Giữa lúc, do hoàn cảnh
tối tăm của đất nước, đa số đang ầm ĩ chê bai cái cũ, đòi
đoạn tuyệt với cái cũ, thì
Vang bóng một thời lẳng lặng bênh
vực nó.
Không, Nguyễn Tuân không đưa ra lý luận nào đâu, ông chỉ kể
cho ta nghe chuyện một cụ già ngồi uống trà trong sương sớm,
chẳng hạn.
Nhân ông kể thong thả, cái "hồn xưa của đất nước" (1) thừa
dịp nhập vào văn ông để phô cái đẹp tinh diệu của nó, hòng
giữ chút niềm tin nơi đám con cháu đang xôn xao vì vật chất
kém thua người.
(Thu Tứ)
(1) Chữ Hoài Thanh dùng khi bình thơ Nguyễn Bính.
Chén trà sương
Nguyễn Tuân
Trời rét như cắt. Không kể tiểu hàn, không kể cả đến đại hàn,
buổi sớm mùa đông nào, cụ Ấm cũng dậy từ lúc còn tối đất. Từ
trên bàn thờ đức Thánh Quan, cụ nhắc cây đèn đế xuống. Ðược
khêu hai tim bấc nữa, cây đèn dầu sở phô thêm màu xanh lá mạ
phủ trên chất sứ Bát Tràng.
La liệt trên chiếu cói cạp điều đã sờn cạnh, cụ Ấm đã bầy
lên đấy khay trà, ống nhổ, ấm đồng và hỏa lò đất. Cái điếu
bát vẽ Mai Hạc kêu vang lên một hồi rất dòn, rất đều. Khói
thuốc lào đặc sánh lại bao trùm lấy ánh sáng yếu ớt của một
ngọn đèn dầu. Rồi làn khói loãng dần biến ra mầu nhờ nhờ như
làn hơi nước sủi. Sau màn khói, ẩn hiện một ông già chống
nạnh bên gối xếp, cặp mắt lim dim như một nhà sư nhập định.
Vẻ nghiêm trang lặng thinh của ông già muốn làm ngừng cả áng
khói trắng hiếu động đang trôi trong không khí gian nhà gạch.
Ba gian nhà, chỉ có một người thức.
Trong cảnh trời đất lờ mờ chưa đủ phân rõ phần đêm và phần
ngày, ông cụ Ấm có cả phong thái một triết nhân ngồi rình
bước đi của thời gian.
Ðêm đông dài không cùng. Nó mênh mông và tự hết rất chậm
chạp.
Gió bấc thổi qua những kẽ cánh cửa bức bàn đã gửi vào nơi
yên lặng này mươi lăm tiếng gà không nhẫn nhục được với tối
tăm. Từ ngoài phía ngõ râm bụt lượn sát nhà gạch, dội vào
những tiếng bước chân người nặng nề. Cuộc đời hồi tỉnh lại
dần dần.
Cụ Ấm phẩy phành phạch quạt mo theo một nhịp nhanh chóng
trước cửa hỏa lò. Hòn than tầu lép bép nổ, nghe rất vui tai.
Và làm vui cho cả mắt nữa, tàn lửa không có trật tư,ỳ không
bị bó buộc kia còn vẽ lên một khoảng không gian những nét
lửa ngang dọc, cong queo ngoằng ngoèo. Những lúc có cháu nhỏ
ngồi với mình, cụ Ấm thường hỏi xem chúng xem pháo hoa cải
như thế có thích không.
Những hòn than tầu cháy đều, màu đỏ ửng, có những tia lửa
xanh lè vờn ở chung quanh. Không khí mỗi lúc giao động càng
nâng cao thêm những ngọn lửa xanh nhấp nhô. Hòn lửa rất ngon
lành, trở lên một khối đỏ tươi và trong suốt như thỏi vàng
thổi chảy.
Thỉnh thoảng từ hòn than tự tiêu diệt buột ra một tiếng khô,
rất khẽ và rất gọn. Thế rồi hòn than sống hết một đời khoáng
chất. Bây giờ hòn than chỉ còn là một điểm lửa ấm áp trong
một cái vỏ tro tàn dầy và trắng xốp. Cụ Ấm vuốt lại hai mái
tóc trắng, cầm thanh đóm dài đảo lộn tàn than trong hỏa lò,
thăm hỏi cái hấp hối của lũ vô tri vô giác. Cụ Ấm bỏ thêm
một vài hòn than hoa nữa vào hỏa lò. Than hoa không nổ lép
bép như than tầu: nhưng từ ruột ấm đồng bị nung nấu đã lâu,
có tiếng thở dài của khối nước sắp biến thể. Nước đã lên
tiếng để nhắc người ta nghĩ đến nó.
Cụ Ấm cũng thở đánh phù một cái, như khi người ta được gặp
lại bạn cố nhân sau nhiều giây phút mong chờ.
Cụ khẽ nâng vuông vải tây điều phủ trên khay trà gỗ trắc có
chân quỳ. Nhẹ nhàng, khoan thai, cụ Ấm nhắc cả đĩa dầm, chén
tống, chén quân ra khỏi lòng khay. Ðến lúc dờ tới cái ấm con
chuyên trà thì cụ kềnh càng hơn. Cụ ngắm nghía mãi chiếc ấm
màu đỏ da chu, bóng không một chút gợn. Dáng ấm làm theo
hình quả sung và khi luyện đất cho vào lò lửa, người thợ Tầu
lấy dáng cho ấm kia đã là một người thợ có hoa tay. Cụ Ấm
thử mãi da lòng tay mình vào mình cái ấm độc ẩm, hình như cố
tìm tòi một chút gợn trên đất nung để được sung sướng hoàn
toàn sau khi nhận thấy cái ấm độc ẩm kia là nhẵn nhụi quá.
Nước sôi già lắm rồi. Nhưng thói quen vẫn bắt cụ Ấm rót thử
một chút nước xuống đất xem có thực là sôi không. Mở đầu cho
công việc vụn vặt trong mỗi ngày tàn còn lại, ông già đã sợ
nhất cái ấm trà tầu pha hỏng lúc sớm mai.
Từ trên bề cao cỗ sập, dòng nước sôi trút mạnh xuống nền đất
trị, tiếng kêu lộp bộp.
Trên chiếc hỏa lò để không, cụ đã đặt thêm một ấm đồng cò
bay khác. Những người uống trà dùng cách thức như cụ Ấm bao
giờ cũng có ít ra là hai ấm đồng đun nước. Ấm nước sôi nhắc
ra khỏi lò than là đã có chiếc ấm thứ hai đặt lên đấy rồi.
Và hai ấm đồng đó cứ được mãi mãi thay phiên nhau đặt lên lò
than đỏ rực, vì bữa nước trà cứ kéo dài không hết hồi. Như
thế lúc nào người ta cũng có một thứ nước sôi đủ độ nóng để
pha một ấm trà ngon.
Nhưng có mấy khi cụ Ấm uống trà tầu một cách tàn nhẫn như
vậy. Riêng về phần cụ, chỉ hai chén con là đủ rồi. Nhưng hai
chén đó đã được cụ săn sóc đến nhiều quá.
Chưa bao giờ ông già này dám cẩu thả trong cái thú chơi
thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, cụ Ấm đã
để vào đấy bao nhiêu công phu. Những công phu đó đã trở nên
lễ nghi, nếu trong ấm trà pha ngon, người ta chịu nhận thấy
một chút mùi thơ và một tị triết lý và tâm lý.
Cụ Ấm sau mỗi lần gặp phải một ông khách tạp, uống trà rất
tục, cụ thường nói với vài bạn nhà nho:
-- Có lẽ tôi phải mua ít chén có đĩa ở hiệu Tây, để mỗi khi
có mấy thày làm việc bên Bảo Hộ tới thì đem ra mà chế nước
pha sẵn trong bình tích. Các cụ cứ suy cái lẽ một bộ đồ trà
chỉ có đến bốn chén quân thì các cụ đủ biết cái thú uống trà
tàu không có thể ồn ào được. Lối giao du của cổ nhân đạm bạc
chứ không huyên náo như bây giờ. Chỉ có người tao nhã, cùng
một thanh khí, mới có thể cùng nhau ngồi bên một ấm trà.
Những lúc ấy, chủ nhân phải tự tay mình chế nước, nhất nhất
cái gì cũng làm lấy cả, không dám nhờ đến người khác, sợ làm
thế thì mất hết cả thành kính. Tôi còn nhớ hồi nhỏ, còn là
học trò quan Ðốc, tôi đã được cái vinh dự sớm dậy, sớm nào
cũng như sớm nào, đứng hầu trà cụ Ðốc, trước khi cụ giảng
bài và chấm cho anh em tập quyển. Nhiều người đã ghen tị với
tôi và kêu ca với cụ Ðốc xin để cắt lượt học trò hầu trà,
cho anh em ai nấy đều được chút vinh dự gần gũi thày và sớm
chiều được gần cái đạo của thày. Quan Ðốc mỉm cười: "Thày
giã ơn các anh. Thày nói thì các anh đừng giận: các anh
không pha trà cho hợp ý thày được đâu. Ðể thời giờ ấy mà
học. Anh Ðam (trước kia tôi là Ðởm, sau sợ phạm húy nên cụ
Ðốc mới đổi tên đi cho) anh Ðam pha trà khéo thì thày để cho
giữ việc hầu thày, chứ có phải thày yêu anh Ðam hơn hay là
ghét các anh hơn đâu". Bây giờ mỗi buổi trà sớm, ngồi uống
một mình, tôi cứ nhớ cái tiếng ngâm của quan Ðốc. Sớm nào
dậy, cụ cũng ngâm một vài bài thơ. Giọng thật rền, thật
trong. Cụ hay ngâm mấy câu này:
Bán dạ tam bôi tửu.
Bình minh sổ chản trà,
Mỗi nhật ừ ... ừ ... đều được... y... như thử
Lương y bất đáo gia.
Một buổi sớm, thấy rõ lòng thày là vui vẻ, tôi đã mạn phép
đọc để cụ Ðốc chữa cho bài diễn nôm:
Mai sớm một tuần trà.
Canh khuya dăm chén rượu.
Mỗi ngày mỗi được thế,
Thày thuốc xa nhà ta.
Cụ Ðốc tạm cho là được.
Sớm nay, cụ Ấm cũng ngâm thơ. Cụ tin rằng ngâm thơ lúc yên
lặng, lúc mới tỉnh giấc là một cách vận động thần khí kỳ
diệu nhất của một người sống bằng cuộc đời tâm tưởng bên
trong. Mỗi buổi sớm ngâm như thế là đủ tiết hết ra ngoài
những cái nặng nề trong thân thể và để đón lấy khí lành đầu
tiên của trời đất. Âu cũng là một quan niệm về vệ sinh của
thời cũ. Và người xưa uống trà là để giữ mình cho lành mạnh.
Thường hay vấn mình để sửa mình vào những giờ uống trà tàu,
cụ Ấm thường nghĩ đến câu nghìn xưa của thày Tăng Tử: "Ngô
nhật tam tỉnh ngô thân".
Trong nhà cụ Ấm, người ta đã ồn ào thức dậy. Cụ Ấm cũng bắt
đầu ho. Chừng như hồi nãy cụ đã tự nén hơi thở không dám ho,
sợ làm đục mất cái phút bình lặng huyền bí của lúc đêm và
ngày giao nhau.
Người con trưởng rón rén lại thỉnh an cha già và mon men
ngồi ghé vào thành chiếc sập cũ. Chàng đỡ lấy quạt, nhắc hỏa
lò ra một chỗ rộng, quạt mạnh cho hết tàn than.
-- Thày uống xong rồi. Con uống thì pha mà uống. Trà còn
đượm hương lắm.
Câu nói này là thừa. Vì sáng nào hai cha con ông Ấm chẳng
dậy sớm để uống trà, cha bao giờ cũng uống trước hai chén và
người con cả uống sau nhiều lắm đến ba chén là cùng. Sớm
nay, cũng như lúc thỉnh thoảng của mọi ngày, cụ Ấm lại bắt
người trưởng nam giở tập Cổ văn ra bình lại cả bài
"Trà Ca" của Lư Ðồng. Giọng bình văn tốt quá. Ðiệu cổ phong
trúc trắc thế mà con cụ Ấm lại còn ngâm gối hạc bắt đoạn
cuối một câu trên xuống luôn đầu câu dưới, hơi ngâm trong và
dài. Trông hai cha con uống nước mà y như là một đôi thày
trò vào giờ học ôn buổi sớm mai. Chuyện vãn mãi về trà tầu,
ông cụ Ấm lại mang luôn cả tập Vũ trung tùy bút,
giảng những đoạn công phu của tác giả ông Quốc Tử Giám Tế
Tửu Phạm Ðình Hổ chiêm nghiệm và xưng tụng về trà tầu. Rồi
cụ Ấm liền than tiếc đến cái mùa thu đã đi mất rồi, để sen
hồ rách hết tàn rũ hết lá.
-- Cả ạ, thày cho nước pha trà không gì thơm lành bằng cái
thứ nước đọng trong lá sen. Mỗi lá chỉ có ít thôi. Phải gạn
vét ở nhiều lá mới đủ uống một ấm. Hồi thày còn ít tuổi, mỗi
lúc được quan Ðốc truyền cho đi thuyền thúng vớt những giọt
thủy ngân ấy ở lá sen mặt đầm, thày cho là kỳ thú nhất trong
đời một người học trò được thày học yêu như con.
Trong cái gia đình cụ Ấm, hồi gần đây đã lập lại cái phong
tục uống trà. Có một hồi bần bách quá, cụ Ấm đã cất hẳn bộ
đồ trà vào tủ, tưởng không bao giờ được bày nó ra hằng ngày
nữa.
Nhưng trời kể cũng còn hậu đãi người hàn nho, thế nào năm
nay nhà cụ Ấm lại được mùa cả hai vụ.
-- Này Cả, con lên tỉnh mua trữ lấy ít trà Lý Tú Uyên, năm
nay ta ướp thêm vài chục chai để dành. Thủy tiên nhà, năm
nay gọt những một lắp đấy. Thày mua chung với cụ Kép xóm
dưới. Ðộ mai kia thì giò hoa tách hết màng. Củ nào hoa kép
thì đem ủ trà.
-- Thưa thày, con tưởng trà cứ để nguyên hương của nó mà
uống. Con thấy ông ngoại nhà không bao giờ cho ướp trà mới,
bất cứ là với hoa thơm nào. Ông ngoại con bảo là chỉ nên
ướp, là lúc trà đã đi hương hoặc gần phát du.
Trời rạng dần. Một chút nắng đào lóng lánh trong đám cây
đang rụng dần lá năm cũ, một chiếc lại một chiếc.
Ðạo mạo trong vành khăn nhiễu quấn dối, cụ Ấm đã chống gậy
ra đi.
Cụ quay trở lại dặn người con trưởng đang hí hoáy lau bộ
khay trà:
-- Thày vào trong cụ Ðiều để rồi cùng sang làng bên thăm một
con bệnh già. Con bệnh này, tốn nhiều sâm lắm. Ðến tối thày
mới về vì thày phải sao tẩm thuốc sống bên ấy cho tiện.
(Trong Vang bóng một thời)