Cây Bồ Đề
Tôn Thất Tuệ
Sống
ở Saigon ai cũng thấy rõ ngoài vùng phố xá buôn bán, phần
còn lại của đô thị nầy chia làm hai: một bên chen chúc, một
bên biệt thự kiểu Pháp trong những vườn lá rậm, những bãi cỏ
cắt mịn.... Ngoài đường cây xanh um tùm che mát bờ tường cổ
kính quét vôi màu vàng. Tôi thường đưa nhà tôi qua vùng nầy.
Vợ chồng phân tích từng nét kiến trúc trầm trồ khen ngợi nhà
nầy nhà kia; rồi cũng có lúc bực mình vì một nhà mới mọc nửa
quê nửa chợ.
Sau mấy lần vượt biên không thành và mất hộ khẩu ở vùng quê,
tôi về sống bất hợp pháp ở Saigon. Những lúc cần tránh công
an khu trú mới, tôi thường đi lang thang với đôi dép chiếc
đực chiếc cái vào khu kiểu cách ấy nhưng không còn ngắm các
biệt thự mà cúi đầu. Phần vì buồn cho kiếp lưu đày trên quê
mẹ, phần để tìm các mẫu thuốc lá khá dài như Hoa Mai, Đà Lạt
mà người hút bực mình không cháy liệng xuống đất.
Những bờ tường xi măng còn đó dưới những hàng cây xanh. Vĩa
hè rác rưởi khá nhiều. Không ai buồn sơn lại những bức tường
kia. Chủ cũ đã đi, chủ mới bận nuôi heo nuôi gà, thèm chi
chút thẩm mỹ bên ngoài. Rêu phong ăn dần màu vàng.
Những cây non xé bờ vôi, mọc ra lởm chởm như hàm râu không
cạo. Đó là những cây bồ đề, cây sanh non trước khi thành cổ
thụ. Những cây bồ đề vắt vẻo ở bờ tường, mùa nắng chỉ còn
vài ngọn lá vàng. Những rễ phụ quá khô không bám nỗi vào
vách, buông thả trong gió như sợi tóc lạc lõng. Mới trông
như ai nhặt một cây bồ đề đâu đó, dán vào tường cho nó khô
nó héo mà chơi.
Mỗi lần đi trốn công an như vậy, tôi chỉ có một đồng dính
túi để đi xe buýt lúc tối về nhà. Một hôm khi đứng nhìn cây
bồ đề héo hắt, tôi đánh liều ngồi ở quán cà phê đầu đường,
loại quán bỏ túi bán chui bán chạy ở đô thành đổ nát nầy.
Vừa pha cà phê cô hàng vừa nhìn đôi dép hai thứ của tôi với
con mắt là lạ. Vì thế tôi đứng dậy trả trước một đồng, cái
đồng duy nhất. Và để khỏi bị mời, dù mời đưa, mua thuốc
Samit hay Ba Số Năm, tôi móc túi để ra bàn mấy mẫu tàn thuốc
mới lượm như đánh canh bạc xả láng cuối cùng với người đẹp.
Tôi đưa cốc cà phê lên uống, mắt mãi nhìn đằng kia. Nếu có
ai chú ý, có lẽ nhìn đôi mắt tôi không cú vọ như công an
nhìn người. Thật thế, tôi đang nhìn cây bồ đề trên tường nứt
màu vàng chen vào rêu héo. Tôi ngồi xuống đánh canh bạc cuối
cùng với cô hàng nầy vì cây bồ đề ấy thôi. Nào có thích gì
đâu.
Xin cô hàng lon nước rửa ly, tôi đến cây bồ đề tưới nhẹ.
Nước rút vào bức tường khô không còn một giọt rơi xuống đất.
Dấu nước chảy dài rồi bé phía dưới, in rõ lên nền vôi như
một nét bút lông thủy mạc. Tay trái cầm cái lon, tay phải
chống vào tường, tôi nghiêng mình hướng về cây bồ đề đang
giành dựt nước với bức tường khô.
Khi tôi trở về, thấy tôi làm công việc khá kỳ quái, cô hàng
tỏ vẽ bớt nghi kỵ. Cô lại đùa khi chỉ vào gốc cây lớn:
- Khi cây nầy tàn lụi, cây bồ đề kia sẽ lớn lên che phủ khu
nầy; tôi sẽ dời cái bàn nầy qua đó.
- À ra thế, tôi đáp, tôi vừa giúp cô đấy nhé. Sao cô không
tưới nước cho nó?
- Mặc kệ, cô ta trả lời, cây ngô đồng không trồng cũng mọc.
Tôi ngồi yên lặng. Tôi nhớ hồi bé khi đi thăm ông bà nội,
tôi thích hòn non bộ đặt trên bể cạn, với những tiều phu,
những tiên ông, những chiếc cầu nho nhỏ, con cá, con ốc...tất
cả đầu bằng sứ tráng men. Những thứ ấy ẩn hiện trong rừng
cây nhỏ bé, có thác, có ghềnh, có sơn, có thủy.
Những cây bồ đề vóc dáng sần sù thả chùm rễ râu xanh xuống
nước để nuôi thân. Cả một cây cổ thụ nay chỉ thu nhỏ bằng
gang tay, thân khẳn khiu với thời gian, với sương gió.
Cây cổ thụ tượng trưng cho sức mạnh vô biên phủ cả một góc
trời mà thu lại trong tâm can, trở thành nhỏ bé vừa tầm của
mọi người, mọi vật, len lỏi vào con tim của ai ai. Cây bồ đề
lá nhỏ như quả tim. Thu rút lại mà không khắc khổ, trổ lá
xanh tươi như nụ cười mà không nham nhở. Tuy nhỏ mà cây bồ
đề vẫn tung ra cánh tay che con đường cheo leo nơi hòn non
bộ hay phủ kín một nhịp cầu ước mơ.
Dưới khối núi với cỏ cây trùng điệp trong hồn nhiên tự tại,
dưới đó là nước mát. Cá đỏ lội tung tăng hay nằm lững lờ như
diều ngưng cánh buông thả trong gió chiều. Những con cá đứng
yên như cây bồ đề đứng yên bên trên.
Giây phút bên bờ đường với cây bồ đề khô héo đưa tôi lạc cõi
nào, không hiểu nằm đâu trong cung bực của thời gian và
không gian, làm tôi quên bẵng cảnh lưu đày trên đất mẹ. Cây
bồ đề nhỏ bé lọt lòng tay giờ đây nó an ủi tôi, nó làm bài
học của lòng tôi.
Từ trước đến giờ, tôi chỉ làm việc để tung hoành, để bung ra
để bành trướng và mãi mãi thêm lên. Vì thời cuộc đã khựng
lại, khựng lại trong khung cửa hẹp của nhà tù, khựng lại
trong đôi dép hai thứ, khựng lại trong sự săn đuổi của công
an.
Cây bồ đề cổ thụ ngắn hơn gang tay, tích tụ cả gió sương thu
lại thành sức mạnh, sức mạnh của yếu hèn, sức mạnh của con
tim, sức mạnh của nguyện cầu. Cây bồ đề tượng trưng cho sự
chuyển hoán tư thế trước những cục diện khác nhau mà tâm hồn
vẫn là một. Nếu sự vương ra đã là khó thì sự trở về với bản
thể con người còn khó hơn nữa.
Từ hôm ấy tôi nhặt những cây bồ đề mọc ở vách tường mới lớn
hay đã có hình thù cổ quái đem về trồng trong những phiến đá
nhỏ ghép vào nhau, chưng trong nắp khạp nắp lu. Cứ mỗi sáng
ra nhìn rễ trắng chạy trên đá hay thả xuống nước. Tôi uốn
cành cong lên cong xuống, uyển chuyển theo mốc đá. Trong số
những cây trồng, tôi thích nhất cây có gốc to bằng nắm tay
mà chỉ có mầm lưa thưa, lá lại xanh như đôi mắt tinh khôi,
khối lòng rộng mở. Tôi khen ngầm cây ấy chỉ biểu lộ bấy
nhiêu sức sống.
Những cây bồ đề không mất tiền nầy là nguồn vui không riêng
gì cho tôi mà cho cả gia đình. Mấy đứa con có quyền thêm một
hòn sỏi, một viên bi hay một cành rau nước. Một hôm tôi đi
về thấy một hình người bằng plastic ngồi dưới gốc cây. Tôi
tưởng như một hiền nhân toạ tĩnh, tôi vái chào với tất cả
cung kính. Tôi thấy mình nhỏ bé lại.
Gạt bỏ tính cách triết lý trong cây cảnh Đông phương, những
cây bồ đề nhỏ bé trước mắt cho tôi một bài học kiên nhẫn,
thu mình để giữ lại sự hiện hữu trước bão táp của cuộc đời.
Mỗi cành cây uốn cong tượng trưng cho một u uẩn của lòng tôi.
Chuẩn bị một tư thế vươn ra, một vùng đất soạn sẵn để trở về.
Tôi chấp nhận sự lắng thinh để cố giữ thành trì cuối cùng
làm tư duy thầm kín, một tự tại của cõi lòng. Không để cho
nó nát tan.
Trước một bối cảnh của quê nhà như vậy, làm sao ta cố đừng
điên lên mà giữ cho lòng thật yên, cho thật lắng cho dù có
lao lung tả tơi. Rất nhiều lần vợ chồng tôi thấy như đang ở
trong nhà thương điên. Báo chí Tây phương chỉ trích việc đưa
vào dưỡng trí viện những nhà tư tưởng, những nhà khoa học mà
họ không biết sau bức màn kia là một nhà thương điên rất lớn.
Chỉ khác ở chỗ không có bác sĩ tâm thần.
Phải tự chữa lấy cho qua cơn khủng hoảng nầy. Chữa bằng
những công việc đơn giản. Ở Nhật Bản, khoa xếp giấy thành
hoa quả, chim muông là một phương pháp trị liệu tâm thần rất
tốt.
Ngày ở quê, những lúc trời mưa không làm việc được, tôi rất
đau buồn nhìn công việc bỏ bê mà khoai củ trong nhà đã hết..
Mưa vẫn nhiều; mái tranh dột nát. Một bức bách tâm thần
không tránh được. Tôi giải quyết bằng cách chú tâm tuyệt đối
vào các thanh tre, những sợi lạt, những đóm thuốc lào tách
nhẹ qua cái rựa bén trên tay. Những sợi lạt mềm nhủn dẻo kẹo,
những đóm thuốc lào đều đặn xinh xinh xếp trước mắt như
những tư tưởng mạch lạc trở về trong trật tự trước bức bách
ngoại cảnh, của hiện tại chua xót, của tương lai mờ mịt.
Khi tôi trở về sống ở Saigon, những cây bồ đề thu hút cả chú
tâm của tôi. Tôi đặt vào đấy cả cuộc sống và tìm từ đó sự
lắng yên của tâm hồn trước sức công phá của thời cuộc đổi
thay. Hình ảnh đạo sĩ bằng plastic nhỏ bé ở gốc bồ đề nhắc
tôi một câu nguyện mà tôi xem như một thế liên hoàn chân vạc:
"Xin cho tôi ba điều: 1. Đủ sáng suốt để phân biệt thiện ác,
xấu tốt. 2. Đủ bình thản chấp nhận những gì không thể thay
đổi được. 3. Đủ can đảm làm những gì có thể làm được."
Thưa đạo sĩ, tôi đã bình thản như những cây bồ đề trước mắt.
Tôi đủ can đảm chấp nhận mọi thứ để ra đi, ra đi một mình.
Và nay nếu quyết định nầy đưa đến kết quả, chắc chắn tôi sẽ
để lại sau lưng mấy cây bồ đề nầy và...và...
Những cây bồ đề được tới mát săn sóc không làm tôi quên cây
bồ đề héo hắt nơi bờ tường kia, cái cây cô hàng cà phê mong
mỏi sẽ lớn lên che tàng bóng mát. Sau mấy lần xuống miền Tây
vượt biên thất bại, tôi trở về Saigon. Một hôm có tin đi,
tôi đưa nhà tôi dạo phố theo kiểu nhà nghèo. Chở nhau trên
chiếc xe đạp đến góc đường mà tôi đã đánh canh bạc cuối cùng
với người đẹp bằng mấy mẫu tàn thuốc lá mới lượm giữa đường.
Đến quán tôi chỉ gọi một cốc ca phê đen, nhà tôi không uống
gì. Giây lát sau, tôi đưa cô lại cây bồ đề khô héo kia. Tôi
đứng trong tư thế như lần trước.
Đó là ngày cuối cùng trước khi tôi đi. Tôi sờ cây bồ đề như
ai mới dán vào tường. Với tất cả ngậm ngùi tôi nói:
- Hy vọng lần nầy anh đi được. Anh để lại cho em cây bồ đề
héo hắt nầy.
Nhà tôi đứng buồn. Một lúc sau cô nói:
- Anh còn ngại gì mà không nói thẳng rằng anh để lại đằng
sau một người vợ héo hắt. Nói quanh nói co làm gì cho buồn
thêm.
Tôi đáp:
- Anh không can đảm nói thẳng như vậy. Nhưng thật ra anh còn
để em lại với đống rác kia. Cái đống rác mà mỗi ngày con
chúng ta đào xới tìm bao nylon bán ký, những mãnh chai sắc
nhọn, những vật ngộ nghĩnh mà chúng làm đồ chơi. Anh để lại
cho em tất cả, những dòng chữ yêu thương từ hồi em còn mười
bốn. Anh để lại tất cả, kể cả cái héo hắt của cây bồ đề nầy.--
__________________