đã duy trì
“mạng mạch Phật giáo”
chỉ mong đem Đạo giúp đời bớt khổ đau,
quay về bờ Giác, an vui., các Ngài đã luôn luôn vững tâm,
vô úy không sợ hải trước các đối kháng, trước
sự nhục mạ, trước bạo lực và lèo lái
con thuyền Phật giáo vững vàng trên ngọn sóng ba đào.
Do thời thế biến đổi,
do lòng người vì danh vì lợi, vì cố chấp, vì độc
tài, độc tôn, ái ngã v.v... đã có những người
mang danh là người con Phật, không màng đến Tông môn,
Thầy Tổ, quên sự chỉ dạy của Ân sư, xem thường những giá trị
của Từ Bi Hỷ Xả, của nhân quả nghiệp
báo tạo ra.... họ đã đánh phá, chụp mũ, gây biết
bao nhiêu là xáo trộn, làm cho tâm người con Phật chân
chánh chợt dâng lên niềm đau xót, vì họ nhân danh là người
con Phật.
Từ bi bị đổi thành hận
thù, chia rẻ. Trí tuệ sáng suốt để dẫn dắt
con gnười vượt qua chốn u tối, lầm mê, khổ
đau .. bị đổi thành độc tài, phá hại, không
còn nhân chất.
- Chúng tôi kêu gọi những ai vì ác tâm
đã phá hoại sự thanh tịnh, an lành của con người,
hãy dừng tay lại, vì mọi người ai nấy vẫn
còn bị nhân quả chi phối. Đời đã khổ
nhiều rồi, xin đừng tạo thêm cảnh khổ
cho nhau. Nước mắt đã bao lần chảy rồi,
xin đừng tạo thêm nước mắt tuôn rơi. Tiếng
súng đạn đã rền vang tại biết bao nhiêu là nơi
chốn trên trái đất, gây thiệt hại nhân mạng,
nhà cửa, những nền văn minh của nhân loại bị
hũy hoại, nuớc mắt đã tuôn chảy trên mắt
môi biết bao nhiêu là nạn nhân.... xin đừng ai đem
tâm ác, tâm thù hằn, sân si vì chỉ nghĩ đến mình, mà
tạo tạo thêm cảnh khổ, để làm gì?
- Con người không cần bom đạn,
lòng thù hận, chụp mủ, đánh phá, hũy hoại, gây
chia rẻ bất công, độc tài v.v... chúng ta kêu gọi
một tấm lòng nhân bản, thương yêu nhau.
Chúng ta đã sử dụng ngôn ngữ
thường tình bằng tâm lượng hẹp hòi của
mình, bằng thành kiến, đố kỵ, bằng danh lợi
mong sở hữu, bỏ cong ngòi bút, làm què quặt lương
tâm, mà quên đi tất cả mọi người thân thương
của mình.
Cho nên, con đường trở về
là con đường Vô ngôn, đưa ngôn ngữ trở thành
nguồn tâm linh ích lợi cho mọi giá trị tâm hồn của
con người. Ngôn ngữ là để cảm thông, trao đổi,
nhân bản phải được rọi soi dưới ánh
sáng Trí tuệ của vô ngôn, để ngôn ngữ trở thành
Chân ngữ hay Chân Ngôn, chuyển hoá niềm đau nổi bất
hạnh của con người, và không chạy theo những
tâm niệm hẹp hòi, si tham sân.
Đó là Xả,
là con đường kỳ diệu, đưa con người
oai dũng đối diện trước bát phong với cái
tâm tự tại, đại lượng bao dung.... như
chúng ta đang chứng kiến, đang thấy hiển hiện,
biểu lộ nơi các bậc Tôn Túc đã tự tại, âm
thầm, kiên nhẫn, xả và khởi tâm bồ đề
rộng lớn vẫn thường xuyên Tổ chức khoá
tu học, khoá dạy Phật Pháp, thiền hành ở mọi
nơi nơi, dù bị biết bao nhiêu là sự chống đối,
đánh phá, mong hũy diệt cái tâm chân thiện, thiện căn
của con người, và người con Phật, cũng
như luôn cầu nguyện cho những con người manh
tâm hãm hại các Ngài được luôn sống an lạc, hồi
tâm tỉnh trí để sống đúng với nhân phẩm
con người.
Từ những hành xử độ lượng,
bao dung, tha thứ, xả bỏ như vừa kể trên, một
cách bình thuờng, vì không có tham vọng, chiếm hữu... mà
chỉ duy nhất vì sự truyền lại mạng mạch
tâm linh Phật giáo cho con người, để con người
sống được đời sống Nhân bản, tốt
đẹp, vì đó tinh thần Dân chủ Tâm Linh và cũng là
nền tâm linh thuần nguyên của Phật giáo.
Một cuộc sống mà mọi người
đều chuyển tâm hướng thiện, đem tấm
lòng vì lợi ích mọi người mà kiến tạo xã hội,
tạo niềm tin sống, niềm tin vào con người nhân
bản. Một xã hội Công bằng, Hạnh phúc... trong đó,
mọi người yêu thương nhau, sống vì lợi ích
của nhau, cho nhau những chia sẻ, tình thâm, tôn trọng
lẫn nhau.... chúng ta đã tạo cõi cực Lạc tại
trần gian rồi, chứ nào phải đâu xa.
Đã bao lần, chúng ta là những người
đi ngoài sương gió của cuộc đời. Đôi
lúc cảm lạnh, hắc hơi, sổ mũi hoặc cảm
phổi để cuộc đời là những khổ đau
tràn lan và đầy hệ lụy kế tiếp. Đôi lúc
chúng ta mang sức mạnh của áo giáp Phật Pháp, trong đó
Giới (Sila) được đặt làm nền tảng
cho bất cứ một trạng thái hành hoạt nào trên lộ
trình tu học, để tránh gió tránh mưa, nhưng đó
chỉ là áo giáp khác ngoài để đở đần
trong lúc túng quẩn. Chỉ khi nào chiếc áo giáp đó chính
là tâm ta, cái tâm Xả thì khối
vô minh sẽ rơi rụng, và tâm bồ đề có mặt
như một cuộc dấn thân kỳ diệu.
Con đường vô
ngôn là những bước nhảy thần kỳ đó, vượt
qua ngưỡng cửa tu tập, chứng thực trong lời
Kinh, lời tự tình của cái tâm bao la, mọi miền biên
giới đều giải toả, không cùng tận. Đó
không phải là lý thuyết suông để định nghĩa
sự việc, chia cắt những mảnh đời thành
rời rạc do vì vị kỷ, vong thân, rơi vào tà kiến,
lấy hữu làm vô, lấy dữ kiện, sự kiện
giả lập làm thực tại và điên đảo, mê muội
trong hố thẳm của chân lý, không có con đường
vượt thoát.
Khi chánh kiến vắng mặt, có nghĩa
là tà kiến đã mỉm cười được chào đón
với bao vọng tâm, dẫn dắt vào con đường
có hoa, có cảnh, có sắc, có hương, nhưng là con đường
quanh quẩn của ái ngã, rơi vào hố mê của tài sắc
danh thực thụy như hiện cảnh đang hiển bày
ra trước mắt. Người ta nhân danh đủ thứ,
với những danh từ thời thượng, nhưng chỉ
có mình là duy nhất, không một cuộc đối thoại,
không một sự chia sẻ, xé tan hoang mọi đoàn kết,
tình thương vắng mặt, tình người khô héo, hận
thù, cố chấp, vu khống tràn đầy ... để
chỉ là tiếng nói duy nhất, sai lầm, độc đoán.
Như đã nói ở trên, biết bao
nhiêu người đã lợi dụng ngôn ngữ, viết
lách, chửi bới, bôi xấu cũng chỉ bởi vì bị
chết trong ngôn ngữ đời thường, dính mắc
trong bả lợi danh, vinh nhục, thịnh suy.... ở nơi
đó, may ra chỉ còn là những tạp nhạp, phù du, phù
phiếm, vắng mặt đạo đức và tình người,
đừng nói là đạo vị.
Con đường vô ngôn bỏ rời
ngôn ngữ, không phải ngôn ngữ không còn giá trị để
xử dụng, để hiểu và để cảm thông,
nhưng vì ngôn ngữ bị lạm dụng để gây
chiến tranh, tranh chấp bè phái, làm ô nhục tinh thần tâm
linh của con người nói chung và cố xoá bỏ Phật
giáo dù mang danh nghĩa phục vụ Đạo Pháp và Dân tộc.
Đường về vô ngôn là cảnh
giới của phương trời cao rộng, đó là Niết
bàn an tịnh, biên giới giữa cả hai nhị nguyên đều
vắng bặt, là khoảng không Vô Tướng, Vô Thanh, Vô sở
đắc....Đó là Thường Lạc ngã Tịnh
Nói với vô ngôn là nói đến thế
giới của không sanh diệt, của Tánh không và để
cho chuyến đi Hành hương là con đường trở
về với Thực Tại Nhiệm Mầu, trở về
với hạnh Xả- Đó
là cuộc sống, hơn là một trạng thái, vì nếu
là tình trạng thì có thể bất định, không như
nhất. Còn là cuộc sống thì là do đã kinh qua sự tu
tập, chuyển hoá nội tâm và trở thành ứng xử
tự nhiên, bình thường cho cuộc sống.
Nhiều lần, đọc Kinh Phổ
Môn, trong tâm tôi cứ bị ám ảnh hoài câu hỏi của
Ngài Vô Tận ý với đức Phật: “Phật tử hà nhân duyên, danh vi Quán thế Âm....” và
thầm mắc cở. Kinh đã nói đến lý do tại
sao được gọi là Bồ tát Quán thế Âm và nói đến
hành trạng của Ngài qua những ứng hoá thân vì sự cứu
khổ nạn tai hay nổi đau của con người,
với một tinh thần tích cực tuyệt vời. Và chúng
ta thì sao, trước cây Bồ đề khi xưa Đấng
Cha Lành ngồi thiền và chứng Đạo, có bao giờ tự hỏi mình là
gì? tại sao lại có danh tánh như vậy và cuộc đời
sẽ ra sao, khi sinh tử vô thường. Đó cũng là câu
hỏi mà tùy theo mỗi người tự quán chiếu và
trả lời.
Trong Quán Kinh nói rằng:”thị tâm thị Phật,
thị tâm tác Phật” và chúng ta sẽ chuyển hoá ra sao để
cho Tánh Phật được hiển lộ trong mỗi
con người. Thực ra, khi biết mình có Tánh Phật, chúng
ta đã vượt một chặng đuờng rất dài
trên con đường tu học hay con đuờng tâm linh,
trở về Vô Ngôn và làm giảm thiểu rất nhiều
nổi khổ đau.
“Phản
quan tự kỷ”, nghe lại âm thanh của chính mình, nơi
nào là sinh, nơi nào là diệt, nơi nào thường hằng
bất sanh bất diệt, nếu chưa làm được
cuộc trùng phùng với chính mình, con đường vẫn
còn dài...
Chúng ta đừng bao giờ đi xa
quá hoặc không có chánh kiến về con đường của
đạo Phật, để rồi với những lý luận,
mổ xẻ thực tại ra nhiều mảnh nhỏ và
không biết đâu chính là thực tại. Thế giới tâm
của con người muôn hình vạn trạng, với tạp
sắc, tạp niệm, mà nếu đi vào với cái tâm lý
luận, chúng ta sẽ rơi vào sự đảo điên,
chạy theo ngọn mà bỏ quên đến sự nhận
thức và quán chiếu chính vấn đề có nguồn gốc
căn bản từ si tham sân diễn biến ra thành đa
diện, nhiều chiều hướng, tạo thành các sự
mông lung, vô vàn sắc thái. Thực tại là sự sống,
sống tỉnh thức trong đời thường, chứ
không phải những suy luận, lý luận, phân tích.
Đã lâu rồi, tôi có đọc của
D.T. Suzili trong tác phẩm “Zen Buddhism” đã nói:”Con người đi tìm Niết
bàn, nhưng Niết bàn không ở đâu cả; Niết bàn
ở ngay trong vòng Luân hồi, Luân hồi là Niết bàn”
Vâng, như đã bao lần thưa
“Con đường giải thoát của đạo Phật”
ngay tại trần gian nầy, với mỗi người
trong hiện tại, nếu khám phá ra được “Ông chủ thực sự” hay “Bản lai diện mục” của
mình.
Cuộc đời mỗi người
như chiếc thuyền ra biển cả, một biển
cả mênh mông, sóng nước. Có thể đó là chiếc
thuyền mỏng manh, thuyền nan, thuyền lớn, nhưng
do nghiệp lực, chúng ta hãy vững tay lái để chèo,
trước sóng gió của cuộc đời.
Khi chúng ta bắt đầu có nhận
thức, ý thức về cuộc đời và bước
trên đôi chân của chính mình. Có hạnh phúc, có đau khổ,
có vinh nhục,có thành có bại, có được hay thua...
như một lẽ đuơng nhiên của đời sống
và không ai có thể phủ nhận mình đã có những nôi kết,
khổ đau, bất hạnh hoặc ngược lại.
Cái khổ “Dukkha” là nguyên nhân và kết
quả của sự có mặt của một sinh vật có
tư tưởng hay không, trừ những vị có đại
nguyện.
Nghiệp lực tác động đến
mọi hiện tượng, mọi người... dù ở
bất cứ nơi đâu, biển cả, núi cao, rừng
thẳm ....
Và trên sinh mạng cao quí của con người,
chúng ta chợt phát hiện ra một sự kiện kỳ
diệu là Tánh Phật có mặt trong tâm của tất cả
muôn loài, và nếu khi Tánh Phật được khơi dậy,
được tu tập, được phát triển, sẽ
làm giảm thiểu khổ đau, đem lại an lạc.
Tánh Phật như ánh trăng rằm sáng rực, chiếu
soi khắp cả mọi nơi, mọi chỗ tối tăm,
u ám..
Chúng ta đã vô hình chung chở ánh trăng
Phật theo mình theo suốt dòng đời, để đi
ra biển đại dương, trở về nơi căn
nhà xưa, đó là Chân tâm. Trăng vàng sáng rực và muôn đời
vẫn vậy, khi bị mây che phủ làm nhìn thấy ánh trăng
như bị mờ đi, nhưng
thực ra trăng chưa bao giờ bị mờ, mà luôn luôn
sáng tỏ. Trăng được ví dụ như Tâm thanh tịnh,
Phật tánh không bị nhơ bẩn bởi bụi bậm
hoặc trần lao.
Theo như Chủ đề:“Con thuyền chở trăng ra
biển cả”, con đường mà chúng ta đang đi,
đang chở ánh trăng theo mình và mỗi người là
người lái đò của chiếc thuyền chở trăng,
trăng tâm. Trăng có mặt khắp sông hồ biển cả,
đại dương và luôn vàng sáng rực rỡ, đẹp
quá phải không bạn ? Và cũng là niềm hãnh diện vô cùng,
vô biên của kiếp người, định đoạt
cho dòng sinh mệnh của chính mình.
Nhân bản của đạo Phật
là đem con người trở về với chính mình, thể
nhập vào chính “ông chủ” hay Tánh giác, nơi đó si tham sân
vắng mặt, và chỉ còn là dòng sống kỳ diệu vượt
thoát khỏi các phiền não, tham ái...khởi lên Tâm đại
bi và Trí tuệ, vì Tâm Đại bi và Trí tuệ là sự chuyển
hoá con người hình thành tự nhiên với cái Tâm Tự
do, Tự tại, Giải thoát và dấn thân vào đời vì
sự ích lợi của con người, tạo thành dòng
sinh mệnh “duy tuệ thị
nghiệp”.
thuyền chèo lặng
lẽ trên sông nước
dưới ánh
trăng vàng chở ánh trăng
chén trà soi tỏ
trăng trong nuớc
gió thổi bên
trời, lay ánh trăng
sóng vỗ giữa
đời, một ánh trăng
ngẫn ngơ vờn
nước, nước chở trăng
trăng cười
nhảy nhót theo sóng nuớc
theo chiếc thuyền
con, trăng lững lơ
người vẫn
ngồi yên, lặng ngắm trăng
suơng mờ che
phủ, một vầng trăng
đêm khuya trăng
vỡ tan như mộng
có chiếc thuyền không,
chở ánh trăng.....
Minh Thanh
Này bạn, đã bao lần
chúng ta cùng nâng ly uống mừng cho những ngày có mặt
trên trái đất nầy, với bạn bè thân thuộc, với
thời gian và với tất cả những gì chất chứa,
sở hữu... như các thành bại hay thịnh suy, như
đôi tay mong trải dài vô tận, nếu có thể, để
gom góp lại cho mình. Suốt cuộc đời đến
giờ, bạn gom nhiều lắm, rất nhiều.... với
gương mặt thoả thuê, với nụ cười
chiếm đoạt, với đôi mắt ôm đồm, với
đôi tay tham lam......
Vâng, xin chúc mừng cho bạn, vì bạn
đang giàu có của cải vật chất, sống vinh hoa
phú quí do phước duyên nhiều đời đã tạo,
ảnh hưởng đến đời hiện nay, cho cuộc
sống của bạn đầy sung suớng. Những buổi
ăn của bạn sẽ ngon và thịnh soạn, nhưng
rồi, cũng rời bỏ bạn ra đi. Thời gian sẽ
lấy đi tuổi tác, sức khoẻ, tiền tài, danh vọng,
những gì mà bạn yêu thích, tranh giành, chiếm hữu
v.v... để chỉ còn là vô thường. Chưa có ai trên
cuộc đời nầy có thể đạt được
“trường sanh bất tử”, mà chỉ có duy nhất là
cái nghiệp lực tác động đến mỗi người
trên cuộc lữ nhân sinh.
Trên thế giới ngày nay, có nhiều
cá nhân, đoàn thể, tổ chức, chánh phủ... vì sự
sống còn của con người trước bao nhiêu hiểm
họa đang chờ đón như chiến tranh, sự hâm
nóng toàn cầu, vũ khì giết người, bệnh HIV, môi
trường sinh thái bị tàn phá gây nân bao thảm họa đã
và đang xẩy ra khắp mọi nơi v.v...và v.v..Cho nên,
họ đã dấn thân tranh đấu, kêu gọi lương
tâm của con người ở khắp mọi nơi, đối
với trước bao vấn nạn của chung cho nhân loại,
và vì tình người, cùng
nhau nắm tay, đoàn kết để làm sao chấm dứt
được khổ nạn cho con người.
Ý thức được “ba cõi không an, giống như nhà
lửa”, chính họ là những người đáng kính
phục, vì đã đang trở thành những con người
mang tâm Đại bi và Trí tuệ, đúng theo tinh thần của
Kinh Hoa Nghiêm đã dạy, để chỉ vì phục vụ
cho con người.
Do đó, chúng tôi chỉ xin bạn một
điều, một điều duy nhất vì là con người,
vì tôi là người Phật tử có trái tim nóng hổi tình
người, vì chúng tôi thường quán chiếu tâm mình nên
nhìn thấy những nhân duyên chằng chịt giữa các pháp,
trong đó có bạn và tôi. Xin
bạn đừng bao giờ gánh hết tình người đi
làm của riêng mình, vì khi trái đất nầy mà không có tình
người, tình yêu chia sẻ, nhìn thấy Tánh Phật trong
từng mỗi con người để quí trọng lẫn nhau, để
còn có nhau trong cuộc lữ làm người v.v...thì có lẽ hành tinh xanh nầy
rất đáng sợ và đáng trốn tránh, phải không
bạn?..
Xin hãy chìa tay ra- vì tôi biết rằng
là bạn không bao giờ nhẫn tâm gánh hết tình người
cho riêng mình, và để chúng ta cùng nắm tay dìu bước
đi trên con đường Vô ngôn, trở về căn nhà
tâm thương thân yêu.
Một hạnh phúc dù rất nhỏ bé
đã vừa len lỏi vào giữa bạn và tôi, vào chúng ta, thật
thông cảm, chia sẻ, phải không bạn? Hãy cùng ngẫng
đầu lên nhìn bầu trời trong xanh, trời thật đẹp,
và trong đôi mắt của chúng ta, có nước mắt Hạnh
phúc của con người, phải
không bạn?
Cư
sĩ Liên Hoa kính bái
Viết xong ngày 30.03.2009
tức ngày 04.03 năm Kỷ Sửu
__________________________________________________________________
1-
Trích Đức Phật và Phật Pháp của Ngài Narada, trang
73. Phạm Kim Khánh dịch.
2- Trường A hàm (Digha Nikaya), Kinh Đại
Niết Bàn (Mahãparinibhãna Sutta), q.2, tr. 100.
3. Kinh
Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkapavattana
Sutta), Thầy Minh Châu dịch trong
Đường Về Xứ
Phật.
4- Kinh
Vô Ngã Tướng (Anatta Lakkhana Sutta ) Ðại Tạng Việt Nam:
Tương Ưng Bộ Kinh,Quyển 3,
Phẩm Tham Luyến,
VII, trang 125 129 - Tạng Pali: Samyutta Nikaya, S,iii, 66
- Người lái đò bến cũ -Cư sĩ Liên Hoa
- Mời gọi Xuân về -Cư sĩ Liên Hoa
- Mộng làm Bồ tát giữa đời thường -Cư sĩ Liên Hoa
- SlideShow: Bóng
dáng Đấng Từ Phụ -Gia đình Cư sĩ Liên Hoa thực hiện
- Đuổi bắt mùa xuân -Cư sĩ Liên Hoa
- SlideShow: Những Cảm Xúc ngày Phật Thành Đạo
- SlideShow: Kính Mừng Phật Đản 2632 - Gia đình Cư sĩ Liên Hoa thực hiện
- Rồi sẽ qua đi -Tuệ Uyển
- Tâm Đại Bi -Thích nữ Trí Hải dịch
- Những Hộ Pháp Vương của Phật giáo trong Lịch sử Ấn Đô -Trần Trúc-Lâm
- Năng Lực Chữa lành Của Tâm -Tuệ Pháp
- Mười hai yếu tố sống Hạnh phúc - Thích Nhuận Hải
- Một ngày trên Đỉnh Hiei - Nguyễn Văn Nho dịch
- Một ước mơ nhân Mùa Phật Đản -Cư sĩ Liên Hoa
- Một bà mẹ, quê hương và Mẹ Viên Thông -Cư sĩ Liên Hoa
- Hài cỏ bờ sương - Toại Khanh
- Bồ Tát Thường Bất Khinh, Chuyển vận Pháp hoa xuyên suốt mọi thời đại -Thích Thái Hòa
- Xây dựng hôn nhân theo con đường Phật giáo -Ths. Thích Giải Hiền
- Toa thuốc của ngài Vô Tế đại sư -Sưu tầm
- Hạnh Phúc kỳ diệu -Thích Phụng Sơn
- Các Đế Vương với Phật giáo - Đào Nam Thắng dịch, Lê Đức Niệm hiệu dịch
- 14 Precepts -Thích Nhất Hạnh
- Những Đặc điểm của Văn hoá Phật giáo trong văn hoá Việt Nam -H.T. Thích Thắng Hoan
- Nguyễn Du và Kinh Kim Cang -Phan Quang Việt
- Lô Sơn Chân Diện Mục -Tuệ Sỹ
- Cành Mai Mãn Giác -Thích Lệ Thọ
- Order of Interbeing Beginnings -Sister Chân Không
- Fourteen Mindfulness Trainings of the Order of Interbeing -Nu Hong Home Page
- Five Mindfulness Trainings -Nu Hong Home Page
- Đến cung Potala -Sưu tầm
- Đại Đế Asoka Maurya và những Pháp dụ khắc trên đá -Trần Trúc-Lâm
- Vài đặc điểm của Phật Giáo -HT. Thích Trí Quang
- This is the Buddha's Love -Nhất Hạnh
- Bụt thương như vậy đó -Nhất Hạnh
- Có một nền văn hóa học Việt Nam -Lê Văn Hảo
- Thơ ái quốc của Thiền Sư Tuệ Sỹ -Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên
- Một Niệm Để Đời Không Ảo Mộng -Cư sĩ Liên Hoa
- Ðối thoại với Ðức Ðạt Lai Lạt Ma về những vấn đề hiện đại -Quán Như dịch
- Giọng Nói Của Hạnh Phúc -Trần Trúc Lâm
- Phật giáo - Hữu thần - Vô thần -Sưu tầm
- Sống Thiền -Vĩnh Hảo
- Hãy quý giây phút chúng ta đang sống -Thích Nữ Giới Hương
- Tuổi thơ - trăng và minh triết phương đông -Trần Hạ Tháp
- Tuổi trẻ và niềm tin -Tâm Từ Bi
- Ai nói cười trong mây biếc -Nhật Chiêu
- Chuyển Khổ Đau Thành Hạnh Phúc -Thích Bảo Lạc dịch
- Cõi thơ Bùi Giáng -Nguyễn Quý Đại
- Đừng bỏ gốc rễ, đừng bắt người khác phải bỏ gốc rễ -Nhất Hạnh
- Lợi ích chữa bệnh trong Thiền Quán -Tỷ kheo Tăng Ðịnh dịch
- Ngôn Ngữ Yêu Thương -Thích Nữ Tắc Phú
- Nguồn Mạch Tâm Linh -Thích Nữ Trí Hải
- Những chữ trôi trên cõi tâm linh -Triệu Từ Truyền
- Some Questions and Answers -londonbuddhistvihara
- Sự mất căn bản trong cuộc sống -Đặng Đức Trọng
- Tản mạn về Nụ cười của các Thiền sư -Thích Phước Đạt
- Thăm Hàn San Tự -Nguyễn Khôi
- Tại sao Phật dạy "Trong các cách bố thí, Pháp thí là hơn cả" ? -Tôn Thất Bàng
- The Food of Kindness -Ayya Medhanandi
- Thư Thầy Nhất Hạnh gửi các đệ tử ở khắp các nơi trên thế giới -Nhất Hạnh
- Vài suy nghĩ về Tâm và Thức -Nguyễn Đăng Trung
- Về cõi vô tâm cưỡi chơi cánh diều -Nhật Chiêu
- Bụi Đời Trong Mắt Tôi -Thích Thái Hòa
- Controlling your Karma -Tôn Thất Bàng
- Để Có Đời Sống Lành Mạnh Bạn Làm Gì? -Thích Hạnh Bình
- Lòng Từ Bi Trong Sinh Hoạt Chính Trị Của Thế Giới -Hòa Thượng Thích Trí Chơn dịch
- Học Kinh và Hành Trì của người Phật tử phương Tây -Quảng Tánh
- Đức Phật Của Tuổi Thơ -Ngọc Thiện
- Đối thoại giữa nhà Sư và nhà Triết học -Cao Huy Thuần dịch
- Điều phiền não thứ 84 -Nhị Tường dịch
- Bát Nhã Tâm Kinh, xuất xứ từ đâu ? -Đào Nguyên
- Ba điều cầu nguyện thông thường -Thích Nhất Hạnh
- Lòng ham muốn của con người -TN. Thoại Anh dịch
- Ấn tượng Sông Hằng -Nhất Thanh
- Sống Thiền -Vĩnh Hảo
- Hãy quý giây phút chúng ta đang sống -Thích Nữ Giới Hương
- Đạo Và Đời -Thảo Trang
- 5 câu hỏi cho bạn lúc bình minh -Viên Chiếu
- Nghĩ về dưỡng chất tâm hồn cho tuổi trẻ hôm nay -Nguyên Cẩn
- Phật Tâm trong mỗi tấm hình -Nguyễn Cao Hùng
- Phương tiện thiện xảo trong kinh tạng nguyên thủy -TS H. Gunaratana
- Vì sao tôi theo đạo Phật ? -Nghệ sĩ Tiến Sĩ Bạch Tuyết
- Tại sao tôi theo Đạo Phật ? -Hạt Nắng- Thùy Trang
- Hai mươi bốn điều bạn nên ghi nhớ -Sưu tầm
- Đóa hoa đẹp nhất -Huyền Thoại
- Tình yêu, giàu sang và sự thành công -Sưu tầm
- Đức Phật và cây cỏ -Giải Nghiêm ghi lại
- Người ta khổ vì thương không phải cách -Khả Anh
- Xin làm người đứng sau -Tịnh Khê
- Mùa Thu hốt lá -Tôn Thất Bàng
- Để giới trẻ tìm về với Phật giáo -Thích Nữ Huệ Đức
- Ba đặc tướng của đời sống -Phạm Kim Khánh
- Đêm Thu -Quỳnh My
- Suy nghĩ về lời cảm ơn -Sưu tầm
- Đàn chim nhỏ -Quỳnh My
- Tản mạn về Trăng, Thơ, Nhạc -Thuần Ngọc
- Kim Đỉnh Nga My -Nguyệt Nguyễn
- Tờ giấy trắng -Sưu tầm
- Bốn loại thức ăn -Mạn Đà La
- Chốn Già lam và tuổi trẻ thời nay -Quảng Tuấn
- Thanh sắc thi ca -Tuệ Sỹ
- Chùa xưa - Trần Trung Sáng
- Công phu 108 tiếng chuông Thiên Mụ -Bùi Ngọc Long
- Mái chùa xưa -Võ Hồng
- Đằng trước bao xa? -Thu Nguyệt
- Ở Cỏi Xa Kia Và Trên Đất Này -Ngô Khắc Tài
- Mùa Thu Trong Tình Ca Việt Nam -Việt Hải Phạm Chung
- Sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam qua văn học -Nguyễn Văn Hiệp
- Sự ra đi của những chiếc lá -Thích Phước Hạnh
- My world and friends -Thích Nhất Hạnh
- Màu sắc của hoa trong 12 tháng -Sưu tầm
- Văn Hóa Ở Chùa -Sơn Nam
- Thuyền ngược bến không -Tuệ Sỹ
- Một người làm lành ngàn người được nhờ -Tâm Chơn
- Giữ tâm trạng cân bằng -Giáo sư Minh Chi
- Ðối Thoại Trong Im Lặng -lời bình của Nguyên Si
- Cô Bé Và Phật Tánh -Chiêu Hoàng
- Bóng người trên sương mù -Truyện Nhất Linh
- Anh Phải Sống -Khái Hưng
- Vô thường là lẽ sống - Thiện Tri Thức dịch
- Tư Tưởng Tài Mệnh trong truyện Kiều -Thanh Tâm
- Tương quan hay chẳng là gì? -Toại Khanh