Câu Chuyện Của Dòng Sông
Nguyên tác: Hermann Hesse
Việt dịch: Phùng Khánh & Phùng Thăng
NI SƯ THÍCH NỮ TRÍ HẢI
Cư sĩ Liên Hoa kính bái,
với
tất cả lòng thành
Đối với những người rong chơi trong sanh tử, như một cuộc du hành trong thân cát bụi. Bước chân trên sanh tử như dẫm chân trên trái cầu quay tròn, thênh thang, an lạc. Đây là giấc mộng trong những giấc mộng, nhưng những vị mang tâm hạnh Bồ tát, những vị nhìn thấy tánh Phật nơi mình và người, vẫn đi vào cuộc sanh tử nầy vì mọi người, vì mang nặng tâm Bồ đề. Những thương yêu, giận hờn, khổ vui, giao tế, danh lợi, tài sắc, vinh nhục, thịnh suy v.v.. chỉ là những bông hoa trổ ra, làm đẹp trên đoạn đường đi trong mộng và giấc mộng có nghĩa là gì! Vì chúng sanh khổ nên người khổ, vì chúng sanh trầm luân nên đôi tay người cứu vớt, trên nét mặt từ bi của họ thể hiện trọn vẹn ba ngàn đại thiên thế giới của tấm lòng và mỗi hạt cát sông Hằng chỉ là mỗi tấm lòng đối với con người. Cho nên, sự Sanh hay Tử chỉ là một giai đoạn mượn tạm dụng cụ thân xác để hoàn thành cái tình yêu cao thượng nầy.
Bài thơ sau như một nén hương dâng lên tưởng nhớ đến Ni Sư Trí Hải vừa viên tịch, vị Thầy khả kính. Tôi đã lặng yên hằng giờ, trong mọi sự im lặng hoàn toàn và sự xúc động tràn dâng khi nghe tin nầy. Người vẫn còn mãi mãi trong hương trầm mà Người đã đốt, sẽ lan đi và gió sẽ đưa đi...vì bàn tay từ ái đó, vẫn còn ở muôn nơi.
Đêm nay, ta ngồi đây
lắng nghe dòng sông cuộc đời
đang cuồn cuộn chảy
như từng cơn gió thổi qua
có bao lần gió trở lại
khi gió đã đi qua !!!
nhưng người là gió mát
gió qua rồi trở lại
khi trái tim cuộc đời
còn mong những thương yêu
Đêm nay, ta ngồi đây
đốt nén hương tưởng niệm
như hương xưa người đốt
để gió thổi hương đi
hương ấm mình qua lá
lá xanh ở trên cành,
lá vàng còn say sưa
hương xoa dịu cuộc đời
mắt mỉm cười ngóng trông
và Người đương về đâu
Những người đùa sanh tử
như một cuộc rong chơi
giữa tro tàn cát bụi
thân xác có là gì
sống chết có là gì
những người đùa sanh tử
trong mộng ươm giấc mộng
làm no ấm tâm người
Người đi về nơi đâu
vẫn biết rằng sống còn
chỉ là trò hư ảo
ta vẫn xin khấn nguyện
hương trầm xưa Người đốt
đem đến cho cuộc đời
của bao người khổ nạn
bàn tay từ ái đó
vẫn còn ở muôn nơi
09.12.03
Lời ngỏ
Quyển “Câu chuyện dòng sông” dịch từ truyện “Siddhartha” trong tập “Weg nach Innen” (Đường về nội tâm) của Hermann Hesse ( 1877-1962, giải Nobel Văn chương 1946
Hermann Hesse là một nhà văn hào của văn học Đức ở thế kỷ XX, sống cùng một thế hệ với Thomas Mann, Werfel, Wassermann và E. V. Salomon.
Hesse sinh năm 1877, được giải thưởng Nobel về văn chương năm 1946, tác giả nhiều tập thơ và nhiều cuốn tiểu thuyết bất hủ như Peter Camenianl (1904), Demian (1919), Der Steppenwol (1927), Narziss und Goldmun (1930), Das Glaserlenspiel (1943).
Tất cả tác phẩm của Hermann Hesse đều nói lên niềm cô đơn tâm linh của con người thời đại, nỗi thao thức triền miên của những tâm hồn khát khao đi tìm một chân trời mới cho đời mình và nhất là những nỗ lực vô hạn để vươn lên mọi ràng buộc của thân phận làm người.
Trọn tác phẩm của Hermann Hesse là lời thánh ca bay vút lên chín tầng trời, vọng lên nỗi đau đớn vô cùng của kiếp sống, là lòng hướng vọng nghìn đời của con người, dù bơ vơ bất lực mà vẫn luôn luôn tha thiết đi tìm giải thoát ra ngoài mọi giới hạn tầm thường của đời sống tẻ nhạt:
“Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này”
Und allem Weh zum Trotze beib ich.
Verliebt in die verrucki Welt.
Khi viết dòng thơ trên phải chăng Hermann Hesse đã muốn nói lên tất cả ý nghĩa của sự nghiệp văn chương ông giữa cơn biến động phũ phàng của thời đại? Ý nghĩa thâm trầm ấy cũng bàng bạc trong quyển “Câu chuyện dòng sông”
Đọc “Câu chuyện dòng sông”, chúng ta sẽ thấy rằng cuộc đời đáng sống và chứa đựng muôn ngàn hương sắc tuyệt vời, mà chúng ta thường bỏ quên và đánh mất giữa đời sống thường nhật. “Câu chuyện dòng sông” là câu chuyện của mỗi người trong chúng ta; đó cũng là hình ảnh muôn thuở của trần gian và của mộng đời bất tuyệt.
Phùng Khánh, Phùng Thăng.
I.
TỔNG QUAN TÁC PHẨM
Hermann Hesse
Hermann Hesse sinh năm 1887 ở một
tỉnh nhỏ Tây Đức. Thuở thiếu
thời ông bán sách nên có dịp
đọc sách nhiều. Sự nghiệp của
ông bắt đầu bằng thơ nên văn
của ông có tính chất thơ và
súc tích (khó hiểu). Thời đại
ông sống gặp lúc thế chiến thứ 2,
đang thời hưng thịnh của Đức quốc
xã với Hitler tàn sát dân Do Thái,
ông phải định cư vĩnh viễn ở
Thụy Sĩ. Tất cả tác phẩm của
ông đều chứa đựng một triết
lý bi quan, nói lên sự đau khổ, cô
đơn của con người giữa cuộc
đời. Con người đó cũng là
chính ông, nên có thể xem tác phẩm
ông như một độc thoại nội tâm
vậy. Mẫu người mà ông đề
cập vừa rất đặc thù, vừa rất
phổ quát. Đó là những con
người luôn luôn nỗ lực vươn
lên khỏi những giới hạn tầm
thường của cuộc sống, và luôn
luôn thất bại trong nỗ lực nầy. Ta
có thể bắt gặp hình ảnh của
chính mình trong đó, nên mặc dù
Hầu hết tác phẩm của
ông được xây dựng theo một
đường hướng như sau:
1)
Luôn luôn có hai nhân vật thuộc hai khuynh
hướng đối nghịch: tuân kỷ luật
và nổi loạn (hay thiên thần và ác
quỷ, lý tính và cảm tính).
Đó cũng là hai khuynh hướng trái
ngược trong cùng 1 con người. Dường
như ông có ý nói cả hai đều
không ổn, vì quá thánh thiện
thì dễ kiêu căng, hãnh diện về
sự khổ hạnh, về sự siêu việt
của mình (Tất Đạt thấy mình như
một vì sao, còn tha nhân chỉ như
những chiếc lá rụng). Tất Đạt
lúc tu khổ hạnh, và Tất đạt ăn
chơi trác táng đều là hai cực
đoan. Khi giác ngộ Tất đạt sống
một đời trung đạo: không kiêu
hãnh về sự thành đạt của
mình, nhưng cũng không đắm say thế
tục.
2)
Có sự nhất thể trong 1 con người dù
có nhiều mặt khác nhau, và nhất
thể của cuộc đời dù thiên hình
vạn trạng. Thấy được nhất thể
đó mới thật sự giải thoát
không còn thấy có hai tướng đối
nghịch. Tất Đạt khi giác ngộ đã
sống như một người bình thường
(mà không phải tầm thường) mới
có thể hướng dẫn Thiện Hữu
đạt giác ngộ. Thiện Hữu suốt
đời giữ giới khổ hạnh nhưng vẫn
đau khổ vì còn thấy nhị nguyên.
Cuối cùng ông phải nhờ Tất Đạt,
biểu trưng cho trung đạo.
3)
4)
Ông còn muốn nói lương tri của con
người (tức Phật tính) không bao giờ
mất. Đó là khi Tất Đạt
định tự tử (sau khi thấy mình chạy
theo cuộc đời không được cái
gì mà mất mát nhiều quá), thì
chợt nghe tiếng “
II.
DIỄN TIẾN CÂU CHUYỆN DÒNG SÔNG
Cuộc đời của Tất
Đạt cũng là cuộc đời của
mọi người chúng ta. Ba lần tỉnh ngộ
của Tất Đạt tương đương
với ba lần vấp ngã của chàng. Ngộ
đi liền với mê, phiền não đâu
thì giác ngộ đó (phiền não
tức bồ đề).
Lần đầu, do cơn mê
khổ hạnh Tất Đạt ngộ được
rằng khổ hạnh không đưa đến
trí tuệ, và đã từ bỏ khổ
hạnh để đi ra giữa cuộc đời,
sử dụng các giác quan để học
bài học đau khổ do đam mê khoái
lạc giác quan. Sự mê lầm thứ hai
này được đánh thức bằng
tiếng “OM” mầu nhiệm, gợi nhớ
lại những ngày tu khổ hạnh, và nhờ
đấy chàng bỏ ý định quyên sinh.
Lần ba nhân sự đau khổ vì đứa
con yêu quý đã bỏ chàng mà
đi, Tất Đạt đã ngộ được
rằng cuộc đời là “như
vậy”, và không còn thái độ
kiêu hãnh, khinh thường người thế tục,
mà thấy tất cả đều là anh em,
đạt đến lòng bi mẫn sâu xa
đối với tất cả cuộc đời.
Lúc đó con người mới thật sự
hạnh phúc, vì mình là tất cả.
A.
TẤT ĐẠT, CON NGƯỜI KHỔ HẠNH
1. Trước hhi gặp Phật
Đức Phật ra đời
là để xóa bỏ 5 giai cấp trong xã
hội Ấn lúc bấy giờ: Bà la môn,
Sát đế lợi, Phệ xá (thương gia),
Thủ đà la (giai cấp công nhân) và
giai cấp nô lệ. Ngài tuyên bố
“Không có giai cấp trong giòng máu
cùng đỏ, trong giọt nước mắt
cùng mặn” nên ngài chính danh lại những
danh từ thông dụng lúc bấy giờ là
sa môn và bà la môn. Với ngài, sa
môn là người ly dục, ly bất thiện
pháp. Bà la môn là người trí
đã diệt trừ tham, sân, si. Trong câu
chuyện thì hai danh từ này ám chỉ giai
cấp. Cuộc đời của Tất Đạt
lúc đầu hết sức thánh thiện
trật tự và gương mẫu. Cha Tất
Đạt một người bà la môn chuyên
tế tự, thấy khuynh hướng thánh thiện
của con nên ông rất mừng hi vọng con
ông sẽ tiếp tục sự nghiệp của
ông. Nhưng Tất Đạt lại là mẫu
người nổi loạn, phê phán. Chàng nghi
ngờ tất cả các thủ tục cúng
tế cổ truyền của Bà la môn giáo
(như tắm rửa để tẩy sạch tội
lỗi) và chàng nghi ngờ luôn cả kinh
Vệ Đà vốn là uy quyền tối thượng
trong Bà la môn giáo. Chành phản kháng
lại tất cả các trật tự trong xã
hội chàng đang sống. Tóm lại, Tất
Đạt là một biểu tượng của
sự trong sạch, một mẫu người lý
tưởng và gương mẫu, nhưng lòng
luôn luôn khắc khoải vì chưa tìm ra
chân lý.
Thiện Hữu trái lại,
là người luôn tuân phục một
trật tự sẵn có, hăm hở sống theo
điều thiện và không bao giờ nghi vấn
về cuộc đời. Thiện Hữu là cái
bóng của Tất Đạt, nhưng cũng có
thể là một khía cạnh khác trong
tâm hồn Tất đạt. Mỗi con người
chúng ta đều có hai khía cạnh mâu
thuẫn ấy, nên phải đau khổ.
Tất Đạt đã tu
thiền đến độ sống được trong
phi ngã, như có thể xuất hồn để
nhập vào một con chim, mục đích là
để quên bản ngã của mình trong
nhất thời hầu chống lại những đau
khổ trong cuộc sống. Nhưng khi trở lại
tự ngã của mình chàng vẫn băn
khoăn, vẫn thắc mắc về số phận con
người.
(Đức Phật gọi thứ
định đó ví như đá đè
cỏ vì khi xuất định thì vẫn
là người bình thường với
đầy đủ tham, sân, si.)
Tất Đạt cũng có
thái độ phê phán đối với
kiểu nhập định như vậy, và với
tất cả lễ nghi của Bà la môn giáo.
Chàng cho rằng chân lý là những
gì không thể truyền đạt
được. Như cha chàng sống một
đời thánh thiện với lễ nghi tế
tự, mà vẫn đau khổ.
Tất Đạt xin phép cha đi
theo một nhóm sa môn để tu khổ hạnh.
Một thời gian sau chàng bảo Thiện Hữu
người bạn đồng tu: Điều cần
thiết nhất đáng biết nhất (hạnh
phúc tối thượng, niết bàn) thì ta
không thể học được mà chỉ học
được những điều phụ thuộc
bên lề. Thiện Hữu rất lo lắng, khi
thấy rằng mặc dù đã nắm hết
những thuật bí truyền của các sa
môn, Tất Đạt vẫn giữ thái
độ bất mãn với những sở
đắc của mình, và Thiện Hữu
không biết Tất Đạt sẽ bỏ nhóm
sa môn khi nào.
2. Khi gặp Phật
Nghe tin đức Phật sắp
đến thuyết pháp trong vùng lân cận,
Thiện Hữu đề nghị Tất Đạt
cùng đến nơi ngài. Tất Đạt cáo
từ sa môn trưởng để ra đi nhưng
ông ta nổi giận. Tất Đạt bèn
chứng tỏ đã học được ở
ông những gì. Chàng bắt đầu
thôi miên vị sa môn già, thu phục ý
chí của ông, khiến ông cúi đầu
lẩm bẩm nói lời chúc tụng chàng
trước khi lên đường. Thiện Hữu
vô cùng khâm phục bạn, nói: “Anh
thật đã tiến rất xa, nhiều hơn
tôi tưởng. Nếu lưu lại chốn này,
chắc có ngày anh sẽ học cách đi
được trên mặt nước”. Tất
Đạt nói, chàng không ham gì học
cách đi trên mặt nước hay các
thần thông kiểu đó.
Trái với Thiện Hữu
muốn bỏ các sa môn để tìm gặp
Phật, bỏ thầy này tìm đến thầy
khác, Tất Đạt chỉ muốn ra đi
để tìm gặp lại chính mình.
Sau khi nghe đức Phật thuyết
pháp, Thiện Hữu vui mừng đứng lên xin
gia nhập tăng đoàn và tin chắc rằng
Tất Đạt cũng làm như mình. Nhưng
khi nghe Tất Đạt nói: “Lần đầu
tiên Thiện Hữu đã biết đi
trước tôi một bước, tôi xin chúc
lành cho bạn”, Thiện Hữu đã
òa khóc. Tất Đạt ngắm nhìn
đức Phật, chiêm ngưỡng từng dáng
điệu của Ngài, một con người
thánh thiện cho đến đầu gót
chân. Nhưng chàng không xin ở lại
để tu theo Phật.
Sự ra đi của Tất
Đạt làm cho Thiện Hữu nghi ngờ giáo
pháp của Ngài. Biết tâm lý của
bạn, Tất Đạt nói: “Bạn hãy
yên tâm! Làm sao tôi có thể tìm
được khuyết điểm trong lời dạy
của Ngài?”.
Khi đến từ giã
đức Phật, Tất Đạt đã hỏi
Ngài 3 điều:
1)
Nếu thế giới đã hoàn thiện trong
mọi giây phút, thì tại sao cần phải
độ chúng sinh?
2)
Tại sao hiện tại không có ai thành
Phật ngoại trừ Ngài?
3)
Điều cần học nhất, niết bàn
giải thoát mà ngài đã chứng, sao
không ai học được?
Đức Phật không trả
lời, Ngài chỉ nói: “Ông bạn
lý luận hay lắm, nhưng hãy cẩn thận
trước sự khôn ngoan quá mức! Giáo
lý của ta không phải để mà lý
luận”.
Tuy thế những hình ảnh
của Đức Phật đã ảnh hưởng
cả cuộc đời của Tất Đạt một
cách gián tiếp, mãi cho đến khi
chàng đạt được sự an lạc.
Tất Đạt luôn nhớ đến hình
ảnh của đức Phật: “Ta chưa thấy
một người nào có dáng dấp khoan
thai, phản ảnh một nội tâm an lạc như
thế. Đấy là một người đã
nhiếp phục được tự ngã. Ta cũng
có ngày nhiếp phục được tự
ngã như vậy. Ta đã thấy một
người, mà trước người ấy ta
phải cúi đầu. Ta không bao giờ cúi
đầu trước một người nào
khác nữa. Không có giáo lý nào
lung lạc ta được nữa, khi mà giáo
lý của người này đã không
quyến rũ được ta. Phật đã
cướp của ta, Ngài đã cướp
đi Thiện Hữu, lâu nay là cái bóng
của ta mà bây giờ đi theo ngài. Nhưng
Phật đã đem lại cho ta chính ta”.
Có thể nói Tất
Đạt đã không theo Phật vì không
có “duyên”, và vì còn
cái “nghiệp” với Kiều Lan sau
này. Nhưng quả tình, Tất Đạt
rất kính yêu đức Phật, và
hình ảnh Ngài ám ảnh suốt cuộc
đời chàng cho đến khi chàng tỉnh
thức.
3. Sau hhi từ giã đức Phật
Đây là sự thức
tỉnh lần đầu của Tất Đạt.
Chàng cảm thấy giờ đây mình
không thể về lại với gia đình hay
với đời khổ hạnh nữa, sau khi đã
giã từ đức Phật. Chàng cảm
thấy cô đơn cùng cực, đứng giữa
trời đất mà không biết phải
làm gì. Đây là trạng thái
mà trong nhà thiền gọi là đứng
trên đầu sào cao trăm thước còn
dưới kia là vực thẳm.
Người tu hành có lúc
đi đến chỗ tuyệt vọng, không còn
nơi bám víu. Nếu không vượt qua
được giai đoạn này thì sẽ tẩu
hỏa nhập ma, trở thành một con người
sa đọa.
B.
TẤT ĐẠT, CON NGƯỜI BÊ THA
1. Sự sa đọa qua ba nấc
Sau khi quyết định không
trở về nhà mà cũng không đi theo
đức Phật, Tất Đạt lang thang ra khỏi
khu rừng thì gặp kiệu của một kỹ
nữ trang sức lộng lẫy tỏa hương
thơm ngát đang đi đến. Ông nhìn
chăm chăm không rời. Kiều Lan chưa từng
thấy ai nhìn mình 1 cách lạ lùng
như vị sa môn râu tóc bù xù kia. Do
duyên nghiệp trói buộc, nàng cảm
mến ngay, trong khi Tất Đạt đang theo các
gia nhân để hỏi dò về nàng. Khi
Kiều Lan cho tiếp kiến, Tất Đạt
đã bảo: Tôi muốn học về tình
yêu? Nàng có thể dạy tôi không?
Kiều Lan cười lớn bảo, những người
đến với tôi phải giàu sang, có
nhiều tặng phẩm! Rồi cô khuyên Tất
Đạt hãy đến làm việc với
Vạn Mỹ, là một trong những thương gia
giàu có thường đến với cô.
Kiều Lan còn cho Tất Đạt những chỉ
dẫn quý báu trên đường tiến
thân giữa cuộc đời. Vạn Mỹ rất
hài lòng có Tất Đạt là
người cộng sự.
a) Trong giai đoạn
đầu cuộc sống thế tục, chàng
vẫn còn bị chi phối bởi 3 nguyên tắc
của đời sa môn là suy tư, chờ đợi
và nhịn đói. Ở giai đoạn này
Tất Đạt là mẫu người lý
tưởng trong xã hội: có nhiều tiền
mà không nô lệ đồng tiền, giúp
đỡ mọi người với một tâm
bình đẳng, vui vẻ với mọi người
và sống có điều độ. Vạn
Mỹ nhận xét: “Người bà la môn
này không bao giờ trở thành một
thương gia thực thụ. Hắn luôn thư
thái trong công việc, chẳng bao giờ lo sự
mất của và vẫn còn sống đời
sống của một sa môn”. Chàng
thường kể cho Kiều Lan nghe về đức
Phật và đời tu khổ hạnh của
mình lúc trước.
b) Nhưng một khi
đã sa đọa rồi thì không ngừng
lại ở đó. Tất Đạt ngày
một tiến sâu vào sa đọa. Dần dần
chàng biết uống rượu, đánh bạc,
rành các nghệ thuật ăn chơi. Từ từ
chàng thấm nhiễm tất cả các thói
tục của những người có tiền,
nhưng trong tâm chàng vẫn khinh người,
vẫn thấy mình là một vì sao
đứng tách biệt trên bầu trời,
còn tha nhân chỉ như những chiếc lá
rụng theo chiều gió.
c) Để chứng
tỏ lòng khinh tiền của mình, chàng phung
phí trong các cuộc chơi, ném tiền qua
cửa sổ. Nhưng đến khi bị thua bạc
quá nhiều thì chàng không còn thái
độ giải thoát nữa. Tất Đạt
bắt đầu đi đòi nợ để
có tiền đánh bạc, cau có với
những con nợ dầy dụa, rồi đi lang thang
đến cái nấc cuối của sa đọa
là trở thành một trọc phú: dần
dà nét mặt chàng nhiễm lấy những
vẻ thường có nơi những người
giàu, vẻ bất bình, mệt mỏi, nhàn
hạ và vắng bóng yêu thương. Căn
bệnh nội tâm của giới trưởng giả
đã nhiễm sâu vào trong chàng.
2. Sự chán ngấy dục lạc
Khi đã đạt tới
chỗ thấp nhất của sự sa đọa thì
trong chàng bừng lên một mãnh lực
cứu chàng ra khỏi vực thẳm. Đó
là điểm linh quang hay Phật tính hay
lương tri trong con người mà dù lăn
lộn trong vũng lầy bao nhiêu lâu vẫn
không mất. Đó là lúc Tất
Đạt nằm chiêm bao về đức Phật,
về Thiện Hữư, về Tăng đoàn,
về cảnh thanh tịnh trong khu vườn
trưởng giả Cấp cô độc nơi
chàng đã gặp đức Phật. Giấc
mơ đã thức tỉnh Tất Đạt ra
khỏi vũng lầy dục vọng, nên khi thức
dậy, chàng buồn vô hạn vì thấy
mình đã bỏ đi những gì quý
báu nhất trong cuộc đời để đi
theo những cái không ra gì, mà vẫn
không tìm được hạnh phúc, vẫn đau
khổ gấp bội lần. Chàng nhớ lại
đời sống trong sạch, thánh thiện
chàng đã sống trước kia, nhớ
hình ảnh đức Phật rồi nhìn lại
con người mình. Chàng soi gương, cảm
thấy chán ghét tột độ bộ mặt
mình, thấy nó thật già và xấu
xí. Tiền của, sắc dục đã đưa
đẩy chàng trở thành một con
người tàn tạ thế này thì cuộc
đời quả thật vô vị, chán
chường. Tất Đạt kể lại giấc
mộng của mình cho Kiều Lan nghe, rồi biến
mất. Chàng đi lang thang đến một bờ
sông, cúi nhìn xuống làn nước,
bắt gặp vẻ mặt quái dị của
mình, ghê tởm nó, phỉ nhổ lên
nó. Chàng kinh tởm chính bản thân
mình, suy gẫm lại cuộc đời mình
và thấy nó hoàn toàn thất bại,
đã đến tận cùng của đau
khổ, không còn cái gì để bám
víu. Ý định quyên sinh lởn vởn trong
đầu Tất Đạt. Chàng leo lên một
cành cây nhô ra ngoài mặt nước
rồi chúi đầu toan lao xuống. Ngay lúc
đó chàng nghe vẳng lại từ lòng
sông và từ đáy lòng chàng, phát
ra tiếng
Chàng nhẩm lại tiếng
Om một thời gian khá lâu rồi
nhắm mắt ngủ với tiếng
Khi tỉnh dậy Tất Đạt
thấy một sa môn ngồi canh giấc ngủ cho
mình và chàng nhận ra ngay Thiện Hữu,
nhưng Thiện Hữu không nhận ra chàng.
Thiện Hữu nói: “Thấy ông ăn mặc
sang trọng mà nằm ngủ ở chỗ vắng
vẻ thế này thì có thể bị
cướp hoặc bị rắn cắn, nên tôi
đã canh cho ông ngủ. Giờ ông đã
tỉnh dậy rồi thì tôi xin chào ông
để còn ra đi”. Tất Đạt
nói: “Cám ơn thầy sa môn đã
canh cho tôi. Nhưng thật ra tôi không cần ai
canh cả? Vậy ông cứ đi đi, Thiện
Hữu!” Thiện Hữu ngạc nhiên:
“Tại sao ngài lại biết tên
tôi?”. Tất Đạt đáp: “Tôi
đã biết tên anh từ ngày anh mới sinh
ra và còn biết rõ cả tên cha, mẹ, ...
cả gia đình anh nữa, vì tôi
đã từng ngồi thiền với anh khi xưa,
đã từng tu khổ hạnh với anh, rồi anh
đi theo đoàn sa môn của Phật”.
Thiện Hữu mừng rỡ khi gặp lại Tất
Đạt và hỏi: “Bây giờ anh đang
đi đâu?”
-
Tất Đạt đáp: “Tôi đang đi
hành hương?”
-
Thiện Hữu nói: “Chưa bao giờ tôi
thấy một sa môn đi hành hương với
bộ y phục kiểu cách như thế!”.
-
Tất Đạt đáp: “Nhưng giờ
thì bạn đã thấy. Và tôi có
nói tôi là sa môn đâu?”
(Hành hương mà Tất
Đạt nói có 1 ý nghĩa sâu sắc
chàng đang đi trên đường trở
về quê hương tâm linh. Dù dưới
bất kỳ một hình thức nào mà biết
thanh lọc bản thân, trải qua những đau
khổ để rút kinh nghiệm từ cuộc
sống, thì đời sống ấy là một
cuộc hành hương. Không phải chỉ
người tu mới hành hương mà mọi
người đều đang hành hương
để vươn lên từ vũng lầy của
cuộc đời.)
Thiện Hữu vì còn đang
chấp vào danh từ và hình tướng
nên không hiểu. Chàng chào Tất
Đạt rồi ra đi. Tất Đạt nhìn theo
với lòng cảm mến người bạn
thiếu thời. Sau khi thức dậy chàng có cảm
tường mình sống một cuộc đời
mới, nhìn vũ trụ vạn vật với
lòng thương yêu bình đẳng và
người đầu tiên mà chàng trải
lòng yêu thương là Thiện Hữu.
Đó là điều kỳ diệu mà
tiếng
Giờ
đây chàng không thể trở về với
cuộc sống sa đọa như cũ. Đây
là lần tỉnh ngộ thứ hai. Chàng nằm
suy nghĩ về số phận của mình, và
tìm xem đâu là nguyên nhân những sai
lầm trong quá khứ. Chàng đã chiến
đấu 1 cách vô vọng với tự ngã
khi làm một người Bà La Môn, một sa
môn khổ hạnh: “Quá nhiều tri thức
đã ngăn ngại chàng, quá nhiều
sự thánh thiện, khổ hạnh ép xác;
chàng đã quá kiêu căng, luôn
luôn là người thông minh nhất, hăng
hái nhất, luôn luôn hơn người
một bước, luôn luôn là người
trí thức, người giảng đạo, người
hiền triết. Tự ngã chàng đã len
lỏi vào trong chức vị giảng đạo
ấy, vào lòng kiêu hãnh ấy vào tri
thức ấy. Nó an vị ở đấy một
cách vững vàng và tăng trưởng
dần, trong khi chàng tưởng rằng mình
đang hủy hoại nó bằng cách nhịn
đói và sám hối. Bây giờ chàng
đã hiểu vì sao chàng phải trở
thành một thương gia, một người
cờ bạc rượu chè, một người
trọc phú cho đến khi con người thuyết
giáo, vị sa môn trí thức trong chàng
chết đi. Chàng phải sống qua những năm
tháng kinh khủng, chịu đựng cơn buồn
nôn, học các bài học điên rồ
của một cuộc đời vô vị trống
rỗng cho đến lúc chàng đi tới
chỗ tuyệt vọng đắng cay để cho
Tất Đạt, con người của hoan lạc, con
người của giàu sang cũng chết nốt.
Chàng đã chết, và một Tất
Đạt mới đã thức dậy sau một
giấc ngủ hồi sinh”.
Ở lần tỉnh ngộ
thứ nhất sau khi gặp Phật, là Tất
Đạt tỉnh cơn mộng ép xác khổ
hạnh. Khi chàng buông ra, mở tung cửa ngõ
giác quan thì chàng sa ngay vào đời
sống khoái lạc. Ấy là do những năm
dài ép xác dục vọng bị dồn
nén, giờ đây giác quan chàng như
một lò xo bị nén quá mức bắt
đầu được bung ra. Ở lần tỉnh
ngộ thứ hai, chàng tỉnh khỏi cơn mộng
sa đọa chạy theo lạc thú thế tục.
Cả hai thái độ này đều là hai
cực đoan đáng trách nên đức
Phật dạy cần phải sống trung đạo.
Ở giai đoạn tu khổ
hạnh, Tất Đạt còn bị “phiền
não chướng” chỉ cho sự mê chấp
cái tự ngã thánh thiện, và
đây là cơn mộng ép xác. Ở giai
đoạn sa đọa theo rượu chè, trai
gái là Tất Đạt còn bị “nghiệp
chướng” chỉ sự buông lung sáu
căn, và đây là cơn mộng buông
lung sa đọa. Ở giai đoạn cuối, sau khi
tỉnh cơn mộng buông lung sa đọa, Tất
Đạt còn phải chịu cái khổ vì
đứa con, có thể gọi đây là
“báo chướng”. Chỉ sau khi vượt
qua khỏi cả ba chướng ngại, chàng mới
thực sự giải thoát.
Nhờ dòng sông mà
chàng tỉnh ngộ nên Tất Đạt cảm
thấy yêu mến dòng sông không muốn
rời. Chàng đi dọc theo con sông và khi
đến bến đò chàng gặp lại
Vệ Sử, người đã đưa chàng
qua sông lúc chàng từ giã đời sống
sa môn để đi vào đời sống sa
đọa. Vệ Sử không nhận ra vì
chàng đã thay đổi quá nhiều
và đang ăn mặc sang trọng.
Tất Đạt nói: “Con
sông đẹp quá, tôi muốn ở lại
để học từ dòng sông này. Vậy
ông có thể cho tôi ở lại học
việc để đưa đò với ông
không?”.
Vệ Sử đáp: “Một
người ăn mặc sang trọng như ông
thì làm sao chịu đựng được
đời sống cực khổ của 1 người
đưa đò và hơn nữa phải có
sự thích thú thì mới làm
được nghề này”.
Tất Đạt nói:
“Hôm nay tôi đã bị phê bình
vì bộ y phục này hai lần. Ông có
thể đổi cho tôi 1 bộ đồ cũ
rách để tôi chèo đò với
ông không?”.
Vệ Sử nói: “Có
chuyện gì khiến ông quyết định
như thế? Người như ông đâu
phải để đi chèo đò!”.
Tất Đạt bộc lộ
hết tâm sự với Vệ Sử. Vệ Sử
nói, “Thảo nào tôi thấy ông quen
quen. Có phải ông là vị sa môn mà
tôi đã đưa qua sông cách
đây lâu lắm rồi chăng?”
Vệ
Sử bằng lòng để chàng ở lại
trong chòi bên sông. “Anh hãy ở
lại, nhưng không phải học với tôi
mà học từ dòng sông”. Từ
đấy hai người làm bạn với nhau
rất thân thiết.
3. Đau khổ vì đứa con
Dần dà, tin đồn loan ra
về hai ông thánh sống ở bên sông.
Nhiều người hiếu kỳ đi đò qua
sông để tìm hiểu sự thật. Có
người công nhận họ thánh thiện
thực, nhưng nhiều người chỉ cho là tin
nhảm.
Một ngày, có tin đức
Phật sắp nhập Niết bàn, và rất
đông người hành hương đến
viếng Phật lần cuối. Trong số những
người hành hương này, một hôm
có cả Kiều Lan đem theo đứa con trai
nhỏ. Khi đến bờ sông, Kiều Lan bị rắn
cắn. Đứa con chạy kêu cứu, gặp
Tất Đạt và Vệ Sử trong chòi. Hai
người đưa Kiều Lan vào chòi,
nàng đang hấp hối. Tất Đạt quan
sát sự biến đổi trên gương
mặt người thân yêu nhất đang đi
dần vào cõi chết, và thấy như
chính mình cũng đang chết. Chàng lạ
lùng ngắm nhìn sự biến đổi từ
một sắc đẹp đã làm chàng say
mê mà giờ đây chỉ là cái
xác thân tàn tạ.
Kiều Lan nói: “Tôi
định đến viếng đức Phật để
được sự bình an nhưng giờ
đây gặp anh, tôi đã tìm thấy
sự bình an đó. Có phải anh đã
đạt đến Đấy rồi chăng?”.
Và nàng giới thiệu với Tất Đạt
đứa con của họ.
Tất Đạt sung sướng
đón nhận đứa con trai của chàng sau
khi chôn cất Kiều Lan, nhưng đứa trẻ
thì chẳng những không thương chàng
mà còn chống cự lại. Một ngày kia
nó mắng Tất Đạt, không nhận
chàng là cha, ăn cắp hết số tiền
dành dụm của hai người rồi lấy
chiếc đò trốn đi. Tất Đạt
nhớ con quay quắt. Chàng rủ Vệ Sử đi
tìm đứa trẻ, nhưng Vệ Sử bảo:
“Không, tôi chỉ đi tìm chiếc
đò mà thôi. Con chim non kia đã quen 1
nếp sống khác, một chiếc tổ khác.
Nó không chạy trốn của tiền và
thành thị với cảm giác chán
chường như bạn đã trốn, nó
đã từ giã những thứ ấy một cách
miễn cưỡng. Tôi đã hỏi dòng
sông nhiều lần, nhưng dòng sông
đã cười tôi, cười bạn,
cười sự điên rồ của chúng ta.
Nước sẽ tìm đến nước, tuổi
trẻ sẽ tìm đến tuổi trẻ. Bạn
hãy hỏi dòng sông đi, và lắng
nghe!”.
Nhưng Tất Đạt vẫn
còn nghiệp nhớ thương đứa con.
Chàng trốn Vệ Sử xuống phố tìm
nó nhiều ngày nhưng không gặp.
Nỗi đau khổ lần này
của Tất Đạt dã giúp chàng
hiểu thêm những nỗi khổ của cuộc
đời. Chàng không còn thấy mình cao
hơn thiên hạ, không khinh đời nữa
mà cảm thông được với mọi
người. Chàng chèo đò chở mọi
người qua sông, cảm thấy họ đều là
anh em. Chàng chia sẻ nổi đau khổ của
một bà mẹ mất con, một người vợ
mất chồng. Chàng không còn thấy
những đau khổ của họ là tầm
thường, như khi còn làm sa môn chàng
đã thấy. Bây giờ, khi đã trải
qua tất cả những nhịp cầu đoạn
trường của cuộc đời, chàng mới
có khả năng cảm thông với mọi
người. Đây là lần tỉnh ngộ
rốt ráo từ đó tâm đại bi
phát sinh.
Một ngày kia khi vết
thương đang đau nhói nơi chàng,
Tất Đạt chèo đò qua sông, tâm
can tê tái vì nỗi nhớ. Chàng lên
bờ với mục đích xuống phố tìm
con. Sông vẫn chảy nhẹ nhàng, đấy
là mùa khô nhưng tiếng nước reo
lên một cách kỳ diệu. Con sông rõ
ràng đang cười người chèo
đò lẩm cẩm. Tất Đạt đứng
nghiêng mình trên làn nước để
lắng nghe. Chàng thấy diện mục mình phản
chiếu trên dòng nước lặng lờ
trôi. Có cái gì trong hình ảnh ấy
phảng phất giống phụ thân chàng.
Chàng nhớ lại khi còn là thanh niên,
nào chàng đã khiến cha buồn lòng
khi buộc ông phải để cho chàng đi theo
những người khổ hạnh, nào chàng
đã bỏ đi mà không bao giờ quay
về! Cha chàng há đã không chịu
đựng nỗi đau đớn mà giờ
đây chàng đang chịu đựng vì
đứa con hay sao! Phải chăng ông đã
chết từ lâu trong cô quạnh, không
thấy lại con mình. Chàng lại không
chờ đợi 1 số phận tương tự
đó sao? Con sông cười lớn: Phải,
như thế đấy! Tất cả mọi sự,
nếu không chịu đựng một lần
để cuối cùng kết thúc, thì
vòng lẩn quẩn đó sẽ tái diễn,
những đau khổ tương tự sẽ tái
diễn mãi hoài.
Tất Đạt trở về kể
lại mọi sự với Vệ Sử. Vệ Sử
nói: “Anh đã lắng nghe dòng
sông, và anh đã hiểu được
một ít. Nhưng hãy lắng nghe thêm
nữa.”
Tất Đạt lắng nghe.
Chàng thấy hình ảnh cha chàng, hình
ảnh của chính chàng và hình ảnh
của con chàng chạy loạn xạ vào nhau.
Hình ảnh Kiều lan cũng xuất hiện rồi
trôi đi, hình ảnh Thiện Hữu cùng bao
nhiêu người khác cũng hiện đến rồi
đi qua. Họ đều trở thành một
phần của dòng sông,con sông cũng
đầy những khát vọng, buồn đau, ray
rứt, đầy những ước muốn không
được thỏa lòng. Tất cả những
làn sóng nước đều vội vã
đi về mục đích, chảy về nguồn
thác, về biển, về đồng bằng, về
đại dương. Nước trờ thành hơi
bốc lên, hơi thành mưa rơi xuống
thành suối, nguồn, sông lạch rồi lại
đổi thay, lại tuôn chảy. Nó vẫn
còn âm hưởng của nỗi buồn sầu
tìm kiếm, nhưng trong đó còn
có nhiều tiếng khác hòa theo: tiếng
của hoan lạc bi ai, tiếng dữ, tiếng lành,
tiếng cười, tiếng khóc, hàng trăm
tiếng, hàng ngàn tiếng. Tất cả
những tiếng ấy kết thành thế nhân,
vũ trụ. Tất cả đều là dòng
biến chuyển, là khúc sinh ca. Khi Tất
Đạt chú ý lắng nghe cung đàn
muôn điệu ấy, khi chàng không chỉ
lắng nghe riêng rẽ nỗi buồn thảm hay
khúc hoan ca, khi chàng không ràng buộc
mình với thanh âm nào riêng biệt
mà lắng nghe cái Nhất thể, cái
Toàn diện, thì lúc ấy cung đàn
muôn điệu kia chỉ bao hàm có một
tiếng OM.
Tất Đạt còn thấy
nhiều hình ảnh khác, thấy trọn vẹn
cuộc đời, thấy được đại
thể của vũ trụ bao la trong đó không
phải chỉ riêng mình chàng đau khổ.
Khi ấy chàng thấy rằng cuộc đời
vốn là “như vậy” (như thị).
Đạt đến đấy thì không buồn
khi xuân tàn cũng không vui khi xuân
đến, sống một cách tự tại, thản
nhiên. Đây là lần giác ngộ thứ
ba và cuối cùng của Tất Đạt.
Tất Đạt trở về
tâm sự với Vệ Sử. Ông nhìn
vào mắt Tất Đạt và biết chàng
đã giác ngộ: “Tôi chờ giây
phút này đã lâu! Bây giờ công
việc tôi đã xong, xin từ biệt.”
Rồi ông đi vào rừng.
Hình ảnh Vệ Sử là
hình ảnh Bồ tát ở trong đời
để đưa người từ bờ này
(bờ mê) qua bờ bên kia (bến giác).
Bồ tát không ở bờ này hay bờ kia,
cũng không ở giữa dòng, không trụ
đâu cả. Bồ tát là một
người bạn giúp đỡ mà không
kể là mình đã cứu giúp, cũng
không tự cho là thầy của bất cứ ai.
Một ngày kia, Tất đạt
chèo đò cho một đoàn sa môn trong
đó có Thiện Hữu sang sông. Thấy
người chèo đò vui vẻ đưa sa
môn qua sông mà không lấy tiền,
(không nhận ra Tất Đạt) Thiện Hữu
khen:
–
Ông tốt quá! Chắc ông cũng là
người đang đi tìm chính đạo
phải không?
Tất
Đạt:
–
Ông tự cho mình là người tìm
kiếm hay sao?
Thiện
Hữu:
–
Phải. Suốt đời tôi luôn đi tìm
chính đạo.~
Tất
Đạt:
–
Vì anh luôn tìm kiếm nên anh không bao
giờ gặp được!
Thiện
Hữu kinh ngạc hỏi:
–
Sao anh nói lạ vậy?
Tất
Đạt:
–
Người đi tìm kiếm vì đã
có mục đích, nên chỉ chăm
bẳm vào đó, không thấy
được bao nhiêu chuyện khác. Người
không đi tìm thì luôn sống thong dong,
tự tại, vui với những gì mình gặp.
Vì không tìm kiếm nên tôi luôn
luôn gặp gỡ những điều mới lạ.
Cũng vì hăm hờ tìm kiếm, mà
mấy lần gặp lại người bạn cũ
của mình, anh vẫn không nhận ra.
Khi ấy Thiện Hữu mới kinh
ngạc kêu lên:
–
Ồ Tất Đạt, lần này tôi
cũng lại không nhận ra được anh!
Tại sao anh bỏ bộ y phục sang trọng để
trở thành người chèo đò?
Tất
Đạt đáp:
–
Tất cả những đoạn đời đều
là những lớp áo giả tạo! Cả
tôi và anh cũng thế.
Khi nhìn kỹ bạn, Thiện
Hữu thấy vẻ thanh thoát tỏa ra từ con
người chàng. Vị sa môn nói:
–
Qua bao nhiêu năm tầm đạo, tôi vẫn
đau khổ vì chưa tìm thấy bình an.
Tôi thấy hình như anh đã đạt
được Nó. Xin anh hãy nói cho tôi nghe.
Tất
Đạt nói:
–
Tôi thấy trên đời, chỉ có yêu
thương là quan trọng nhất!.
Thiện
Hữu ngạc nhiên:
–
Anh nói lạ thật! Đức Phật đã
khưyên kẻ tu hành không nên có
những tình cảm thế tục như là
sự thương yêu, bám víu.
Tất
Đạt:
–
Nhưng tôi biết tôi không nói trái
với ý của Ngài! Làm sao ngài
không có tình yêu, khi Ngài đã
bỏ cả cuộc đời
để giáo hóa con người thoát
khổ, đạt đến an lạc. Ngài phải
là một Con Người chan chứa tình yêu!
Thiện
Hữu vẫn không hiểu những gì bạn
nói, và tha thiết van nài:
–
Xin anh hãy nói cho tôi một lời dễ
hiểu. Đời tôi đi thường gian nan
và tăm tối!
Tất
Đạt nói như ra lệnh:
–
Thiện Hữu! Hãy cúi sát gần tôi
và hôn trán tôi đi!
Đây là một hành vi
gây chấn động, mà các bậc thầy
Thiền tông và Mật tông thường
sử dụng để thức tỉnh môn sinh, khi
ngôn từ không có hiệu quả. Nó
nói lên rằng chỉ có tình yêu
có nội dung trí tuệ mới đem lại
sự an lạc, giải thoát cho con
người,
không phải chỉ trí tuệ suông.
Cuối
cùng, Thiện Hữu cảm thấy như vừa
được chính Đức Phật giải
tỏa mọi khổ đau khắc khoải, và
tìm thấy an lạc.
III.
NHẬN ĐỊNH
A.
PHÂN TÍCH NHÂN VẬT
1. Tất Đạt: là biểu tượng cho mẫu người
mà Phật giáo gọi là Tuệ giải
thoát. Con người đó phải dũng
mãnh, tỉnh giác trong mọi lúc, có
thái độ phê phán, phản tỉnh.
Tất Đạt hội đủ những đức
tính ấy, như ta thấy ngay cả trong thời
gian chàng sống sa đọa.
(Thái
độ nhìn ngắm, tỉnh giác:)
-
Giai đoạn đầu của sự sa đọa:
Mặc dù sống cuộc đời trụy
lạc chàng vẫn còn thái độ
tỉnh giác của một sa môn: “Chàng
thấy mọi người sống một cách
trẻ con, giống như thú vật, làm
chàng vừa cảm thương vừa khinh bỉ.
Chàng cảm thấy họ lao nhọc, khổ sở,
bạc đầu về những chuyện đối với
chàng thật không đáng gì: tiền
bạc, danh vọng hão huyền, lạc thú
nhỏ nhoi. Họ đánh chửi nhau, than vãn
về những nỗi khổ chỉ làm cho một sa
môn mỉm cười, và họ đau khổ
về những thiếu thốn mà một sa môn
không cảm thấy”.
–
Giai đoạn hai: “Thỉnh thoảng
chàng nghe trong tâm tư một tiếng nói
yếu ớt nhẹ nhàng, nhắc nhở chàng 1
cách âm thầm, phàn nàn một cách
lặng lẽ đến nỗi chàng khó nghe
rõ. Rồi đột nhiên chàng nhận ra
rằng mình chỉ như đang chơi một
ván bài, rằng chàng cũng vui vẻ
đấy, đôi khi còn hưởng thụ khoái
lạc nữa, nhưng cuộc sống chân thật
đang trôi qua mà không động chạm
đến chàng”. Và hình ảnh
đức Phật vẫn luôn ở trong tâm
trí Tất Đạt. Chàng nói với
Kiều Lan: “Tôi không bao giờ quên
được người ấy. Mỗi ngày có
hàng ngàn người vây quanh ngài,
sống theo lời dạy của ngài. Nhưng họ
chỉ là những chiếc lá rơi, không
có trong họ sự minh triết và định
hướng”.
(Thái
độ phê phán của Tất Đạt:)
Kính
bạch đấng Giác ngộ, tôi nghĩ
rằng không ai tìm được giải
thoát qua những lời chỉ giáo. Ngài
không thể truyền cho ai bằng ngôn từ,
những gì đã đến với ngài trong
giây phút ngài đạt giác ngộ.
Lời chỉ giáo của ngài dạy rất
nhiều: phải sống thế nào, tránh
điều ác như thế nào. Nhưng có
một điều giáo lý ấy không chứa
đựng, ấy là tại sao chỉ có
mình ngài đạt được những
điều ngài đã chứng để trờ
thành một đấng giác ngộ. Chính
vì thế mà tôi phải đi con
đường của tôi, không phải để
tìm một lý thuyết hay hơn, vì tôi biết không
thể có nhưng để từ bỏ mọi
lý thuyết và thầy dạy, để tự
mình đạt đến đích–-hay là
chết. Nhưng tôi sẽ nhớ mãi hôm nay
và giờ phút này, hởi Đấng
Toàn giác, khi chính mắt tôi
được chiêm ngưỡng một bậc
thánh nhân.
(Tất
Đạt, mẫu người sống bằng cảm
tính hơn là lý tính : )
Mẫu người của Tất
Đạt là mẫu người mẫn cảm
nên đối trước Đức Phật,
chàng thích chiêm ngưỡng dáng dấp,
từ dung của Ngài hơn là nghe những
gì ngài dạy. Mẫu người nặng về
cảm tính như Tất Đạt nếu đi tu
sẽ trở thành một nhà thần bí,
nghĩa là không thể suy tư trừu
tượng được, mà phải có
biểu tượng cụ thể. Họ là những
nghệ sĩ, những người sống “hết
mình” nên dễ khổ đau.
Trong tác.. phẩm Nhà
khổ hạnh và gã lang thang, Hermann Hesse
cũng đã để Đan Thanh (tương
đương nhân vật Tất Đạt ở
đây) đối thoại với Huyền Minh
(mẫu người lý tính) như sau.
Đan
Thanh: Làm sao có thể suy tư không
hình ảnh?
Huyền
Minh: Suy tư và tưởng tượng hoàn
toàn khác nhau. Suy tư được thể
hiện bằng khái niệm, công thức, mà
không phải bằng hình ảnh. Khi hình
ảnh chấm dứt thì triết lý bắt
đầu. Với anh, thế giới được
tạo bằng hình ảnh, nhưng với tôi
thì bằng ý tưởng. Anh là một bậc
thầy trong lãnh vực tưởng tượng.
Nếu đi tu, anh sẽ là một nhà thần
bí, là người không thể tách
rời tư tưởng khỏi hình ảnh. Bời
thế anh không phải là người tư duy.
Nhà thần bí là một loại nghệ
sĩ âm thầm. một nhà thơ không
vần điệu, một nhạc sĩ không âm
thanh, một họa sĩ không sơn cọ.
(Bởi
thế, tôn giáo chính thống duy lý xem
mật tông là một thứ tà đạo,
vì tưởng tượng nhiều quá thì
dễ đi xa sự thật, và những hình
ảnh biểu tượng có thể làm
người khác hiểu lầm–tỉ dụ
các hình ảnh trong một đền thờ
Ấn giáo.)
Sau
bao năm xa cách, khi gặp lại Đan Thanh và
hiểu rõ chàng hơn, Huyền Minh thú
thật:
Từ
trước tôi vẫn xem nhẹ nghệ thuật,
đến nay tôi mới hiểu là có
nhiều nẻo đường đi đến chân
lý. Tư duy không phải là con
đường duy nhất, lại càng không
phải là con đường tốt nhất. Cả
anh và tôi đều đang nỗ lực, và
đương nhiên cả hai đều bất
toàn, nhưng nghệ thuật quả thật vô
tội vạ hơn tư duy (trong lãnh vực nghệ
thuật không bao giờ có chiến tranh.)
Sau khi Đan Thanh tạc xong bức
tượng đắc ý để tạ ơn tri
ngộ, chàng trở lại đời sống lang
thang, làm cho Huyền Minh nhớ nhung và phải
xét lại cuộc đời mình. “Nhờ
Đan Thanh, tâm hồn chàng trở nên rào
rạt nhưng cũng vì Đan Thanh, chàng trở
nên nghèo nàn, yếu đuối. Thế
giới trong đó chàng sống và xem như
nhà mình: thế giới của học thuật, đời
sống tu sĩ, chức vị giáo hội, lâu
đài tư tưởng vững chắc, tất
cả thế giới ấy đã bị Đan Thanh
làm cho lung lay tận gốc rễ. Bây giờ
lòng tu viện trưởng đầy dẫy
hoài nghi. Dĩ nhiên về phương diện
lý trí, đạo đức thì đời
của chàng tốt hơn, đúng hơn,
trật tự hơn và gương mẫu hơn,
đó là một cuộc đời của
phụng sự, hiến dâng, luôn luôn nỗ
lực cho ánh sáng, công bằng. Cuộc
đời của người ấy trong sạch hơn
đời của một nghệ sĩ lang thang, một
kẻ quyến rũ đàn bà. Nhưng
dưới cái nhìn của Thượng
đế thì cuộc đời gương mẫu
này có gì tốt đẹp hơn cuộc
đời của Đan Thanh? Con người có
thật sinh ra để sống 1 cuộc đời máy
móc, điều độ, học Aristotle và
thánh Thomas, học tiếng La tinh, Hy lạp, dập
tắt cảm giác, chạy trốn trần gian
không? Không phải con người còn
được tạo dựng với những giác
quan và bản năng, với những bóng đen
đẫm máu và khả năng gây tội
ác làm kinh hoàng và thất vọng
đó sao?
Những câu hỏi ấy quay
cuồng trong đầu óc vị tu viện
trưởng mỗi khi nghĩ đến Đan Thanh.
Phải, có lẽ sống như Đan Thanh thật
hồn nhiên hơn, “người” hơn,
cam đảm hơn và e còn cao quý
hơn, khi dấn mình vào dòng thực tại
khắt khe hỗn loạn, dấn mình vào tội
lỗi để chấp nhận những hậu quả
đắng cay. Có lẽ việc làm của
Đan Thanh khó hơn, can đảm hơn và
chân thực hơn: lang thang trên đường
thiên lý với đôi giày rách,
đùa với cảm quan để trả giá
bằng đau khổ. Huyền Minh đã
nhìn sâu vào cuộc đời thác
loạn của bạn mà vẫn không giảm
chút nào lòng kính trọng mến yêu.
Ồ không, từ khi tu viện trường thấy
được những pho tượng do bàn tay
vấy máu của chàng nghệ sĩ tạc
nên, Huyền Minh biết rõ trong trái tim con
người bốc dồng ấy, kẻ quyến rũ
đàn bà ấy, có những thiên bẩm
tràn trề ánh sáng và tài hoa.
Người nghệ sĩ chịu
đựng để cho người ta khinh bỉ
mình, như trong Mưa nguồn Bùi Giáng
đã nói:
Tôi
xin chịu cuồng si để sáng suốt,
Tôi
đui mù cho thỏa dạ yêu em
(chỉ
cuộc đời).
Điểm tương đồng
giữa nghệ sĩ với người tư duy là,
đến chỗ tuyệt đỉnh của nghệ
thuật, nghệ sĩ cũng đành bó tay
như nhà tư duy không có lời để
diễn đạt chân lý. Đan Thanh từ
giã xưởng điêu khắc để lang thang
trở lại, vì chàng thấy không một
nét họa nào, một đường
điêu khắc nào có thể diễn tả
sự linh động của cuộc đời. Cuộc
đời giống như một bà mẹ bí
ẩn không bao giờ hiển lộ toàn thân
cho ta thấy, nên Đan Thanh đành chết đi
để cho bức tranh tuyệt tác về Bà
Mẹ đời vẫn mãi mãi là một
lẽ huyền vi.
Tóm lại, Tất Đạt
là mẫu người đốn ngộ, theo con
đường Kim cang thừa của Mật tông.
Những kẻ chưa có giới định, chưa
có công lực của trí tuệ, cao ngạo,
ích kỷ, tâm giao động, mà đi con
đường tuệ hay Kim Cang thừa thì rất
nguy hiểm, dễ dàng sa đọa. Bởi thế,
ta không nên quên rằng, trước khi
bước vào cuộc sống sa đọa, Tất
Đạt đã từng tu khổ hạnh và
có những định chứng rất cao, nhờ
thế chàng mới có thể gượng lại
được một khi sắp chết đuối trong
thanh sắc cuộc đời.
2. Thiện Hữu
Là mẫu người tư duy,
khổ hạnh, nên thích những cái trừu
tượng. Chàng thuộc mẫu người
nặng về lý tính. Thiện Hữu đi theo
con đường tiệm giáo tùy tín
hành, là người đã tu nhiều
kiếp nên biết chọn lựa để gởi
mềm tin của mình, và may mắn gặp
dựợc thiện tri thức. Tuy Thiện Hữu
suốt đời đi theo Tất Đạt, nhưng khi
gặp Phật ông đã bỏ Tất Đạt
chứ không a dua theo bạn một cách mù
quáng. Thiện Hữu là hạng người
đã trồng nhiều căn lành nên
không thể sa đọa, mặc dù lâu
ngộ chân lý.
3. Vệ Sử
Nhân vật này tượng
trưng cho lương tri hay Phật tính, vượt
lên trên cả cảm tính và lý
tính. Vai trò của Vệ Sứ ìà
hình ảnh của một Bồ tát âm
thầm sống giữa cuộc đời. Người
chèo đò là người luôn di
động qua lại, không trụ một nơi
nào: không ở bờ sinh tử không ở
bờ Niết Bàn cũng không ở giữa
dòng. Trung Đạo cũng vậy, không phải
là con đường giữa, mà vượt
lên trên các cực đoan.
Vệ Sử đưa người
từ bờ mê sang bến giác, ông là
người đã âm thầm hướng dẫn
cho Tất Đạt cách học lắng nghe từ
dòng sông. Tất Đạt cũng là một
học trò giỏi, nên khi theo Vệ Sử học
từ dòng sông thì Tất Đạt ngộ
được một điều: không phải
chỉ có dòng sông thiêng liêng, mà
tất cả mọi sự vật đều thiêng
liêng. Chúng ta có thể học đạo
từ khắp nơi: ngọn cây, chiếc lá...
chứ không phải chỉ có dòng sông.
Vệ Sử có khả năng
đặc biệt là biết lắng nghe, trong
Phật giáo gọi là phản văn, xoay cái
nghe trở về tâm để lắng nghe tự
tính thanh tịnh, nghe cái nhất thể, không
bám vào một đối tượng nào.
Nhờ sự lắng nghe đó mà con
người có thể giải thoát.
B.
TƯ TƯỞNG NÒNG CỐT
Hermann Hesse đã gởi gắm
những suy tư của mình về chân lý,
về cuộc đời và về sự giải
thoát qua các nhân vật Tất Đạt
và Vệ Sử. Có thể tóm tắt
các tư tưởng nòng cốt như sau:
1)
Chân lý là cái gì không thể
truyền dạy được. Kinh điển không
đem lại cho ta niết bàn, an lạc
được mà tự mình phải chứng
lấy.
2)
Mọi lập ngôn đều bao hàm cái
điều ngược lại: nói
“thiện” đã bao hàm ác, nói
“khiêm tốn” đã bao hàm kiêu
căng.
3)
Thời gian không thật có. Giải thoát
chính là nhìn thực tại một cách
toàn diện không cắt xén. Trong đứa
bé đã ẩn tàng ông già, trong sinh
đã có diệt. Chết là bắt
đầu đời sống mới dưới một
hình dạng mới. Tất Đạt nói: Thời
gian không thực có, này Thiện Hữu!
Tôi đã luôn luôn trực nhận
điều ấy. Và nếu thời gian không
có thực, thì cái đường
tưởng tượng ngăn chia đời này
với cõi vô cùng, phân chia thiện
và ác, hạnh phúc với khổ đau,
cũng chỉ là ảo tưởng.
Thiện Hữu: Sao lại như
thế?
Tất Đạt: Này nhé
bạn! Tôi là một kẻ phạm tội
và bạn là một kẻ phạm tội.
Nhưng một ngày kia người phạm tội
cũng sẽ đạt Niết Bàn, thành
Phật. Ý niệm “một ngày kia”
chỉ là ảo tưởng, chỉ là một
sự so sánh. Không, đức Phật tiềm
tàng (Phật tính) đã có sẵn trong
người tội lỗi, tương lai đã
nằm sẵn trong hiện tại. Đức Phật
tiềm tàng ấy phải được trực
nhận trong người kia, trong bạn, trong tôi, trong
mọi người. Thiện Hữu, thế giới
không từ từ tiến trên đường
dài để đạt đến toàn thiện.
Không, nó hoàn hảo trong mọi lúc, trong
từng giây phút. Tất cả mọi tội
lỗi đều mang theo nó sự ân xá,
mỗi trẻ con đã là một ông già
tiềm tàng, mọi mầm non đã mang sẵn
chết chóc, và trong mỗi người đang
hấp hối, có sự sống vĩnh cửu.
Chúng ta quen nhìn một
chiều, hoặc sinh hoặc diệt, nên đau
khổ. Người giác ngộ thì thấy
sự luân chuyển của vạn vật cũng
như bốn mùa, trong diệt có sinh và
ngược lại, như Mãn Giác thiền sư
nói:
Mạc vị xuân tàn hoa
lạc tận,
Đình tiền tạc dạ
nhất chi mai.
4)
Những sợ hãi, lo sầu đều ở trong
thời gian, (nghĩa là, người ta chỉ lo
sợ khi dự đoán về tương lai, và
so sánh với quá khứ) nên mọi đau
khổ trên đời sẽ được khắc
phục khi ta khắc phục thời gian, khi ta bất
chấp nó (chỉ sống trong hiện tại với
tất cả sự tỉnh giác để thấy
rằng khái mệm “hiện tại” cũng
không thực).
5)
Cái gì có giá trị, là chân
lý đối với người này thì
dường như với người khác không
có nghĩa gì cả (Do vậy thật không nên
áp đặt tư tưởng, lối sống
của mình cho người khác).
6)
Tất cả mọi sự đều thiêng liêng
nếu ta biết nhìn và biết lắng nghe.
Mỗi sinh vật đều gợi cho ta chân lý
vĩnh cửu nếu ta không bám vào nó.
Đừng hòng tìm Thượng đế ở
một nơi nào, vì Thượng đế
ở khắp nơi. Chỗ tuyệt đỉnh của
đạo cũng như của nghệ thuật, là
sự im lặng vô ngôn. Khi ta dừng lại ở
1 cái gì để cho đó là
thượng đế, thì chính lúc
đó ta xa rời Thượng đế (A. Gide).
Không bám vào 1 biểu
tượng nào cả mới thấy được
chân lý (vô sở trụ). Chính thái
độ nhìn của ta quan trọng hơn đối
tượng nhìn.
Tất
Đạt nói: “Thú thật tôi
không cho danh từ, tư tưởng có 1 tầm
quan trọng nào, tôi quan tâm đến sự
vật nhiều hơn. Một người trên
dòng sông này đã là thầy của
tôi, ông ta là một người thánh
thiện, trong bao nhiêu năm ông chỉ tin vào
dòng sông, không tin gì khác. Con sông
đối với ông ta như một thượng
đế. Trong nhiều năm ông không biết rằng
mỗi làn gió, mỗi đám mây, mỗi
thân chim, sâu bọ cũng đều thiêng
liêng không kém, và có thể dạy cho
ông ta hệt như dòng sông đã
dạy”.
7)
Yêu thương cuộc đời là quan trọng
hơn tìm hiểu và phân tích nó.
“Bây giờ Tất Đạt nhìn cuộc
đời với một thái độ khác
trước: không quá khôn ngoan, không
quá kiêu hãnh, và vì thế tò
mò, thân thiện hơn. Khi chàng đưa qua
sông những nhân vật thường ngày,
họ không còn xa lạ với chàng như
trước. Mặc dù đã đạt tới
mức tự giác cao độ và chịu
đựng được cái ung nhọt cuối
cùng của mình, bây giờ chàng thấy
những người thường tình ấy
đều là huynh đệ của chàng,
những ước mơ phù phiếm của họ
không còn phi lý mà trở nên dễ
hiểu, đáng thương và lại còn
đáng phục nữa là khác”.
8)
Danh từ không nói lên được chân
lý.
Tất Đạt bảo Thiện
Hữu: “Với tôi dường như
thương yêu là quan trọng nhất trên
đời. Những tư tưởng gia vĩ đại
có thể đặt nặng vấn đề
tìm hiểu nhân sinh vũ trụ, nhưng tôi
nghĩ, chỉ có một điều quan trọng
là yêu thương cuộc đời, không
phải khinh bỉ nó, không thù ghét nhau mà
nhìn đời nhìn mình cùng tất
cả mọi sự với niềm yêu thương,
quý trọng”.
Thiện Hữu: “Nhưng
đây chính là điều mà đấng
giác ngộ gọi là vọng tưởng.
Ngài dạy lẽ độ lượng, nhẫn
nhục, từ bi... nhưng không dạy yêu
thương. Ngài giới răn chúng ta không
được trói buộc mình vào tình
yêu thế tục”.
Tất Đạt: “Chúng ta
lại rối ren về danh từ và ý nghĩa.
Tôi không phủ nhận rằng danh từ
thương yêu của tôi thật trái
ngược với lời chỉ giáo của
đức Cù Đàm. Tôi khinh
thường danh từ cũng vì lẽ ấy:
tôi biết mâu thuẫn kia chỉ là ảo
tưởng. Quả thế, làm sao Ngài không
biết đến tình yê u khi mà Ngài,
mặc dù đã nhận chân sự phù
phiếm giả tạm của nhân thế, vẫn
dấn thân suốt đời giủp đỡ
và giáo hóa con người?”
Vậy đừng nên bám
chặt vào ngôn từ mà quay lưng với
nghĩa lý. Danh từ hông thể diễn
tả được tất cả mọi sự.
9)
Lương tri (hay Phật tính) của con người
luôn luôn trỗi dậy khi có cơ hội,
dù con người có lăn lộn trong phiền
não vô minh bao lâu đi nữa. Nó như
một viên Kim cương bất hoại: Cả
cuộc đời ăn chơi của Tất Đạt
đã không ảnh hưởng chàng bằng
một tiếng
C.
BIỂU TƯỢNG DÒNG SÔNG
1)
Dòng sông tượng trưng cho dòng
thời gian, dòng đời. Tất cả những
triết gia cổ điển và hiện đại
đều ví thời gian như dòng nước
chảy. Khổng Tử, Héraclite, Henri Bergson
đều ví thời gian và tâm thức
như dòng nước (stream of consciousness). Cuộc
đời con người giống như một dòng
sông tuôn chảy không bao giờ đứng
lại, đây là tính vô thường
của cuộc đời. Vì vô thường cho
nên mỗi giai đoạn trong cuộc đời
chỉ là giả tạm, không thật: đó
là tính vô ngã, cũng như dòng
sông không thực có.
Tất
Đạt: “Bánh xe hiện tượng quay nhanh
lắm Thiện Hữu! Đâu là Tất
Đạt con người bà la môn? Đâu
là Tất Đạt sa môn? Đâu là
Tất Đạt con người giàu có? Cái
gì giả tạm sẽ đổi thay”.
Trong
tập Mưa nguồn, thi sĩ Bùi Giáng
viết:
Dòng
sông chảy, ai người xin níu lại?
Còn
đời người thì:
Xuân
xanh xô cổng chạy dài
Bỏ
sương tuyết phủ phượng đài
phía sau
2)
Tính nhất thể của cuộc đời: Con
sông đồng lúc ở khắp mọi nơi,
cũng thế cuộc đời là toàn thể
bất khả phân: sống chết, vinh nhục,
xấu tốt, được thua, còn mất, vui
buồn... tất cả đó là cuộc
đời.
3)
Dòng sông cũng thường được
dùng để ví với dòng vô
thức tuôn chảy không ngừng, chiếm
vị trí quan trọng như làn nước
ngầm bên dưới, nơi sinh sống của
loài thủy tộc.
4)
Dòng sông luôn luôn trở về: “Nước
đi ra biển lại mưa về nguồn,”
(Tản Đà) cuộc đời cũng vậy
tuần hoàn như bốn mùa luân chuyển,
cho nên biệt ly cũng là trùng ngộ:
Thưa
rằng ly biệt mai sau
Là
trùng ngộ giữa hương màu nguyên
xuân
(Bùi
Giáng)
KẾT
LUẬN.
Câu Chuyện Dòng Sông trước hết là một
tác phẩm văn học nghệ thuật, cho nên
bất cứ một phân tích nào về
phương diện tư tưởng đều mang
ít nhiều tính chủ quan do người
đọc tự gán cho nó. Bởi thế
những ai phê phán sách này phỉ
báng đạo Phật hay đề cao đạo
Phật, đều không nhằm chỗ./.
(Trích trong Nguồn
mạch tâm linh của Thích Nữ Trí
Hải)
TẤT ĐẠT
Cạnh những con thuyền,
dưới ánh nắng ven sông, trong bóng
cây cổ thụ và trong khu rừng vàng
nhạt, Tất Đạt, người con trai Bà La
Môn đĩnh ngộ ấy đang lớn lên
cùng bạn chàng là Thiện Hữu. Nắng
nhuộm màu “bồ quân” đôi vai
thon đẹp khi chàng tắm lễ “thánh
tẩy”. Mắt chàng thoáng những nét
trầm tư mỗi lúc chàng dạo chơi trong
khu rừng xoài, khi nghe mẹ hát, trong những
buổi học với cha, hay khi chuyện trò cùng
những người thức giả. Tất Đạt từ
lâu đã sớm dự phần trong các
cuộc đàm luận của những bậc tri
thức, thường tranh biện với Thiện Hữu
và cùng bạn thực tập suy tư quán
tưởng. Chàng có thể đọc tiếng
“
Cha chàng rất sung sướng vì con thông minh và khát khao hiểu biết. Ông tin tưởng chàng sẽ lớn lên thành một học giả, một mục sư, một hoàng tử trong giới Bà La Môn.
Mẹ chàng đầy kiêu hãnh khi nhìn con đi, đứng, khoẻ mạnh, xinh đẹp, dẻo dai. Tất Đạt chào mẹ với một dáng điệu nho nhã.
Và mỗi khi Tất Đạt dạo bước qua phố phường, với vầng trán cao, đôi mắt vương giả, dáng điệu thanh tao, thì những cô gái Bà La Môn bỗng nghe lòng rộn lên một niềm yêu thương rào rạt.
Thiện Hữu bạn chàng, con một người Bà La Môn, yêu chàng hơn ai hết. Chàng yêu đôi mắt và giọng nói trong trẻo của Tất Đạt. Chàng yêu dáng đi của Tất Đạt, cử động của chàng. Chàng yêu tất cả những điều Tất Đạt làm và nói, và trên tất cả, chàng yêu kiến thức của Tất Đạt, những tư tưởng đẹp đẽ và đầy nhiệt tình, ý chí mạnh mẽ và thiên tính cao vời của chàng. Thiện Hữu biết rằng chàng trai kia sẽ không trở thành một người Bà La Môn tầm thường, một người hành lễ tế thần biếng nhác, một kẻ ham nói phù chú, một người hùng biện khoác lác, một mục sư xảo quyệt, hay chỉ một con chiên ngoan ngớ ngẩn giữa đàn chiên đông. Không, và chính chàng, Thiện Hữu cũng không muốn trở thành một Bà La Môn như trăm ngàn Bà La Môn khác. Chàng muốn theo Tất Đạt, con người khả ái tuyệt vời kia. Vì nếu Tất Đạt có ngày trở thành một vị chúa tể, nếu có một ngày chàng bước vào cõi quang minh, thì lúc ấy Thiện Hữu muốn theo chàng như bạn chàng, như người tôi tớ của chàng, như cái bóng của chàng.
Mọi người đều yêu quí Tất Đạt như thế. Chàng làm cho họ vui vẻ hạnh phúc. Nhưng chính chàng, Tất Đạt, lại không hạnh phúc. Lúc lang thang dọc những con đường hồng trong vườn, khi ngồi trầm tư trong bóng xanh nhạt của cụm rừng, khi rửa đôi chân trong buổi thánh tẩy với tư thái đầy trang nghiêm, đâu đâu chàng cũng được mọi người quí trọng và là nguồn vui cho tất cả. Tuy thế thâm tâm chàng lại không được yên vui. Mộng ảo và những suy tư khắc khoải dồn vào tâm tưởng chàng từ khúc sông cuồn cuộn, từ những vì sao lấp lánh, từ ánh mặt trời chan hoà. Mộng tưởng và vọng động xâm chiếm chàng, dâng lên từ làn khói của những cuộc tế thần, phát ra từ những thánh thi tuôn tràn từ những giáo lý của các vị Bà La Môn.
Tất Đạt bắt đầu thấy những hạt giống khổ đau trong chàng. Chàng bắt đầu cảm thấy tình thương của song thân cũng như tình thương của Thiện Hữu không thể cho chàng hạnh phúc bình an, không thể thoả mãn chàng. Chàng bắt đầu ngờ rằng phụ thân đáng kính của chàng và các sư phụ khác, những vị Bà La Môn thông thái đã truyền hết cho chàng những tri kiến của họ rồi, tất cả kiến thức của họ đã trút vào túi khôn của chàng rồi. Nhưng túi khôn không đầy, trí năng chàng không thoả mãn, linh hồn chàng không bình yên và con tim không an nghỉ. Nước tịnh thuỷ tắm hàng ngày thật tốt, nhưng đây cũng chỉ là nước, không thể rửa sạch tội lỗi, không làm vơi bớt khổ đau của tâm hồn. Những cuộc tế thần và khấn nguyện cùng Thượng đế thật là tuyệt diệu, nhưng đấy phải chăng là tất cả? Và thần linh ấy là gì? Có phải thật là đấng sáng tạo ra thế giới? Không phải rằng linh hồn duy nhất đã tạo ra vũ trụ hay sao? Và thần linh phải chăng là những hình thái được tạo dựng như tôi và người, những sinh vật phù du? Và như thế phải chăng rất nên dâng lễ cho các thần linh? Và ta phải dâng cúng lễ vật cho ai nữa, phải kính nể ai nữa nếu không phải thần linh. Linh hồn duy nhất? Và linh hồn ở đâu, trái tim bất diệt ở đâu, nếu không phải Tự ngã, trong phần thâm sâu, bất diệt mà mỗi người đều mang sẵn? Nhưng đâu là Tự ngã ấy, phần thâm sâu ấy? Đấy không phải là thịt xương, cũng không phải tư tưởng hay ý thức. Những người trí thức đều dạy chàng như thế. Vậy thì nó ở đâu? Đi tìm Tự ngã, Linh hồn ấy, có nơi nào khác đáng đặt chân không? Không ai chỉ đường, vì không ai biết, từ cha chàng, thầy chàng, những bậc thức giả cho đến những bài thánh thi. Những người Bà La Môn và những thánh kinh của họ biết hết về mọi sự, họ đã đi sâu vào mọi vấn đề - sự tạo thiên lập địa, nguồn gốc của ngôn ngữ, thức ăn, hơi thở vào, thở ra, sự sắp đặt của những giác quan, hành động của những thần linh. Họ thông thạo vô số vấn đề - nhưng có bỏ công không, nếu họ không thấu hiểu vấn đề quan trọng độc nhất?
Nhiều câu thơ
của thánh kinh nhất là Áo Nghĩa Thư
– có nói về cái thâm sâu ấy.
Kinh chép rằng: “Linh hồn mi là cả
vũ trụ”. Khi một người ngủ,
người ấy đi vào trong phần thâm
sâu của mình va an trú trong linh hồn.
Những câu thơ này chứa đựng một
trí tuệ tuyệt diệu, mọi hiểu biết
của thánh hiền đã diễn tả
đầy trong ngôn ngữ diễm lệ, trong trẻo
như mật hoa mà những con ong hút
được. Không, vốn liếng tri thức to
tát ấy, đã được bao thế hệ
kế tiếp của những người hiền
triết Bà La Môn kết tập duy trì,
không thể nào dễ khinh thường. Nhưng
đâu là những người Bà La Môn,
mục sư, hiền triết đã thành
công – không những trong sự nắm vững
được tri thức sâu xa nhất này
mà còn trong sự chứng nghiệm tri thức
ấy? Đâu là người đã
được điểm đạo để có
thể, khi đạt đến linh hồn trong giấc
ngủ, giữ linh hồn ấy lại trong trí
thức, trong đời sống, khắp nơi, trong
ngôn ngữ và hành động hàng
ngày? Tất Đạt quen biết rất nhiều
vị Bà La Môn đáng kính, nhất
là cha chàng, một người thánh
thiện, thông thái và được quí
trọng. Cha chàng thật đáng kính
phục với phong độ trầm tĩnh uy nghi. Ông
sống một đời sống tốt đẹp,
lời nói thì khôn ngoan, tư tưởng
thì thanh cao, tế nhị - nhưng cả đến
ông ta, người biết nhiều như thế,
ông ta sống có hạnh phúc chăng? Có
được bình an chăng? Ông ta lại
không là người không ngớt tìm
kiếm đó sao? Ông lại không liên
tục tìm đến nguồn với cơn khát
không bao giờ được thoả mãn,
đến những cuộc tế thần, hay tìm
đến sách vở và những cuộc luận
đàm của dòng Bà La Môn đấy hay
sao? Tại sao cha, người không có lỗi
lầm ấy, phải rửa sạch tội lỗi
và ráng sức tẩy mình mỗi ngày?
Thế thì linh hồn không có ở trong cha hay
sao? Nguồn suối không có sẵn trong chính
tâm ông sao? Người ta phải tìm thấy
nguồn ở ngay trong tự thân mình, phải
chiếm hữu nó. Mọi việc làm khác
đều là mò mẫm sai lầm.
Đấy là những suy tư của Tất
Đạt, nỗi khát khao của chàng, nỗi
sầu muộn của chàng.
Chàng nhẩm lại với mình những lời trong quyển thánh kinh: “Thật ra tên của Đại ngã là chân lý. Thật vậy, ai biết điều này sẽ đi vào thế giới thần tiên mỗi ngày”. Thế giới thần tiên ấy có vẻ như gần, nhưng chưa bao giờ chàng hoàn toàn đạt đến nó thật sự, chưa bao giờ chàng thoả mãn được nỗi khát khao to lớn nhất. Và trong số những bậc hiền triết mà chàng quen biết và nghiền ngẫm lời dạy, cũng không có một ai hoàn toàn đạt đến cõi ấy - thế giới thần tiên. Không một ai giải thích được niềm khát khao tối hậu.
- Thiện Hữu, Tất Đạt nói với bạn, bạn hãy đi cùng tôi lại cây bàng kia. Chúng ta hãy tập thiền quán.
Họ đến cây
bàng và ngồi cách nhau hai chục
bước. Khi chàng ngồi, sẵn sàng
đọc chữ “Om”, Tất Đạt lẩm
nhẩm đọc câu thơ: “
Khi giờ tập toạ
thiền ấy đã qua, Thiện Hữu đứng
dậy. Trời đã về chiều. Ấy là
giờ thánh tẩy buổi chiều. Thiện Hữu
gọi tên bạn, nhưng Tất Đạt không
trả lời. Chàng ngồi đăm chiêu,
đôi mắt chú mục như hướng
về một cõi xa xăm, đầu lưỡi
hơi lộ ra giữa hai hàm răng bầu biếc.
Chàng không có vẻ như đang hô
hấp; chàng ngồi như thể mất hút
trong quán tưởng, nghĩ “
Một ngày kia, vài vị Sa Môn đi qua thành phố của Tất Đạt. Là những người khổ hạnh lang thang, họ gồm ba người đã gầy mòn, không già không trẻ, đôi vai đầy bụi và rướm máu, gần như trần trụi, thân thể rám nắng, họ có vẻ cô đơn lạ lùng và tương phản với thế giới loài người. Xung quanh họ bao phủ một làn không khí của lòng say mê tận tuỵ và xã kỷ không chút tiếc thương.
Chiều ấy sau giờ quán tưởng, Tất Đạt nói với bạn: “Ngày mai tôi sẽ đi theo những vị Sa Môn. Tất Đạt sẽ trở thành Sa Môn như họ”. Thiện Hữu choáng váng khi nghe những lời nói ấy và đọc niềm cương quyết trên nét mặt cương nghị của bạn, một niềm cương quyết không chuyển hướng tợ mũi tên phóng khỏi tầm cung. Khi nhìn nét mặt bạn, Thiện Hữu nhận rõ ngay giờ đã đến; Tất Đạt sắp bước lên đường chọn lựa; định mệnh chàng bắt đầu ló dạng và cùng với định mệnh Tất Đạt, định mệnh Thiện Hữu cũng theo cùng. Và mặt Thiện Hữu bỗng tái xanh như tàu lá, chàng kêu lên:
- Ồ! Tất Đạt! Liệu phụ thân anh có cho phép chăng?
Tất Đạt nhìn bạn như một người tỉnh giấc. Nhanh như chớp chàng đọc thấu tâm can bạn, nỗi lo âu, lòng tùng phục.
- Đừng phí lời, Thiện Hữu – Chàng khẽ nói. Ngày mai, lúc rạng đông tôi sẽ bắt đầu đời sống Sa Môn. Chúng ta đừng thảo luận chuyện ấy nữa.
Tất Đạt bước vào phòng khi cha đang ngồi trên một tấm đệm. Chàng tiến đến sau lưng cha và đứng lặng cho đến khi cha biết có chàng.
- Con đấy ư, Tất Đạt? Ông hỏi. Cứ nói lên cho cha nghe những gì con đang nghĩ.
- Thưa cha, nếu cha cho phép, con đến thưa cha rằng con muốn rời nhà ngày mai, để đi theo những người khổ hạnh. Con muốn trở thành một vị Sa Môn. Con tin rằng cha sẽ không ngăn cản.
Người hiền triết Bà La Môn lặng im rất lâu, lâu quá đến nỗi khi những vì sao đã lạc qua song cửa nhỏ và chuyển hướng, sự im lặng trong gian phòng mới được đánh tan. Người con đứng lặng, hai vòng tay khép chặt. Người cha cũng bất động ngồi trên chiếc thảm. Những ngôi sao băng qua nền trời. Rồi ông bảo:
- Không lẽ cha, một người tu đạo lại thốt lời giận dữ hùng hổ, nhưng cha rất bất bình. Cha không muốn con lặp lại lời xin ấy một lần nữa.
Bậc hiền nhân từ từ đứng lên. Tất Đạt vẫn khoanh tay đứng lặng.
- Tại sao còn đợi đấy? Cha chàng hỏi.
- Cha cũng hiểu tại sao rồi. Chàng đáp.
Người cha rời phòng, bất mãn và đi nằm.
Khi đã một giờ trôi qua không ngủ được, vị hiền nhân đứng dậy, đi bách bộ ra khỏi nhà. Ông nhìn qua cửa sổ nhỏ và thấy Tất Đạt vẫn đứng khoanh tay bất động. Ông có thể thấy chiếc áo nhạt của chàng thấp thoáng. Tâm hồn bất an, người cha trở về giường nằm. Một giờ nữa lại trôi qua, ông không ngủ được, lại trở dậy đi bách bộ, ra khỏi nhà và thấy trăng đã lên. Ông nhìn qua cửa sổ. Tất Đạt còn đứng đấy bất động, vòng tay vẫn khép; mảnh trăng chiếu sáng trên chân chàng. Người cha đi ngủ, lòng xao xuyến.
Một giờ sau ông trở ra và hai giờ sau ra lại, nhìn qua cửa sổ thấy Tất Đạt vẫn còn đứng đó trong ánh trăng, trong ánh sao, trong đêm tối. Ông yên lặng trở lại hàng giờ, và vẫn thấy Tất Đạt đứng đấy bất động. Lòng ông tràn ngập giận, lo, sợ và buồn.
Vào giờ cuối đêm, trước bình minh, người cha trở lại, đi vào phòng và thấy đứa con niên thiếu vẫn còn đứng.
Ông trông thấy dáng chàng cao xa lạ với mình. Ông gọi:
- Này Tất Đạt, sao con còn đợi kia?
- Cha đã biết tại sao.
- Con có đợi được đến mai, trưa, chiều hay không?
- Con sẽ đứng và đợi.
- Con sẽ mệt mỏi, Tất Đạt?
- Con không mệt mỏi.
- Con sẽ buồn ngủ, Tất Đạt?
- Con sẽ không buồn ngủ.
- Con sẽ chết, Tất Đạt?
- Con sẽ chết.
- Và con thà chết còn hơn là nghe lời cha con?
- Con luôn luôn nghe lời cha.
- Vậy thì con hãy bỏ ý định của con đi?
- Con sẽ làm những gì cha dạy bảo.
Ánh sáng đầu tiên của ngày lan vào phòng. Người Bà La Môn trông thấy hai đầu gối của Tất Đạt run nhẹ, nhưng gương mặt chàng bình thản, đôi mắt nhìn vô tận. Người cha nhận ra rằng Tất Đạt không thể ở lại với mình lâu hơn - rằng Tất Đạt sắp rời bỏ mình. Ông đặt tay lên vai Tất Đạt và bảo:
- Con sẽ đi vào rừng làm thầy Sa Môn. Nếu con tìm thấy hạnh phúc trong rừng sâu, hãy trở về và chỉ lại cho ta. Nếu con thấy đấy chỉ là ảo tưởng, hãy trở về, và chúng ta sẽ lại cúng tế các thần linh. Bây giờ hay hôn mẹ con và thưa lại cho mẹ hay nơi con đến. Còn ta đã đến giờ ra sông làm lễ thánh tẩy.
Ông buông vai Tất Đạt và ra đi. Tất Đạt lảo đảo bước. Chàng cố gượng cúi chào cha và tìm mẹ theo lời cha dặn.
Khi Tất Đạt rời châu thành yên tĩnh đang say ngủ vào lúc rạng đông với đôi chân tê cóng, một bóng người âm thầm xuất hiện từ căn lều cuối cùng và theo dõi chàng. Đó là Thiện Hữu. Tất Đạt mỉm cười.
- Bạn đến đấy à!
- Tôi vừa đến. Thiện Hữu trả lời.
ĐOÀN SA MÔN
Chiều hôm đó gặp các vị Sa Môn và xin gia nhập đoàn thể. Các vị Sa Môn chấp nhận. Tất Đạt cho một người Bà La Môn nghèo khổ gặp trên đường quần áo của mình và chỉ giữ lại chiếc áo cừu và chiếc áo khoác rách vai màu đất. Chàng chỉ ăn mỗi ngày một bữa và không bao giờ nấu đồ ăn. Chàng nhịn mười bốn ngày - Rồi hai mươi tám ngày. Trên bắp chân và trên má, thịt biến đi đâu mất. Những giấc mơ lạ phản chiếu trên đôi mắt lớn của chàng. Móng tay chàng mọc dài trên đầu những ngón gầy, và một chòm râu khô cứng xuất hiện dưới cằm. Cái nhìn của chàng trở nên lạnh giá khi tiếp xúc với đàn bà, đôi môi mím lại một vẻ khinh thường khi chàng đi qua phố thị có đông người ăn mặc xa hoa. Chàng nhìn những thương gia buôn bán, các ông hoàng đi săn, những người tang chế khóc người chết, những người kỹ nữ bán thân, các bác sĩ săn sóc bệnh, những tình nhân đang tình tự, những người mẹ đang vỗ về con. Và tất cả không đáng một cái nhìn thoáng qua, tất cả đều lừa dối: hạnh phúc và sắc đẹp đều là ảo ảnh của giác quan - tất cả đều đưa về huỷ diệt. Thế gian đượm vị đắng cay. Cuộc đời là nỗi đau khổ.
Tất Đạt chỉ có một mục đích duy nhất là trở thành trầm tĩnh. Không khao khát, không ham muốn, không mộng mị, không vui và không buồn. Để cho cái ngã tiêu diệt – không còn ngã nữa, chứng nghiệm được sự bình an của một tâm hồn tịch mịch, chứng nghiệm tâm linh thuần tuý. Đó là mục đích của chàng. Khi cái ngã bị nhiếp phục và huỷ diệt, khi mọi đam mê và dục vọng bị lắng xuống, thì thực thể thâm cùng phải biểu lộ - không còn ngã nữa, nhưng là một cái gì huyền nhiệm cao vời. Tất Đạt đứng lặng im trong ánh nắng dữ dội, vừa đau rát vừa khát cháy, và đứng cho đến khi không còn cảm thấy đau, khát nữa. Chàng đứng lặng im trong mưa, nước từ mái tuôn xuống đôi vai cóng lạnh, xuống bắp vế và hai ống chân. Và người khổ hạnh đứng cho đến khi đôi vai và hai chân hết giá buốt, cho đến khi chúng hết cảm giác, bất động. Chàng lặng lẽ ngồi trên gai nhọn. Máu nhỏ giọt từ làn da quằn quại của chàng, ung nhọt thành hình, và Tất Đạt vẫn bất động, kiên cố, cho đến khi máu ngừng chảy, cho đến khi hết nghe châm chích, hết nghe đau đớn.
Tất Đạt ngồi thẳng và tập tiết kiệm hơi thở, cố thở ít lại, nhịn thở. Chàng tập lắng nhịp của tim khi thở vào, tập làm tim đập ít lại – cho đến khi rất ít, rồi không còn nữa. Nhờ vị Sa Môn trọng tuổi nhất dạy bảo, Tất Đạt tập sự quên mình và trầm tư theo những quy luật của Sa Môn. Một con hạc bay qua rừng trúc và Tất Đạt thu nhiếp nó vào tâm, bay qua rừng núi, trở thành con hạc, ăn cá, đói cái đói của hạc, dùng ngôn ngữ hạc và chết cái chết của một con hạc. Một con chồn chết nằm trên bờ cát và hồn của Tất Đạt nhập vào xác nó; chàng trở thành một con chồn chết, nằm trên bãi, bị sình trương, hôi thối, bị báo ăn hết bốn chân, diều hâu rỉa thịt, trở thành một bộ xương, trở thành cát bụi hoà với không khí. Và hồn Tất Đạt trở lại chết, huỷ hoại, thành cát bụi, thực nghiệm vòng khổ đau của một chu kỳ sống. Chàng đợi chờ với một niềm khát khao mới như một người đi săn đứng trên vực thẳm, nơi mà chu trình sống kết liễu, ở đó không cần nguyên nhân và ở đó sự thường tại không đau khổ bắt đầu. Chàng tiêu diệt mọi cảm giác, tiêu diệt ký ức, đi ra khỏi cái ngã của mình dưới trăm nghìn hình hài khác nhau. Chàng quán mình là đá, gỗ, nước. Và sau mỗi lần chàng lại tỉnh dậy, mặt trời hay mặt trăng vẫn chiếu, chàng lại là chính chàng, đi vào chu kỳ sống, khát khao, chiến thắng khát khao, rồi lại có những khát khao mới.
Tất Đạt học hỏi rất nhiều từ các vị Sa Môn, chàng học được nhiều cách thức để diệt ngã. Chàng phiêu du qua các đoạn đường diệt ngã bằng khổ đau, qua đói khát và mệt nhọc. Chàng phiêu lưu qua những con đường diệt ngã bằng trầm tư, bằng gạn lọc khỏi tư tưởng hết mọi hình ảnh. Chàng đã học trải qua những con đường này và những con đường khác. Chàng diệt ngã được một nghìn lần và có những ngày chàng đã sống trong phi ngã. Nhưng mặc dầu những con đường đưa chàng ra khỏi ngã, cuối cùng chúng luôn luôn đưa chàng trở lại ngã. Mặc dầu Tất Đạt rời bỏ ngã một ngàn lần, sống bằng phi ngã trong con vật hay đá, đất, sự trở lại vẫn không thể tránh. Không thể tránh lúc chàng trở lại chính chàng, trong ánh mặt trời hay trong ánh trăng, trong nắng hay dưới mưa, và trở lại Ngã hay Tất Đạt, trở về niềm khắc khoải, về kiếp luân hồi nặng nề.
Cạnh chàng Thiện Hữu sống như cái bóng của chàng; Thiện Hữu cùng phiêu lưu qua con đường của chàng, và cùng làm những cố gắng của chàng. Họ ít trò chuyện riêng với nhau trừ những điều cần thiết về công việc hay thực tập. Một đôi khi họ cùng đi qua các làng khất thực. Một lần Tất Đạt hỏi Thiện Hữu:
- Này Thiện Hữu, anh nghĩ sao? Anh có nghĩ rằng chúng ta đã tiến thêm bước nào chưa? Đã đạt được mục đích của chúng ta chưa?
- Chúng ta đã và đang học tập. Rồi anh sẽ trở thành một Sa Môn cao cả, Tất Đạt. Anh đã học thật là nhanh các bài tập, vị Sa Môn trưởng thường khen anh. Một ngày kia anh sẽ là một bậc thánh, Tất Đạt.
- Không có việc ấy đâu bạn ơi, những điều tôi đã học với các vị Sa Môn cho đến nay, đáng lẽ tôi cũng có thể học mau hơn và dễ dàng hơn trong bất cứ tửu quán nào, trong xóm điếm, với những phu khuân vác và những người cờ bạc.
- Nói đùa
chứ. Làm sao anh có thể tập thiền
quán, nín thở và thản nhiên
trước đói khát, đớn đau với
những người vô phúc đó?
Tất Đạt trả lời nhỏ, như nói với chính mình:
- Thiền quán là gì? Bỏ quên tự thân là gì? Nhịn đói là gì? Điều hoà hơi thở là gì? Đó là sự vượt ra ngoài Tự ngã, đó là sự vượt ra ngoài dày vò của Tự ngã trong nhất thời, những viên thuốc tạm bợ chống lại đau khổ và điên đảo cuộc đời: người đánh xe bò cũng dùng lối thoát đó, phương thuốc nhất thời đó khi ông ta uống chén rượu nếp trong quán; ông ta không còn cảm thấy có mình nữa, không còn cảm thấy khổ đau của cuộc đời, và như thế, ông chứng nghiệm sự thoát ly trong chốc lát. Gục trên chén rượu nếp, ông ta biết được cái mà Tất Đạt và Thiện Hữu tìm thấy khi chúng ta thoát khỏi tự thân bằng những tập luyện và sống trong vô ngã.
- Anh nói vậy
nhưng anh cũng biết là Tất Đạt
không phải là người đánh xe bò
và một Sa Môn thì không uống rượu
– người uống rượu tất nhiên
cũng tìm được thoát ly và an
nghỉ, nhưng nó sẽ thức tỉnh
trước ảo tưởng và tìm thấy
mọi vật như cũ. Nó không thể
khôn ngoan, nó không tăng thêm trí
thức, nó không trèo cao hơn chút
nào.
Tất Đạt trả lời với nụ cười
trên nét mặt:
- Tôi không biết – Tôi chưa bao giờ uống rượu. Nhưng tôi chỉ tìm thấy một an ủi ngắn ngủi trong những thực tập về thiền quán của tôi, và tôi thật còn xa vời trí tuệ, giải thoát, như một đứa trẻ còn trong lòng mẹ, và điều này thì Thiện Hữu ơi, tôi biết rõ lắm.
Một dịp khác khi Tất Đạt rời khỏi cánh rừng cùng Thiện Hữu đi khất thực, Tất Đạt bắt đầu trò chuyện và hỏi:
- Này Thiện Hữu. Chúng ta đã đi đúng đường chưa? Chúng ta có tăng thêm tri thức không? Chúng ta đã gần đạt đến giải thoát? Hay chúng ta chỉ đang đi trong những vòng luân hồi – trong lúc chúng ta đang nghĩ cách thoát khỏi?
Thiện Hữu nói:
- Chúng ta đã học nhiều Tất Đạt ạ. Chúng ta không ở mãi trong vòng luân hồi đó, chúng ta đang đi ra ngoài. Con đường là một đường xoáy ốc. Chúng ta vừa trèo xong nhiều bậc rồi.
- Bạn nghĩ vị thầy khả kính của chúng ta chừng bao nhiêu tuổi.
- Tôi nghĩ nhiều nhất là vào khoảng sáu mươi.
- Người đã sáu mươi tuổi và chưa đạt đến Niết Bàn. Người sẽ già bảy mươi, tám mươi và anh với tôi sẽ lớn lên và già như người, tập được nhịn đói và thiền quán, nhưng chúng ta sẽ không đạt đến Niết Bàn, người cũng như chúng ta. Thiện Hữu ơi, tôi tin rằng giữa các Sa Môn, có thể không được ai vào Niết Bàn cả. Chúng ta tìm thấy an ủi, chúng ta học những mánh lới tự lừa dối chúng ta, nhưng điều cốt yếu - Chính Đạo – ta không tìm thấy.
- Đừng nói gở như thế Tất Đạt ơi! Làm sao có thể tin rằng giữa bao nhiêu người học thức, giữa bao nhiêu người Bà La Môn, bao nhiêu Sa Môn xứng đáng và khắc khổ, giữa bao nhiêu người đi tìm, bao nhiêu người hy sinh cho đời sống nội tâm, bao nhiêu người thánh thiện ấy, lại chẳng có ai sẽ tìm ra Chính Đạo?
Tất Đạt vẫn nói bằng một giọng chua chát pha lẫn chút phiền muộn. Có một vẻ gì buồn bã, một vẻ gì dí dỏm trong giọng nói của chàng:
- Thiện Hữu, rồi bạn anh sẽ rời con đường của các Sa Môn mà trên đó nó đã du ngoạn với anh rất lâu. Tôi đau niềm khao khát và trên bước đường Sa Môn dài, niềm khao khát của tôi không hề thuyên giảm. Tôi luôn khao khát hiểu biết và luôn luôn tràn đầy những nghi vấn. Năm này qua năm khác tôi đã đi hỏi các vị Bà La Môn, hỏi những pho kinh thánh. Thiện Hữu ạ, có lẽ đi hỏi một chú lợn rừng hay một chị vượn cũng đáng và cũng thiêng liêng bằng. Tôi đã phí rất nhiều năm tháng nhưng vẫn chưa xong, để học được một điều này là: người ta không học được gì cả. Tôi tin rằng trong bản chất mỗi sự vật, có một cái gì mà chúng ta không thể học được. Thiện Hữu ơi, chỉ có một tri thức ở khắp nơi, là Đại ngã, trong tôi, trong anh và trong mọi sinh vật, và tôi bắt đầu tin rằng tri thức ấy không có một kẻ thù nào nghịch hơn là con người tri thức, hơn sự học.
Đến đây Thiện Hữu dừng lại trên đường, đưa hai tay lên và nói:
- Tất Đạt,
đừng làm bạn anh phiền muộn với
những câu chuyện như vậy. Thật thế,
những lời của anh làm tôi xao động.
Hãy suy nghĩ lại, những bài cầu
nguyện của chúng ta, sự khả kính
của các vị Bà La Môn, sự thiêng
liêng của các Sa Môn sẽ có nghĩa
gì nếu không có học thức như
lời anh nói? Tất Đạt, mọi sự sẽ
trở thành gì trên trái đất
này, còn cái gì thánh thiện nữa,
còn cái gì thiêng liêng và quý
giá nữa?
Thiện Hữu lẩm nhẩm một câu thơ,
một câu kinh từ Áo Nghĩa Thư,
“Kẻ mà linh hồn trong sạch thấm
nhuần Đại ngã sẽ hiểu thánh ân
không thể diễn tả bằng ngôn
từ”. Tất Đạt im lặng. Chàng
đắm chìm trong lời thơ mà Thiện
Hữu vừa thốt ra.
Phải – chàng đứng cúi đầu suy nghĩ – cái gì còn lại từ tất cả những gì mà chúng ta cho là thiêng liêng? Cái gì còn lại? Cái gì được bảo tồn? Và chàng lắc đầu.
Lúc hai người sống chung với các vị Sa Môn được chừng ba năm và cùng nhau tham dự những buổi thực tập, một hôm, họ bỗng nghe một tiếng đồn từ nhiều nguồn.
Có một người đã xuất hiện, tên là Cồ Đàm, đức Như Lai, đức Phật. Người đã nhiếp phục được nỗi khổ của đời và làm ngưng được con đường sinh tử. Người lang thang khắp xứ để giảng đạo, các đồ đệ vây quanh. Không của cải, nhà cửa, vợ con. Người mặc một cái áo khoác màu vàng của nhà khổ hạnh, vừng trán cao và thánh thiện. Những người Bà La Môn và các hoàng tử nghiêng mình trước Người và trở thành học trò của Người. Tin ấy được đồn đãi ra xa và lan khắp.
Những người Bà La Môn bàn về tin ấy trong thành thị, những Sa Môn bàn trong núi rừng, dần dần đến tai đôi bạn trẻ, có khi nghe hoan nghênh, có khi nghe phỉ báng. Cũng như khi một miền bị bệnh dịch hoành hành, và có một tin đồn rằng có một hiền nhân, một nhà thức giả, có thể dùng lời nói và hơi thở để chữa lành bệnh, khi tin ấy được bàn tán khắp nơi, sẽ có nhiều người ngờ vực, nhiều người đến tìm vị thánh nhân ấy tức khắc, cũng như thế, lời đồn đãi về đấng Cồ Đàm, đức Phật, dòng họ Thích Ca lan khắp xứ. Người có trí tuệ cao vời – người ta bảo: Người nhớ được tiền kiếp, đã đạt đến Niết Bàn và không còn luân hồi sinh tử, không chìm đắm trong dòng hình hài vẩn đục. Nhiều điều kỳ diệu và khó tin được đồn về Người rằng, Người đã làm phép thần thông, đã nhiếp phục được ma quỷ, đã chuyện trò với thần linh. Những đối thủ và những người hoài nghi thì bảo rằng Cồ Đàm ấy chỉ là một người lừa bịp biếng nhác, ông sống xa hoa, khinh thường tế tự, không có học thức và cũng không biết gì về sự tu hành ép xác khổ hạnh.
Tin đồn về đức Phật có mãnh lực gây chú ý, hình như có phép lạ gì trong những lời đồn ấy. Thế giới đang bệnh hoạn, sự sống đầy khổ đau nên đâu đâu dường như cũng loé sáng một niềm hy vọng mới, một sứ giả đem lại vỗ về an lạc, đầy hứa hẹn. Khắp nơi đều có tin đồn về đức Phật. Các thanh niên khắp xứ Ấn Độ lắng nghe, cảm thấy một niềm khát khao hy vọng và trong làng mạc thành thị những người con của các vị Bà La Môn đón tiếp nồng hậu mỗi khi có người lạ mặt mang đến hoặc kẻ hành hương mang tin về đấng Giác Ngộ, đức Thích Ca Mâu Ni.
Tiếng đồn đến tai các vị Sa Môn trong rừng và Tất Đạt, Thiện Hữu nghe mỗi mẩu tin với niềm hy vọng, với nỗi hoài nghi. Họ ít bàn đến tin đồn ấy, vì vị Sa Môn trưởng không tán thành tin kia. Ông đã nghe rằng đức Phật người ta nói đến, ngày xưa đã từng khổ hạnh và sống trong rừng sâu nhưng sau đó trở lại sống xa hoa với lạc thú thế tục và vì thế ông không tin Cồ Đàm.
- Tất Đạt ơi, Thiện Hữu một hôm bảo bạn, sáng nay khi tôi vào làng, một người Bà La Môn đã mời tôi vào nhà, và trong nhà có một người con trai Bà La Môn đã đến từ thành Thất La. Anh ta đã thấy tận mắt đức Phật và nghe Ngài thuyết pháp. Thật tôi đã tràn đầy khát vọng và tôi nghĩ: “Tôi mong sao cả Tất Đạt và tôi được sống đến ngày chúng ta có thể nghe lời dạy từ kim khẩu của đấng Vô Thượng Giác”. Bạn ơi, chúng ta lại không đến đấy hay sao, để nghe chính Ngài chỉ giáo?
Tất Đạt bảo:
- Tôi vẫn tưởng rằng Thiện Hữu sẽ ở lại với những vị Sa Môn. Tôi luôn luôn tin rằng bạn tôi sẽ sống sáu mươi, bảy mươi tuổi mà vẫn còn thực hành những bí quyết của các Sa Môn dạy. Nhưng tôi đã hiểu bạn ít làm sao! Tôi đã chẳng hiểu gì trong thâm tâm bạn cả! Bây giờ, bạn ơi, bạn đã mong mỏi vạch một con đường mới và đi nghe lời Người dạy.
Thiện Hữu nói:
- Anh vẫn thích thú để chế nhạo tôi. Không sao đâu, Tất Đạt. Nhưng chính anh, anh không cảm thấy mong muốn khát khao được nghe lời dạy ấy hay sao? Và chính anh đã không có lần nói với tôi rằng anh không đi theo con đường của những Sa Môn nữa đó sao?
Tất Đạt cười lớn và trong giọng chàng có lẫn vị nửa buồn rầu nửa châm biếm. Chàng bảo:
- Đúng đấy, Thiện Hữu, bạn đã nhớ rất giỏi. Nhưng bạn cũng nên nhớ những điều khác tôi đã nói cùng bạn - rằng tôi trở nên nghi ngờ sự dạy dỗ cũng như học hành và tôi không tin mấy về những lời mà những vị thầy nói ra. Nhưng tốt lắm bạn ơi: tôi cũng sẵn sàng để nghe những lời chỉ giáo mới mẻ mặc dù trong thâm tâm tôi vẫn tin rằng chúng ta đã nếm những quả tốt đẹp nhất của những lời giảng dạy ấy.
Thiện Hữu trả lời:
- Tôi rất sung sướng vì Tất Đạt đã bằng lòng. Nhưng hãy nói cho tôi nghe, làm sao những lời chỉ giáo của Cồ Đàm đã cho ta thấy những quả quí báu nhất khi mà ta chưa nghe lời Người nói.
Tất Đạt bảo Thiện Hữu:
- Hãy thưởng thức trái ngon này và chờ đợi những trái sau. Trái ngon mà ta đã thừa hưởng của Cồ Đàm là sự kiện Ngài đã lôi kéo chúng ta ra khỏi những thầy Sa Môn. Còn có quả nào khác hơn và tốt lành hơn nữa, chúng ta hãy kiên tâm chờ xem.
Cùng hôm đó, Tất Đạt báo tin cho vị Sa Môn trưởng rằng chàng quyết định rời bỏ Người. Chàng nói với vẻ khiêm tốn của một môn đệ trẻ tuổi. Nhưng vị Sa Môn già tức giận khi thấy rằng cả hai người học trò trẻ tuổi muốn bỏ mình, và ông cao giọng rầy mắng họ kịch liệt.
Thiện Hữu ngạc nhiên cực độ nhưng Tất Đạt rỉ tai bạn: “Bây giờ tôi sẽ làm cho ông già thấy rõ rằng tôi đã học được ít nhiều với ông ta”.
Chàng đứng gần vị Sa Môn, tập trung thần trí; chàng nhìn vào đôi mắt của ông lão và dùng nhãn lực xâm chiếm ông ta, thôi miên ông, làm ông câm nín, thu phục ý chí ông và lặng lẽ sai bảo ông ta làm theo ý chàng. Ông già trở nên im lặng, đôi mắt long lên, ý chí kiệt quệ hẳn, cánh tay buông thõng. Ông ta bất lực dưới bùa chú của Tất Đạt. Ý tưởng Tất Đạt nhiếp phục hết ý tưởng của thầy Sa Môn già, ông ta phải làm những gì chàng sai khiến và cứ thế ông cúi đầu nhiều bận, ban phép lành và lẩm bẩm những lời chúc tụng chàng một cuộc hành trình tốt đẹp. Đôi bạn trẻ cám ơn ông ta, đáp lễ và ra đi. Trên đường Thiện Hữu bảo:
- Tất Đạt, anh đã học của những thầy Sa Môn nhiều hơn là tôi tưởng. Thôi miên được một vị Sa Môn già rất khó khăn. Quả thật nếu anh ở lại, nhất định anh sẽ học được cách đi trên nước.
- Tôi không muốn được đi trên nước, Tất Đạt bảo – hãy để cho những Sa Môn tự mãn với những bí thuật như vậy.
CỒ ĐÀM
Trong thành Thất La, mọi trẻ con đều biết đến đức Phật Đại Giác và mọi nhà sẵn sàng đồ cúng dường sử dụng, để đổ vào bình bát của những đồ đệ Ngài lặng lẽ đi khất thực. Gần thành phố có chỗ ưa thích của đức Cồ Đàm, rừng Lộc Uyển mà thương gia giàu có tên Cấp Cô Độc, một cư sĩ đã tận tuỵ cúng dường Ngài. Hai bạn trẻ khổ hạnh, khi đi tìm chỗ ở của đức Cồ Đàm đã được chỉ đến vùng này; và khi họ đến Thất La lặng lẽ khất thực trước cửa nhà đầu tiên, thức ăn liền được dâng cúng. Họ chia nhau thực phẩm, Tất Đạt hỏi người đàn bà cúng dường:
- Thưa bà, chúng tôi rất muốn biết đức Phật, đấng Giác Ngộ hiện đang ở đâu? Chúng tôi là Sa Môn từ rừng núi xuống và muốn đi gặp đấng Giác Ngộ để nghe những lời dạy từ miệng Ngài thốt ra.
Người đàn bà nói: “Các ngài đã đến đúng chỗ, thưa các vị Sa Môn hạ sơn. Đấng Giác Ngộ hiện đang ở rừng Lộc Uyển. Các ngài có thể ngủ lại ở đấy, hỡi quí vị khất sĩ, vì có đủ chỗ cho rất đông người đến tụ tập để nghe Ngài chỉ giáo”.
Thiện Hữu sung sướng nói: Thế thì chúng ta đã đến đích và hành trình đã xong. Nhưng hỡi bà mẹ quí, bà có biết đức Phật không? Bà có thấy Ngài tận mắt không?
Người đàn bà đáp:
- Tôi đã thấy đức Giác Ngộ nhiều lần rồi chứ. Nhiều hôm tôi thấy Ngài đi qua những đường phố, lặng lẽ khoác áo vàng, và im lặng chìa bát khất thực trước cửa các nhà rồi trở về với bát đầy.
Thiện Hữu lắng nghe thích thú và muốn hỏi nhiều, nghe nhiều nữa, nhưng Tất Đạt nhắc chàng phải đi. Họ cảm tạ rồi ra đi. Bấy giờ thì không phải hỏi đường nữa, vì có một số đồ đệ của đức Cồ Đàm đang trên đường đi đến vườn Lộc Uyển. Khi họ đến đấy vào đêm, còn có nhiều người tiếp tục đến. Nhiều lời nói nổi lên nhao nhao từ những kẻ đến xin chỗ trọ. Hai thầy Sa Môn nhờ quen đời sống núi rừng nên dễ dàng tìm chỗ nghỉ và ở lại cho đến sáng.
Khi mặt trời lên cao họ ngạc nhiên thấy số lượng khổng lồ những tín đồ và kẻ hiếu kỳ đã ngủ qua đêm tại đây. Những thầy tu vận áo vàng đi bách bộ dọc khắp các con đường nhỏ trong khu rừng thâm u. Lác đác đây đó vài vị ngồi dưới bóng cây, mài miệt trầm tư hoặc luận đàm đạo lý. Khu vườn rợp bóng trông như một thành phố đầy ong chen chúc. Phần đông những tu sĩ ra đi với những bát khất thực để xin thức ăn cho buổi trưa, buổi ăn độc nhất trong ngày. Cả đến đức Phật cũng đi khất thực về ban sáng.
Tất Đạt trông thấy Ngài và nhận ra ngay, như thể một vị thần linh nào đã chỉ cho chàng. Chàng thấy Ngài mang bình bát lặng lẽ rời chỗ ở.
- Kìa! Đấy là đức Phật, Tất Đạt khẽ bảo Thiện Hữu. Thiện Hữu chú mục nhìn vị tu sĩ đắp y vàng, một vị tu sĩ khó mà phân biệt được giữa hàng trăm tu sĩ khác, những Thiện Hữu cũng nhận ra. Phải, đấy chính là đức Phật, và họ đi theo chiêm ngưỡng Ngài.
Đức Phật lặng lẽ đi, dáng đăm chiêu suy nghĩ. Nét mặt bình an của Ngài không sung sướng cũng không buồn khổ. Ngài dường như hiền dịu mỉm cười trong tâm với một nụ cười kín đáo không khác nụ cười của một trẻ thơ khoẻ mạnh. Người bước đi bình an, lặng lẽ. Ngài đắp y và đi bộ giống hệt các vị tỳ kheo khác nhưng nét mặt Ngài cùng bước chân Ngài, cái nhìn xuống trầm lặng và đôi tay buông thả, và mỗi ngón tay Ngài đều nói lên một niềm bình thản đầy đặn, không tìm kiếm gì, không học đòi một cái gì, mỗi ngón tay phản chiếu một sự bình lặng liên tục, một ánh sáng không phai mờ, một niềm bình an bất khả tổn thương.
Cứ thế đức Cồ Đàm đi vào thành thị để khất thực, và hai người Sa Môn nhận ra Ngài chỉ nhờ tư thái tuyệt diệu của Ngài, sắc tướng vắng lặng của Ngài trong đó không có sự kiếm tìm, không có hiện diện của ý chí hay sự gắng công - chỉ thuần ánh sáng và niềm bình thản.
- Hôm nay chúng ta sẽ nghe lời dạy từ chính kim khẩu của Ngài, Thiện Hữu bảo.
Tất Đạt không trả lời. Chàng không thiết tha mấy tới những lời chỉ giáo. Chàng không nghĩ chúng sẽ dạy chàng điều gì mới lạ. Chàng cũng như Thiện Hữu, đã nghe những tinh hoa của Phật pháp dù chỉ nghe những lời tường thuật qua hai ba lần kể. Nhưng chàng nhìn chăm chú vào đầu đức Phật, vào vai Ngài, vào chân, vào bàn tay buông thong thả và chàng tưởng như mỗi đốt tay của Ngài đều chứa đựng tri thức, chúng nói lên, thở ra, tuôn phát ra chân lý. Người này, đức Phật này, quả là một người thánh thiện đến từng đầu ngón tay. Chưa bao giờ Tất Đạt thấy kính trọng một người đến thế, chưa bao giờ chàng thương quí một người đến thế.
Buổi chiều, không khí nóng nực đã giảm và mọi người trong trại đã thức dậy tụ họp, họ nghe Phật thuyết pháp. Họ nghe thấy tiếng Ngài, và tiếng ấy cũng thật tuyệt diệu, lặng lẽ và đầy thanh bình. Ngài nói về Khổ, nguồn gốc của Khổ, cách diệt Khổ. Sự sống là khổ đau, thế giới đầy đau thương, song con đường thoát khổ đã tìm ra. Những người theo đường của đức Phật sẽ được sự cứu rỗi. Đấng Giác Ngộ với một giọng dịu dàng nhưng đoan quyết, Ngài dạy về Tứ diệu đế, Bát chánh đạo; và cùng với phương pháp dạy thông thường Ngài kiên nhẫn thêm vào những ví dụ và nhắc lại nhiều lần. Lặng lẽ và rõ ràng, giọng Ngài bay đến những thính giả như một ánh sáng, như một vì sao từ thiên giới.
Khi đức Phật đã chấm dứt - trời đã về đêm – nhiều khách hành hương tiến lên xin được gia nhập vào giáo hội, đức Phật nhận lời và bảo:
- Các ngươi đã nghe những lời của Như Lai. Hãy đi theo ta và đi với niềm an lạc, chấm dứt mọi khổ đau.
Thiện Hữu, con người rụt rè, cũng bước lên nói:
- Tôi cũng muốn xin theo đấng Giác Ngộ và lời chỉ giáo của Ngài.
Chàng xin được nhập vào tăng chúng và liền được chấp thuận.
Khi đức Phật đã lui về nghỉ ban đêm, Thiện Hữu quay lại Tất Đạt và nói với vẻ nồng nhiệt:
- Tất Đạt, tôi không quen chỉ trích anh. Chúng ta đều đã nghe đấng Giác Ngộ. Tôi đã lắng nghe lời dạy và đã chấp thuận những lời ấy, nhưng còn bạn, bạn ơi, bạn lại không đặt chân lên con đường giải thoát hay sao? Bạn còn trì hoãn gì nữa! Còn đợi gì nữa sao?
Khi nghe lời Thiện Hữu, Tất Đạt bừng tỉnh như vừa ngủ dậy. Chàng nhìn vào mặt Thiện Hữu một lúc lâu. Rồi chàng nhẹ nhàng bảo - giọng không còn chế giễu:
- Thiện Hữu, bạn ơi, bạn đã bước chân đi và chọn đường, bạn đã luôn luôn là bạn quí của tôi. Thiện Hữu, bạn đã luôn đi sau tôi một bước. Tôi vẫn thường nghĩ: “Thiện Hữu có bao giờ bước một bước mà không cần đến tôi chăng? Một bước đi từ sự tin tưởng vững vàng của chàng?”. Giờ đây, bạn đã là một người đàn ông và đã chọn con đường riêng của bạn. Ước mong sao bạn sẽ đi đến cùng. Thiện Hữu, ước mong bạn sẽ tìm được giải thoát.
Thiện Hữu vẫn chưa hiểu rõ, lặp lại câu hỏi một cách nóng nảy:
- Nói đi, bạn! Hãy nói rằng bạn cũng sẽ không làm gì khác hơn là nguyện theo gót đức Phật?
Tất Đạt đặt tay lên vai bạn:
- Bạn đã nghe tôi chúc lành cho bạn, hỡi Thiện Hữu. Tôi lặp lại: mong sao cho bạn đi cuộc hành trình cho đến cùng; cho bạn tìm ra giải thoát!
Lúc ấy, Thiện Hữu mới nhận ra rằng bạn chàng đang bỏ chàng. Chàng bắt đầu khóc.
- Ồ Tất Đạt! Thiện Hữu nấc lên.
Tất Đạt dịu dàng bảo:
- Thiện Hữu ơi, đừng quên rằng bây giờ bạn ở vào hàng đệ tử của Phật. Bạn đã khước từ dòng dõi và tài sản, khước từ ý chí riêng, khước từ tình bạn hữu. Đấy là những gì giáo điều giảng dạy, đấy là ý muốn của đấng Giác Ngộ. Đấy cũng là những gì chính lòng bạn muốn. Ngày mai, Thiện Hữu ơi, tôi sẽ rời bạn.
Một lúc lâu,
đôi bạn lang thang qua các khu rừng. Họ
nằm xuống đất rất lâu nhưng không
sao ngủ được. Thiện Hữu gạn hỏi
bạn nhiều lần tại sao Tất Đạt
không muốn theo lời dạy của đức
Phật, chàng đã thấy khuyết điểm
gì trong lời dạy ấy, nhưng mỗi lần
Tất Đạt đều khoát tay:
- Bạn hãy bình tĩnh, Thiện Hữu. Lời dạy của đấng Giác Ngộ thật chí lý. Làm sao tôi có thể tìm ra khuyết điểm trong ấy?
Sáng sớm, một đồ đệ của đức Phật, một trong những vị tỳ kheo già nhất, đi khắp khu rừng và triệu tập tất cả những đồ đệ mới phát nguyện để khoác cho họ chiếc áo vàng và dặn dò những lời chỉ giáo đầu tiên về phận sự của họ. Khi ấy Thiện Hữu chỉ chạy đến hôn người bạn từ thời thơ ấu và khoác chiếc áo tăng lữ đầu tiên.
Tất Đạt đi
lang thang trong khu rừng, để tâm trí trong suy
tư. Ở đấy chàng gặp Cồ
Đàm, đấng Giác Ngộ, và khi chàng
kính cẩn chào Ngài và thấy nét
mặt Phật đầy thiện đức và
bình an, chàng thu hết can đảm xin phép
được nói chuyện cùng Ngài,
đấng Giác Ngộ lặng lẽ gật
đầu.
Tất Đạt nói:
- Bạch đấng
Đại Giác, hôm qua tôi đã hân
hạnh được nghe những lời chỉ
giáo tuyệt vời của Ngài. Tôi từ xa
đến với bạn tôi để nghe Ngài
và bây giờ bạn tôi sẽ ở lại
với Ngài, bạn đã nguyện theo Ngài.
Còn tôi, tôi vẫn lại tiếp tục
hành trình.
- Người cứ tự tiện, đấng Giác Ngộ ôn tồn đáp.
Tất Đạt tiếp lời:
- Có lẽ những lời của tôi quá táo bạo nhưng tôi không muốn từ giã đấng Giác Ngộ mà không thành tâm trình bày cùng Ngài những thiển ý của tôi. Ngài có thể nghe tôi hầu chuyện một lúc nữa chăng?
Đức Phật lại lặng lẽ gật đầu.
- Hỡi đấng Giác Ngộ, trước hết tôi rất thán phục những điều Ngài dạy bảo. Mọi sự đều được chứng minh đầy đủ rõ ràng. Ngài trình bày thế giới như một sợi dây xích liên tục không đứt đoạn, một sợi dây bất tuyệt nối liền với nhau bởi nhân và quả. Chưa bao giờ vũ trụ được trình bày rõ ràng như thế, và chứng minh một cách khúc chiết như thế. Chắc hẳn một người Bà La Môn phải giật mình kinh hãi, khi qua những lời giảng dạy của Ngài, họ nhìn thấy một vũ trụ hoàn toàn mật thiết với nhau đến không có một lỗ hổng, trong suốt như pha lê, không phụ thuộc may rủi, không phụ thuộc thần linh. Thế giới tốt hay xấu, sự sống tự nó là đau khổ hay khoái lạc, sự sống bất trắc hay không, điều này không quan trọng nhưng sự nhất thể của thế giới, lẽ tương quan tương liên của mọi sự vật, lớn nhỏ bao gồm nhau, sinh thành bao gồm trong huỷ diệt: những điều Ngài dạy thật sáng lạng và phân minh. Nhưng theo những lời dạy ấy, sự nhất tính và liên tục hợp lý của mọi sự có một chỗ hở. Qua khe hở nhỏ ấy, một cái gì lạ lùng bỗng tuôn trào vào trong thế giới nhất thể này, một cái gì mới mẻ, một cái gì không có ở đấy trước kia và không thể chứng minh hay chứng nghiệm được: ấy là thuyết của Ngài về sự vươn lên trên thế giới, thuyết cứu độ. Với khe hở nhỏ này, chỗ gián đoạn bé bỏng ấy, dù sao, luật vũ trụ duy nhất không tiền khoáng hậu lại bị sụp đổ. Xin Ngài tha thứ nếu tôi đưa ra sự đối chất này.
Đức Cồ Đàm đã lắng nghe, lặng lẽ bất động. Và Ngài cất một giọng nhã nhặn trong sáng:
- Người đã khá nghe những lời giảng dạy, hỡi người thanh niên Bà La Môn, và thật quý hoá người đã nghĩ sâu xa về những lời ấy. Người đã tìm thấy một khuyết điểm. Hãy nghĩ kỹ lại về điều đó. Ta chỉ khuyên người, một người khao khát hiểu biết, hãy tránh xa rừng quan niệm và sự xung đột giữa các danh từ. Quan niệm không có nghĩa gì, chúng có thể đẹp hay xấu, khôn hay dại và bất cứ ai cũng có thể chấp nhận hay bác bỏ. Giáo lý mà người đã nghe, tuy vậy, không phải là quan niệm của ta, và mục đích của nó không phải là để giải thích vũ trụ cho những người ham hiểu biết. Mục đích của nó hoàn toàn khác biệt. Mục đích ấy là giải thoát khỏi khổ đau. Đấy là những gì Cồ Đàm dạy, không gì khác hơn.
- Xin Ngài đừng giận tôi, hỡi đấng Giác Ngộ, người trẻ tuổi nói. Tôi không nói thế để tranh biện với Ngài về danh từ. Ngài rất hợp lý khi dạy rằng quan niệm không có nghĩa lý gì, nhưng xin Ngài cho tôi được nói thêm một lời. Tôi không nghi ngờ rằng Ngài là đức Phật, rằng Ngài đã đạt đến đích cao cả nhất mà người người Bà La Môn và con trai họ đang nỗ lực để đạt đến. Ngài đã đạt được nhờ sự tìm kiếm của riêng Ngài và bằng đường đi của chính Ngài, bằng suy tư, bằng thiền quán, bằng hiểu biết và trí tuệ. Ngài bảo không học được gì từ những lời giảng dạy, và bởi thế, kính bạch đấng Giác Ngộ, tôi nghĩ rằng không ai tìm được giải thoát qua những lời chỉ giáo. Ngài không thể, hỡi đấng Toàn Giác, truyền cho ai bằng danh từ và giáo lý những gì đã đến với Ngài trong giờ Ngài giác ngộ. Lời chỉ giáo của đấng Giác Ngộ bao hàm rất nhiều, dạy rất nhiều, phải sống thế nào, phải tránh điều ác như thế nào. Nhưng có một điều mà giáo lý sáng sủa và giá trị ấy không chứa đựng, ấy là những gì huyền bí mà đấng Giác Ngộ đã chứng nghiệm – Ngài độc nhất giữa hàng trăm nghìn người khác. Chính vì lẽ thế mà tôi phải đi con đường của tôi, không phải để tìm thêm một lý thuyết tốt đẹp hơn, vì tôi biết không có, nhưng để từ bỏ tất cả lý thuyết và thầy dạy, để tự mình đạt đến đích – hay chết. Nhưng tôi sẽ luôn luôn nhớ lại hôm nay, hỡi đấng Toàn Giác, và giờ này, khi mắt tôi được chiêm ngưỡng một bậc thánh nhân.
Mắt của đức Phật hạ thấp xuống, nét mặt khôn dò của Ngài diễn tả một niềm bình an thuần tịnh.
- Ta mong người không lầm trong lối lập luận ấy – Người chậm rãi nói. Mong sao cho người đến đích! Nhưng người hãy nói ta nghe; người đã thấy nhiều bậc thánh thiện tụ họp quanh ta chưa? Những người đệ tử đã quy y theo giáo lý của ta ấy? Hỡi người Sa Môn từ xa đến, người có nghĩ rằng tốt hơn họ nên hồi lại và trở về sự sống thế nhân với dục lạc?
- Tôi không bao
giờ nghĩ đến điều đó? Tất
Đạt kêu lên. Ước sao cho họ đi
đến đích! Mong sao cho họ đều theo
lời chỉ giáo! Không phải việc của
tôi để đi phê phán cuộc đời
khác. Tôi phải phê phán cho chính
tôi. Tôi phải lựa chọn và gạt
bỏ. Chúng tôi là những Sa Môn tìm
kiếm sự giải thoát khỏi bản ngã.
Nếu tôi là một trong những đồ
đệ của Ngài, tôi sợ rằng
đấy chỉ là bề mặt, rằng tôi
sẽ tự lừa dối mình là tôi đang
bình an và đã giải thoát trong khi
thực ra cái ngã vẫn còn tiếp tục
sống và tăng trưởng, vì nó sẽ
được biến vào trong những lời
chỉ giáo của Ngài, trong sự quy y của
tôi và lòng thương mến của tôi
đối với Ngài và đoàn thể
tăng chúng.
Hơi mỉm cười, sắc diện vẫn sáng ngời hào quang, đức Phật thân mật nhìn người khách lạ chăm chăm và Tất Đạt đoán rằng Ngài muốn từ giã chàng.
- Hỡi Sa Môn, ông rất là khôn ngoan, Ngài nói. Ông biết ăn nói khôn khéo lắm, ông bạn. Nhưng hãy cẩn thận trước sự khôn ngoan quá mức.
Đức Phật bỏ đi và cái nhìn của Ngài, nụ cười của Ngài khắc sâu trong ký ức của Tất Đạt mãi mãi. Ta chưa hề thấy một người nhìn, mỉm cười, đi, đứng, ngồi như thế. Tất Đạt tự nhủ: Ta cũng muốn nhìn, cười, đi, đứng như thế, tự tại làm sao, vừa dè dặt, vừa trong sáng hồn nhiên, vừa huyền bí. Một người chỉ nhìn và bước đi như thế một khi họ đã nhiếp phục được Tự ngã. Ta, ta cũng sẽ nhiếp phục được Tự ngã. Ta đã thấy một người, chỉ một người thôi, mà trước người ấy ta phải cúi đầu, – Tất Đạt thầm nghĩ. Ta sẽ không bao giờ cúi đầu trước người nào nữa. Không lời chỉ giáo nào khác sẽ quyến rũ ta được.
Đức Phật đã cướp của ta, Tất Đạt suy nghĩ. Ngài đã cướp của ta tuy nhiên, Ngài đã cho ta một giá trị khác cao hơn. Ngài đã cướp khỏi tay ta người bạn đã tin tưởng nơi ta mà bây giờ tin theo Ngài, người bạn ấy đã là cái bóng của ta nhưng bây giờ là cái bóng của Cồ Đàm. Nhưng Ngài đã đem lại cho ta chính ta.
THỨC TỈNH
Khi Tất Đạt từ giã khu rừng trong đó có đức Phật, đấng Toàn Thiện ở lại, và bạn chàng cũng ở lại theo Ngài, chàng có cảm tưởng rằng chàng vừa từ bỏ một tiền kiếp lại sau lưng, trong cụm rừng. Khi chàng từ từ bước trên đường, đầu chàng nghĩ miên man về những điều ấy.
Chàng nhận ra rằng chàng không còn là một người con trai nữa, bây giờ chàng là một người đàn ông. Chàng trực nhận rằng một cái gì đó từ bỏ chàng, như một con rắn vừa thay vỏ. Một cái gì đó không còn ở trong chàng nữa, một cái gì đã theo chàng từ tấm bé và đã là một phần của người chàng: lòng ham muốn có bổn sư và được nghe những lời chỉ giáo. Chàng đã từ giã bậc thầy cuối cùng chàng gặp, cả đến vị thầy cao cả nhất, khôn ngoan nhất, thánh thiện nhất: đức Phật. Chàng phải từ giã Ngài, chàng không thể chấp nhận lời chỉ giáo của Ngài.
Con người suy tư ấy tiến bước chậm rãi và tự hỏi: ta muốn học cái gì từ những lời dạy và thầy học, và mặc dù họ dạy ta rất nhiều điều, cái gì họ không thể dạy cho ta? Và chàng nghĩ: chính là sự Ngã, đặc tính và bản chất của nó mà ta muốn biết. Ta muốn thoát khỏi Tự ngã, nhiếp phục nó nhưng ta không thể, ta chỉ có thề lừa dối nó, trốn thoát nó, lẩn tránh nó. Quả thế, không gì trong vũ trụ xâm chiếm tư tưởng ta nhiều như Tự ngã, bài toán khó giải ấy, vấn đề tôi tồn tại, tôi là một và tách rời khác hẳn bao kẻ khác, rằng tôi là Tất Đạt … thật không có gì trong vũ trụ mà tôi biết ít hơn là về chính tôi.
Đang đi chậm rãi trên đường, chàng bỗng đứng dừng lại, ý nghĩ vừa rồi đập mạnh vào trí chàng, và một ý nghĩ khác theo sau. Ấy là: lý do vì sao tôi không biết gì về tôi, lý do vì sao Tất Đạt đã vẫn xa lạ, lạc loài đối với chính mình chỉ do từ một điểm, một điểm độc nhất – là tôi sợ hãi chính tôi, tôi đang trốn chạy tôi. Tôi đang tìm kiếm Đại ngã Tiểu ngã, tôi muốn tự huỷ mình, ra khỏi chính mình, để mà tìm trong khu vực thâm cùng xa lạ cái nhân của mọi pháp, linh hồn, sự sống, sự thiêng liêng, sự tuyệt đối. Nhưng khi làm thế, tôi tự đánh mất chính tôi.
Tất Đạt nhìn lên quanh chàng, nụ cười thoáng nở trên mặt. Một cảm giác tỉnh thức từ giấc trường mộng chạy khắp người chàng. Chàng lại tiếp tục bước, nhanh nhẹn, như một người vừa biết mình phải làm gì.
Chàng thở mạnh và suy nghĩ: phải, ta sẽ thôi trốn chạy bản thân ta, ta sẽ thôi nghĩ về Tiểu ngã và những nỗi buồn nhân thế. Ta sẽ thôi huỷ hoại thân này để đi tìm một màu nhiệm nào đằng sau sự huỷ diệt. Ta sẽ thôi học khổ hạnh hay bất cứ giáo lý nào khác. Ta sẽ học chính ta, là người học trò của chính ta; ta sẽ học ngay trong ta cái màu nhiệm của Tất Đạt.
Chàng nhìn quanh như mới thấy vũ trụ lần đầu. Thiên nhiên đẹp hẳn lên, kỳ lạ nhiệm màu. Đây là màu xanh, đây là màu vàng, đây là màu lục, trời và nước, cây và rừng, tất cả đều đẹp, tất cả đều huyền bí và quyến rũ và giữa tất cả các cái đó, chàng, Tất Đạt, kẻ vừa giác ngộ, đang tự tìm mình. Tất cả sự vật, tất cả sắc xanh hay vàng, dòng sông hay rừng cây lần đầu tiên diễn ra dưới mắt Tất Đạt. Chúng không còn là phép lạ của thần Mara, chúng không còn là bức màn huyễn hoá, không còn là những bề ngoài vô nghĩa mà các người Bà La Môn khinh bỉ. Dòng sông là dòng sông, và nếu có cái Nhất thể thiêng liêng trong Tất Đạt đang sống tiềm tàng trong màu xanh kia và dòng sông nọ, thì đấy là sự hiện hữu của sắc màu, trời và rừng cây, và Tất Đạt. Ý nghĩa mà thực tại không ẩn núp đằng sau sự vật, mà trong sự vật, trong mọi sự vật.
Chàng đi nhanh hơn và suy nghĩ, ta thật là ngu và điếc. Khi một người đọc một bài để học thuộc, nó không khinh thường những từ ngữ và dấu chấm câu trong bài, không xem chúng là ảo tưởng, tình cờ, chỉ là những cái vỏ vô vị, mà trái lại, đọc chúng, học và thích từng chữ. Còn ta thích đọc quyển sách vũ trụ và sách bản thân ta, mà lại đi khinh thường những chữ và dấu hiệu. Ta gọi thế giới hiện tượng này là ảo ảnh, ta gọi mắt và lưỡi là sự tình cờ. Bây giờ đã hết: ta đã tỉnh thức. Ta đã giác ngộ và chỉ mới sinh ra ngày hôm nay.
Nhưng khi những tư tưởng đó đi qua đầu Tất Đạt, chàng bỗng đứng lặng yên, như có một con rắn đang nằm chắn đường. Rồi bỗng nhiên điều này khai thị trong chàng: chàng, mà quả thật là một người mới giác ngộ hay vừa sinh ra, phải bắt đầu cuộc đời lại từ khởi thuỷ. Khi chàng rời vườn Lộc Uyển sáng nay, khu vườn của bậc Toàn Giác, chàng có ý định trở về với phụ thân, với quê hương sau những năm dài khổ hạnh. Bây giờ khi đứng im lìm giữa đường, ý nghĩ này đến với chàng: ta còn là ta thuở trước, một người Bà La Môn. Ta sẽ làm gì? Ở nhà với phụ thân ư? Học ư? Cúng tế ư? Ngồi thiền ư? Tất cả điều ấy đối với ta đã hết rồi.
Tất Đạt đứng bất động, và trong lúc ấy chàng cảm thấy lạnh cả người. Tim chàng run lên, như một con vật nhỏ, một con chim hay một con thỏ, khi nhận rằng chàng quá cô đơn. Chàng đã sống kiếp không nhà từ nhiều năm mà không cảm thấy như vậy. Nhưng giờ đây chàng lại có cảm giác ấy. Trước kia, trong những giờ trầm tư miệt mài nhất, chàng vẫn còn là con của phụ thân, là một người Bà La Môn thượng lưu, một người ngoan đạo. Bây giờ chàng chỉ là Tất Đạt, người thức tỉnh; ngoài ra không còn là gì nữa. Chàng hít vào một hơi dài và rùng mình trong một lúc. Không ai cô đơn như chàng. Chàng không còn là người quý phái, thuộc một dòng họ quyền quí nào. Chàng không là người Bà La Môn, sống cuộc đời Bà La Môn, không là một người thuộc dòng Sa Môn khổ hạnh. Đến cả kẻ ẩn tu trong rừng vắng cũng không cô đơn, vì kẻ ấy thuộc vào một hạng người. Thiện Hữu đã trở thành một tu sĩ và có hàng trăm tu sĩ huynh đệ của chàng cùng mặc một loại áo, cùng thuộc một tín ngưỡng và nói cùng một ngôn ngữ. Mà chàng, Tất Đạt, chàng thuộc về đâu? Chàng sống theo đời ai? Chàng dùng ngôn ngữ ai?
Trong lúc đó, lúc vũ trụ quanh chàng tan rã, lúc chàng đứng cô đơn như một ngôi sao trên nền trời, lòng chàng tràn ngập một cảm giác thất vọng tái tê, nhưng chàng cũng cương quyết hơn bao giờ. Đó là sự run rẩy cuối cùng trước khi tỉnh thức, những đau đớn cuối cùng của sự thoát hình. Lập tức, chàng tiếp tục, và bắt đầu bước nhanh hối hả, không hướng về quê nhà, không trở lại thân phụ, không nhìn lui nữa.
KIỀU LAN
Tất Đạt học thêm trên mỗi bước đường một điều mới mẻ, vì vũ trụ đổi thay và chàng ở trong vũ trụ. Chàng thấy mặt trời lên trên núi rừng và lặn ở bãi xa. Ban đêm chàng thấy những vì sao trên nền trời và mảnh trăng lưỡi liềm như một con thuyền trôi trong màu xanh thẳm. Chàng thấy cây cối, trăng sao, loài vật, mây, ráng trời, hang đá, cỏ hoa, suối và dòng sông, sương lấp lánh trên bụi bờ buổi sớm, những dãy núi xa cao và xanh nhạt, chim hót, ong bay vù vù, gió thổi nhẹ qua đồng lúa. Tất cả thứ đó muôn màu sắc, muôn dáng hình vẫn luôn tồn tại ở đây. Mặt trời và mặt trăng vẫn luôn luôn tồn tại ở đây. Mặt trời và mặt trăng vẫn luôn luôn chiếu sáng, dòng sông luôn chảy và những con ong bay vù vù, nhưng ngày xưa đối với chàng, chúng không là gì cả ngoài ra một trò huyễn hoá trước mắt chàng, bị nhìn một cách hoài nghi, bị khinh thường và gạt ra khỏi tư tưởng vì chúng không phải là thực tại, vì thực tại nằm bên kia nhãn giới. Bây giờ chàng nhìn chúng, chàng thấy và nhận ra nhãn giới, chàng tìm thấy vị trí của chàng trong vũ trụ này. Chàng không kiếm tìm thực tại: mục đích của chàng không ở một phía nào khác nữa. Vũ trụ tươi đẹp khi ta nhìn nó bằng cái nhìn này, không tìm kiếm, một cái nhìn đơn giản, cái nhìn của trẻ thơ. Trăng sao đẹp, bờ suối, bờ bể, rừng và hang đá, con dê và con nai vàng, hoa và bướm đều đẹp. Vũ trụ sẽ đẹp nếu ta nhìn thấy nó như vậy, hồn nhiên, tỉnh thức, chỉ quan tâm tới hiện tại mà không một thoáng nghi ngờ. Nơi kia mặt trời nắng gắt, nơi kia có bóng rừng im mát, nơi kia có chuối và bí ngô. Ngày và đêm đều ngắn, mỗi giờ qua nhanh như một chiếc buồm của một con tàu chở đầy kho báu, chở đầy niềm vui. Tất Đạt trông thấy một đàn khỉ trong rừng sâu, chuyền qua những cành cao, và chàng nghe tiếng kêu man rợ của chúng. Tất Đạt trông thấy một anh cừu đực đi theo ái ân với một chị cừu cái. Trong một chiếc hồ, một con cá lớn đói đang đi săn mồi ăn chiều. Từng đàn cá nhỏ đang bơi lượn sáng loáng, lo lắng tránh xa cá lớn đang tìm ăn chúng. Sức mạnh và dục vọng phản chiếu trên những con sóng xao động vì cuộc đuổi bắt hăng say. Tất cả những điều ấy đã có từ bao giờ nhưng chàng không hề thấy, chàng chưa bao giờ hiện diện. Bây giờ chàng hiện diện và thuộc vào thế giới ấy. Bằng con mắt, chàng thấy ánh sáng và bóng tối, bằng trí óc, chàng trực nhận có trăng sao.
Trên đường đi, Tất Đạt nhớ lại tất cả những gì chàng đã thực nghiệm trong vườn Lộc Uyển, những giáo lý mà chàng đã nghe từ đức Phật, cuộc đối thoại với bậc Toàn Giác. Chàng hồi tưởng mỗi chữ chàng đã nói với đấng Giác Ngộ, và chàng ngạc nhiên rằng mình đã nói những điều mà chính mình chưa thật biết. Điều chàng nói với đức Phật - rằng sự giác ngộ của Phật là điều huyền bí không thể giảng dạy được, không thể diễn tả và thông cảm được – mà chàng đã một lần chứng nghiệm trong một giờ sáng suốt, chính là điều mà bây giờ chàng bắt đầu thực nghiệm. Chàng cần phải có kinh nghiệm bản thân. Chàng đã biết từ lâu rằng bản thân chàng là Tiểu ngã, cùng nguồn gốc với Đại ngã, nhưng chàng chưa bao giờ thật tìm thấy Tự ngã, vì chàng đã tóm nó vào cái lưới tư duy. Thân thể dĩ nhiên không là Tự ngã, cảm giác, tư tưởng, sự hiểu biết, sự tinh khôn để rút kết luận và dệt những tư tưởng mới từ những ý đã có sẵn, cũng không phải là Tự ngã. Không, thế giới tư duy cũng vẫn còn ở bên này bờ và nó không đưa đến mục đích nào khi con người phá huỷ giác quan để chỉ nuôi Tự ngã bằng tư duy và kiến thức. Tư tưởng và giác quan đều quý báu, sau chúng là ý nghĩa cuối cùng ẩn nấp. Thật đáng nên lắng nghe cả hai, không khinh thường cũng không xem trọng cái nào hơn, mà phải chú tâm lắng nghe cả hai một cách cẩn thận. Chàng sẽ chỉ lắng nghe lời chỉ bảo của tiếng nói nội tâm, không dừng lại bất cứ chỗ nào, ngoài chỗ mà tiếng nói ấy chỉ định. Tại sao đức Cồ Đàm đã ngồi dưới gốc cây khi Ngài đạt được toàn trí? Ngài đã nghe một tiếng nói trong thâm tâm, đã ra lệnh cho Ngài yên toạ dưới gốc cây đó, và Ngài đã không hành hạ thể xác, không tế thần linh, tắm nước thiêng hay cầu nguyện, uống hay ăn, ngủ hay mơ; Ngài đã nghe theo tiếng nói, không tuân theo mệnh lệnh nào khác ở ngoài, chỉ theo tiếng nói ấy – đó là điều hay và cần thiết – ngoài ra không có gì cần nữa.
Suốt đêm, khi ngủ trong một căn nhà tranh dành cho người bộ hành, chàng đã mơ một giấc mơ. Chàng mơ thấy Thiện Hữu đứng trước mặt trong chiếc áo vàng của nhà tu khổ hạnh. Thiện Hữu trông buồn bã và hỏi chàng: - Tại sao anh bỏ tôi?
Chàng liền ôm lấy bạn và khi kéo bạn sát lòng mình và hôn, thì bạn không còn là Thiện Hữu nữa, mà là một người đàn bà và ngoài cái áo của nàng là một bộ ngực đầy, và chàng nằm xuống uống những dòng sữa vị ngọt và nồng nàn. Có vị của đàn ông và đàn bà, của mặt trời và núi rừng, của loài vật và hoa lá, của mọi thứ quả, của mọi khoái lạc. Thứ sữa ấy làm mê man. Khi Tất Đạt thức dậy, con sông mờ nhạt loang loáng ánh qua líp cửa của chòi tranh, và trong rừng một tiếng cú kêu vang lên sâu thẳm và trong vắt.
Khi ngày bắt đầu lên, Tất Đạt nhờ người chủ nhà của chàng, một người lái đó đưa chàng qua sông. Người lái đò đưa chàng trên con thuyền tre. Mặt nước rộng và phẳng lì loang loáng hồng trong ánh nắng ban mai.
- Con sông thật đẹp – Chàng nói với người đồng hành.
- Vâng, người chèo đò đáp. Con sông rất đẹp, tôi yêu thích nó hơn tất cả mọi sự. Tôi đã thường lắng nghe nó, nhìn ngắm nó, và luôn học được ở nó một điều gì. Người ta có thể học được rất nhiều từ một dòng sông.
- Cám ơn ông lái đò, Sa Môn bảo khi chàng lên bờ. Tôi sợ e rằng tôi không có gì để tặng ông, cũng không có tiền trả. Tôi không nhà cửa, tôi là con của một người Bà La Môn và là một vị Sa Môn.
- Điều đó tôi cũng thấy rõ, người chèo đò nói – và tôi không chờ đợi ngài trả công hay cho chác gì tôi. Ngài sẽ cho tôi một lần khác.
- Ông nghĩ vậy sao? Tất Đạt vui mừng hỏi.
- Hẳn là thế. Tôi cũng học điều này từ con sông nữa. Mọi sự đều trở về. Ngài nữa, vị Sa Môn ơi, ngài cũng sẽ trở lại. Nào, chúng ta từ biệt! Mong ngài nghĩ đến tôi khi ngài tế lễ các vị thần.
Họ mỉm cười chia tay. Tất Đạt sung sướng trước sự thân mật của người chèo đò. Anh ta thật giống Thiện Hữu. Chàng nghĩ, vừa mỉm cười. Mọi người ta gặp đều giống Thiện Hữu, mọi người đều biết ơn, dù chính họ xứng đáng được tạ ơn. Mọi người đều ưa phục tòng, mọi người đều ước mong là bạn của ta, vâng lời và ít suy nghĩ. Người ta đều là trẻ con cả.
Đang trưa chàng đi qua một làng mạc. Trẻ con nhảy múa tung tăng trên con đường nhỏ trước mặt những chòi bằng đất sét. Chúng chơi đùa la hét và vật lộn nhau, nhưng bỏ chạy rụt rè khi người Sa Môn lạ lùng xuất hiện. Ở cuối làng, con đường chạy dài theo một dòng suối, và bên bờ suối, một người đàn bà đang quỳ gối giặt giũ. Khi Tất Đạt chào, nàng ngẩng đầu lên nhìn chàng với nụ cười và chàng thấy rõ tròng trắng của mắt nàng chiếu long lanh. Chàng nói lên một lời chúc tụng theo tục lệ những du khách, và hỏi đường còn bao xa nữa là đến thành phố. Khi ấy nàng đứng lên, tiến đến chàng, đôi mắt ướt sáng lên một cách quyến rũ trên gương mặt trẻ của nàng. Nàng trao đổi vài nhận xét với Tất Đạt, hỏi chàng ăn cơm chưa và có phải rằng những Sa Môn ngủ một mình trong rừng ban đêm không được theo người đàn bà nào cả hay không. Đoạn nàng đặt bàn chân trái lên trên chân phải của Tất Đạt và phác một cử chỉ thường làm khi một người đàn bà mời một người đàn ông hưởng thú khoái lạc ái tình mà thánh kinh gọi là “leo xuống cây”. Tất Đạt cảm thấy máu chàng nóng lên và chàng nhận ra hình ảnh giấc chiêm bao của chàng vừa qua, chàng hơi cúi mình về người đàn bà và hôn lên đầu chóp nâu của ngực nàng. Nhìn lên, chàng thấy mặt nàng tươi cười, đầy dục vọng, với đôi mắt hơi nhắm của nàng khẩn cầu khao khát.
Tất Đạt cũng cảm thấy khát khao và lòng rung động vì dục vọng, nhưng vì chàng chưa hề động đến một người đàn bà, chàng hơi do dự một lúc, mặc dù tay chàng đã ôm lấy nàng. Lúc ấy bỗng nghe tiếng nội tâm của chàng, và tiếng ấy nói “Đừng!”. Rồi tất cả ma lực đều biến đi khỏi khuôn mặt tươi cười của người đàn bà, chàng chỉ nhìn thấy cái nhìn nồng nàn của một người đàn bà trẻ say đắm. Chàng vỗ nhẹ má nàng, và nhanh chân đi khỏi người đàn bà đang tiu nghỉu và khuất bóng trong rừng tre.
Trước khi chiều xuống, chàng đến một thành phố lớn, và chàng sung sướng, vì chàng khao khát gặp người ta. Chàng đã sống trong rừng rú khá lâu và chòi canh của người chèo đò trong đó chàng ngủ đêm trước, là mái nhà đầu tiên trên đầu chàng sau một thời gian dài.
Ngoài phố thị, cạnh một khu rừng đẹp, người lữ hành lang thang gặp một đoàn gia nhân mang đầy những giỏ. Ở giữa, trong một chiếc kiệu trang hoàng có bốn người gánh, một người đàn bà, bà chủ, ngồi trên chiếc ghế dựa đỏ, dưới chiếc tàn lọng sặc sỡ màu. Tất Đạt đứng lặng ở cửa vào khu rừng nhỏ và ngắm đoàn những người tớ trai tớ gái và giỏ. Chàng nhìn chiếc kiệu và người đàn bà ngồi trong. Dưới mớ tóc đen bới cao, chàng thấy một gương mặt rất sáng, dịu hiền và thông minh, một cái miệng đỏ chót như một trái anh đào mới cắt, đôi mày tuyệt xảo và một vòng cung cao, đôi mắt đen láy tinh khôn và ưa quan sát, chiếc cổ thon trắng muốt nổi trên chiếc áo choàng vàng lục của nàng. Đôi bàn tay mịn màng dẻo dai dài và thon, nơi cườm tay đeo những chiếc vòng vàng chói.
Tất Đạt thấy nàng tuyệt đẹp và lòng chàng vui rộn lên. Chàng cúi thấp khi chiếc kiệu đi qua gần chàng, và lại ngẩng đầu lên ngắm gương mặt xinh đẹp trong sáng, nhìn vào đôi mắt bồ câu một lúc và thở hít vào mùi hương mà chàng không nhận ra mùi gì. Người đàn bà đẹp gật đầu mỉm cười một lát, rồi biến khuất trong cụm rừng, theo sau là đàn tôi tớ.
Tất Đạt nghĩ: ta đã vào thành phố này dưới một ngôi sao may mắn. Chàng cảm thấy hăm hở muốn đi vào cụm rừng ngay, nhưng chàng nghĩ lại, vì chàng sực nhớ đến cái nhìn của bọn tôi tớ trai gái nhìn chàng trước cửa đi vào, một tia nhìn khinh mạn và nghi ngờ, một tia nhìn như muốn xua đuổi.
Ta vẫn còn là một Sa Môn, chàng nghĩ, vẫn còn là một nhà khổ hạnh, ăn xin. Ta không thể vẫn là một người như thế. Ta không thể đi vào cụm rừng ấy trong hình thức này. Và chàng cười lớn.
Chàng dò hỏi những người chàng gặp đầu tiên về khu rừng, và về người thiếu phụ; và được biết đó là khu rừng của Kiều Lan, một kỹ nữ danh tiếng, và ngoài khu rừng ra, nàng còn làm chủ một biệt thự trong thành phố. Chàng đi vào thành. Chàng chỉ có một mục đích. Theo đuổi mục đích ấy, chàng rảo bước qua thành phố, đi lang thang trong những đường hẻm, đứng lặng ở vài chỗ, và đứng nghỉ trên bực đá đưa xuống sông. Về chiều, chàng làm quen với một người thợ phụ hớt tóc, người chàng thấy đang làm việc dưới bóng một vòm cây. Chàng lại gặp ông ta đang cầu nguyện trong một ngôi đền, ở đấy ông ta kể lại cho chàng nghe những câu chuyện về thần Tình ái. Ban đêm chàng ngủ giữa những chiếc thuyền trên sông, và sáng sớm, trước khi những khách hàng đầu tiên đến tiệm, chàng đã nhờ người thợ phụ cạo hết râu cho mình. Chàng cũng bảo chải đầu và xức dầu láng. Rồi Tất Đạt đi tắm trên dòng sông.
Khi về chiều, nàng Kiều Lan xinh đẹp tiến vào khu rừng của nàng trong chiếc kiệu, Tất Đạt đang đứng ở cổng vào. Chàng cúi chào và đón nhận lời chào của nàng. Chàng ra hiệu cho người tôi tớ đi sau cùng, và nhờ anh ta báo tin cho chủ biết có một người Bà La Môn trẻ muốn nói chuyện với nàng. Sau một lúc, người gia nhân trở lại, bảo Tất Đạt theo mình, lặng lẽ dẫn Tất Đạt đi vào trong một gian trại ở đó Kiều Lan đang nằm trên một chiếc thảm, và để chàng lại đấy.
- Có phải anh đứng ngoài cổng hôm qua và chào ta không? Kiều Lan hỏi.
- Vâng, chính thế. Hôm qua tôi thấy nàng và chào nàng.
- Nhưng hôm qua hình như anh có bộ râu và tóc dài đầy bụi, phải không?
- Nàng đã quan sát rất giỏi, đã thấy mọi sự. Nàng đã thấy Tất Đạt, con một vị Bà La Môn, người đã từ bỏ gia đình để trở thành một thầy Sa Môn, và đã tu trong ba năm. Nhưng giờ đây tôi đã từ bỏ con đường ấy và đến thành phố này, và người đầu tiên tôi gặp chính là nàng. Tôi đến đây là để nói với nàng, hỡi nàng Kiều Lan, rằng nàng là người đàn bà đầu tiên mà Tất Đạt muốn nói chuyện cùng mà không hạ đôi mắt. Tôi sẽ không bao giờ hạ đôi mắt khi gặp một người đàn bà đẹp nữa.
Kiều Lan mỉm cười và mân mê chiếc quạt lông công, đoạn hỏi:
- Tất Đạt đến để nói với ta có chừng ấy sao?
- Tôi đến để nói cùng nàng điều đó, và để cám ơn nàng vì nàng quá xinh đẹp. Và nếu nàng không phật ý, hỡi nàng Kiều Lan, tôi yêu cầu nàng hãy là bạn và thầy của tôi, vì tôi không biết tí gì về nghệ thuật mà nàng đang nắm vững.
Lúc ấy Kiều Lan bật cười:
- Tôi chưa bao giờ nghe chuyện một người Sa Môn trên núi xuống muốn gặp tôi và học với tôi. Chưa bao giờ một người Sa Môn tóc dài, áo quần rách rưới đến với tôi. Nhiều thanh niên đến gặp tôi, kể cả con trai những người Bà La Môn, nhưng họ đều ăn mặc đẹp đẽ, giày bóng, đầu họ thơm tho và túi đầy tiền. Đấy những thanh niên đến với tôi như thế đấy, hỡi thầy Sa Môn.
Tất Đạt bảo:
- Tôi bắt đầu học được ở nàng hôm nay. Hôm qua tôi cũng đã học được một điều. Tôi đã cạo râu, chải đầu và bôi dầu láng. Hỡi người diễm tuyệt, tôi không còn thiếu bao nhiêu nữa: áo quần đẹp, giày đẹp và tiền trong túi. Tất Đạt đã làm những việc khó khăn hơn những chuyện tầm thường ấy, và đã thành công. Tại sao tôi lại không đạt được điều mà hôm qua tôi quyết định khởi sự - làm bạn với nàng và học nơi nàng những lạc thú của ái tình? Nàng sẽ thấy tôi là một người học trò có khả năng. Hỡi Kiều Lan, tôi đã học nhiều điều khó khăn hơn những gì nàng phải dạy tôi. Thế ra Tất Đạt chưa đủ tươm tất vừa ý nàng, với đầu tóc láng bóng, nhưng không có quần áo tốt, giày và tiền?
Kiều Lan cười lớn:
- Không, Tất Đạt không đủ tươm tất. Anh phải có quần áo thật đẹp và giày thật tốt, và tiền đầy túi, và tặng phẩm cho Kiều Lan. Anh đã biết chưa, hỡi thầy Sa Môn từ rừng núi xuống? Anh hiểu không?
- Tôi hiểu lắm. Tất Đạt kêu lên. Làm sao tôi không hiểu được, khi những lời ấy thốt ra từ một chiếc mồm xinh đẹp thế kia? Môi nàng giống như một trái anh đào mới cắt, hỡi Kiều Lan. Môi tôi cũng đỏ thắm và tươi mát, và sẽ hợp với môi nàng lắm, để nàng xem. Nhưng này, hỡi nàng Kiều Lan xinh đẹp, nàng không sợ hay sao, sợ vị Sa Môn từ rừng núi xuống để học về yêu đương?
- Tại sao tôi phải sợ một vị Sa Môn, một thầy Sa Môn ngốc nghếch từ rừng núi xuống, và không biết gì về đàn bà?
- Ồ, người Sa Môn rất hùng mạnh và không sợ gì cả. Người có thể cưỡng bức nàng, hỡi cô gái đẹp, người có thể cướp của nàng và làm nàng đau đớn.
- Không, hỡi Sa Môn. Tôi không sợ. Có bao giờ một thầy Sa Môn hay một Bà La Môn sợ rằng có kẻ sẽ đến đánh người ấy và cướp của người ấy kiến thức, lòng sùng bái, năng lực suy tư? Không, bởi vì những cái ấy thuộc về của chính ông ta, và ông ta chỉ có thể cho những gì ông ta muốn, và nếu ông ta muốn. Cũng hệt như thế với Kiều Lan và những lạc thú của tình yêu. Đôi môi của Kiều Lan đẹp lắm, nhưng ai muốn cưỡng bức Kiều Lan để hôn chúng, người ấy sẽ không hưởng chút gì ngọt ngào từ nơi môi ấy, mặc dù chúng biết rõ làm sao để ban bố sự ngọt ngào. Anh là một người học trò giỏi, hỡi Tất Đạt, bởi thế anh nên học thêm điều này: người ta có thể cầu xin, mua, được tặng hay gặp tình yêu trên các nẻo đường, nhưng tình yêu không bao giờ trộm cướp được. Anh đã hiểu lầm. Vâng, thật đáng tiếc, nếu một người thanh niên đẹp đẽ như anh mà hiểu lầm điều đó.
Tất Đạt cúi đầu mỉm cười:
- Nàng nói phải, Kiều Lan, thật đáng tiếc. Thật sẽ vô cùng đáng tiếc. Không, không một giọt ngọt ngào nào sẽ bị rơi mất từ môi nàng hay môi tôi. Vậy Tất Đạt sẽ trở lại khi có đủ những gì đang thiếu – áo quần, giầy, tiền bạc. Nhưng hỡi nàng Kiều Lan xinh đẹp, nàng không thể cho tôi vài lời khuyên nhủ sao?
- Lời khuyên? Sao lại không? Ai mà lại không sẵn sàng chỉ cho một thầy Sa Môn, nghèo khó ngu ngốc từ núi xuống, sống giữa những con lừa?
- Hỡi nàng Kiều Lan, tôi có thể đi đâu để kiếm được nhanh chóng ba thứ trên?
- Ông bạn ơi, nhiều người muốn biết điều đó lắm. Ông phải làm những gì ông đã học để kiếm tiền, quần áo và giày. Một người nghèo khó không thể kiếm tiền bằng cách nào khác hơn?
- Tôi biết suy tư, tôi biết chờ đợi, tôi biết nhịn đói.
- Không biết gì khác sao?
- Không. Ồ có, tôi biết làm thơ. Nàng có thể cho tôi một cái hôn để đổi lấy một bài thơ?
- Tôi sẽ đổi nếu bài thơ của anh vừa ý. Bài thơ ấy gọi là gì?
Suy nghĩ một lúc, Tất Đạt đọc lên những vần thơ:
“Nhác trông
nàng kiều nữ
Dạo gót sen về
rừng
Ngõ vào, Sa Môn
đứng
Nghiêng mình
trước bông hoa
Nàng mỉm
cười diễm lệ
Chàng Sa Môn thầm
nghĩ:
“Nên dâng
nàng lễ vật
Hơn cúng tế thần linh””
Kiều Lan vỗ tay thật lớn, đến nỗi những đôi vòng vàng của nàng kêu reng rẻng.
- Bài thơ của anh rất hay, hỡi thầy Sa Môn áo nâu. Và thật cũng không mất gì nếu tôi cho anh một chiếc hôn vì nó.
Nàng đảo mắt ra hiệu cho chàng lại gần. Chàng để mặt sát mặt nàng, kề môi sát môi nàng, đôi môi tựa trái anh đào mới cắt. Kiều Lan hôn chàng đắm đuối, và người Sa Môn ngạc nhiên vô cùng thấy nàng đã dạy chàng nhiều quá, nàng khôn khéo quá, cách nàng chế ngự chàng, xua đuổi chàng, và sau chiếc hôn dài đầu tiên, bao nhiêu cái hôn khác chờ đợi chàng, chàng đứng yên, thở rất dài. Lúc ấy chàng giống hệt một trẻ nhỏ ngạc nhiên trước sự hiểu biết và kiến thức tràn đầy trải qua trước mắt.
- Bài thơ của anh rất hay, Kiều Lan bảo, nếu tôi giàu có, tôi sẽ trả tiền cho anh về bài thơ ấy. Nhưng sẽ rất khó khăn cho anh nếu anh muốn kiếm được nhiều tiền như anh muốn với thi ca. Vì anh sẽ cần rất nhiều tiền nếu anh muốn là bạn của Kiều Lan.
- Nàng biết hôn thật tuyệt – Tất Đạt ấp úng.
- Quả thế, chính vì vậy mà tôi không thiếu áo quần, giày và mọi thứ xinh đẹp. Nhưng anh sẽ làm gì, anh không biết gì khác ngoài suy nghĩ, nhịn đói và làm thơ sao?
- Tôi còn biết hát những bài tế thần – Tất Đạt nói. Nhưng tôi sẽ không hát nữa. Tôi cũng biết những bài phù chú, nhưng tôi sẽ không đọc nữa. Tôi đã đọc những thánh kinh.
- Xem! Kiều Lan ngắt lời, - anh không biết viết và đọc?
- Dĩ nhiên là biết. Nhiều người có thể làm được việc ấy.
- Không có nhiều. Chẳng hạn như tôi, tôi không biết. Thật tốt, thật rất tốt, nếu anh biết đọc, biết viết. Có thể anh cần đến cả những bài phù chú.
Lúc ấy một người tớ bước vào thì thầm bên tai bà chủ. Kiều Lan vội bảo Tất Đạt:
- Tôi có một người khách. Nhanh lên, cút đi Tất Đạt. Không ai được thấy anh ở đây. Chúng ta sẽ gặp nhau lại ngày mai.
Tuy nhiên, nàng lại sai gia nhân đem tặng thầy Sa Môn thánh thiện một chiếc áo choàng trắng. Không biết rõ những gì đang xảy ra, Tất Đạt được gia nhân nàng dẫn đi ra, qua một con đường ngoằn ngoèo, đến một ngôi nhà có vườn. Chàng được tặng một chiếc áo, dẫn vào bụi rậm và người ta bảo chàng lập tức rời khỏi cụm rừng chớ để cho ai thấy chàng.
Vui mừng, chàng làm những gì người ta bảo. Đã quen với rừng núi, chàng lặng lẽ tiến ra khỏi khu rừng nhỏ và qua bên kia bờ rào. Vui mừng, chàng trở lại thành phố, mang theo chiếc áo cuộn tròn dưới cánh tay. Chàng đứng trước cửa một tửu quán ở đấy du khách tụ tập, lặng lẽ xin ăn và lặng lẽ nhận một mảnh bánh cốm. Có lẽ ngày mai, chàng nghĩ, ta sẽ không cần ăn xin nữa.
Bỗng chốc chàng cảm thấy tràn ngập một niềm kiêu hãnh. Chàng không còn là một Sa Môn: thật cũng không nên ăn xin nữa. Chàng quăng cho chó mảnh bánh cốm và nhịn ăn.
Đời sống ở đây thật là đơn giản, Tất Đạt nghĩ. Không có gì là khó khăn cả. Mọi sự đều là khó khăn, vô vọng khi ta là một Sa Môn. Bây giờ thì tất cả đều dễ dàng như cái hôn mà Kiều Lan dạy. Ta chỉ còn cần quần áo và tiền bạc. Đó là những mục đích dễ dàng không làm ai mất ngủ.
Hôm sau chàng trở
lại nơi Kiều Lan ở để thăm nàng.
Nàng bảo:
- Mọi sự đều tốt đẹp. Vạn Mỹ mời anh đến thăm ông ta. Ông ta là thương gia giàu có nhất trong thành phố. Nếu anh vừa ý ông ấy, ổng sẽ nhận anh giúp việc. Hãy khôn ngoan lên, vị Sa Môn áo nâu ơi! Và hãy thân mật với ông ấy: ông ta rất quyền thế, nhưng anh đừng nên quá nhún mình. Tôi không muốn anh là người tôi tớ của hắn ta, mà là người ngang hàng, nếu trái lại tôi sẽ bất bình về anh. Vạn Mỹ bắt đầu già và lười biếng. Nếu anh làm cho ổng vừa lòng, ổng sẽ rất tin cậy anh.
Tất Đạt cám ơn nàng và cười, và khi biết rằng chàng đã đói từ hai hôm nay, nàng ra lệnh lấy bánh và trái cây cho chàng. Nàng bảo chàng khi sắp từ giã:
- Anh may mắn đó. Hết cánh cửa này lại đến cánh cửa khác mở ra cho anh. Sao mà may mắn thế! Anh có bùa chú gì chăng?
Tất Đạt trả lời:
- Hôm qua tôi đã nói với nàng rằng tôi biết suy tư, chờ đợi và nhịn đói, nhưng nàng không cho đó là hữu ích. Rồi nàng sẽ thấy chúng rất hữu ích. Hôm kia tôi hãy còn là một khất sĩ lôi thôi, hôm qua tôi đã được hôn nàng, và bây giờ tôi sắp sửa là một thương gia có tiền, có tất cả những gì mà nàng yêu chuộng.
- Phải đó, - nàng biểu đồng tình, - nhưng anh sẽ làm gì nếu không có tôi? Anh sẽ ra sao nếu Kiều Lan không giúp anh?
- Kiều Lan thân mến ơi, khi tôi đến khu rừng của nàng, tôi đã đi bước đầu. Ý hướng của tôi là học về tình yêu từ nơi người đàn bà đẹp nhất. Ngay khi tôi đưa ra quyết định ấy, tôi biết chắc tôi sẽ thực hiện nó. Tôi biết nàng sẽ giúp tôi, biết từ cái nhìn đầu tiên của nàng khi tôi mới đến.
- Và nếu tôi không muốn?
- Nhưng nàng đã muốn, Kiều Lan hãy nghe này, khi nàng ném một viên đá trong nước, nó tìm đường nhanh nhất để rơi xuống đáy. Cũng thế, khi Tất Đạt có một mục đích. Nó không làm gì cả: nó chờ đợi, suy tư và nhịn đói; và khi làm những công việc thế tục nó cũng không làm gì, không khuấy động gì, mà tự để mình rơi. Tất Đạt bị lôi cuốn bởi mục đích của chính mình, vì nó không cho phép một điều gì chống lại mục đích đó len vào trong trí óc. Đó là điều mà Tất Đạt đã học từ các vị Sa Môn. Đó là điều mà những kẻ phàm phu cho là phép lạ và do quỉ thần sai khiến. Không có gì do quỉ thần cả, và cũng không có quỉ thần. Mọi người đều có thể thực hiện phép màu, mọi người đều có thể đạt đến mục đích nếu họ biết suy tư, chờ đợi và nhịn đói.
Kiều Lan lắng nghe chàng nói. Nàng yêu giọng nói ấy, yêu cái nhìn ấy. Nàng dịu dàng bảo:
- Có lẽ như anh nói, nhưng cũng có lẽ chính vì Tất Đạt là một chàng trai khôi ngô, vì cái nhìn của chàng thu phục được đàn bà, nên chàng mới may mắn như thế.
Tất Đạt hôn nàng từ giã.
- Tôi cầu mong được như vậy, hỡi người đã dạy cho tôi. Cầu mong cái nhìn của tôi mãi mãi làm đẹp lòng nàng, cầu mong sự may mắn sẽ mãi mãi đến với tôi từ nơi nàng!
GIỮA XÃ HỘI
Tất Đạt tìm đến Vạn Mỹ, người thương gia, và được chỉ vào một biệt thự giàu có. Gia nhân đưa chàng qua những tấm thảm rộng, vào một phòng, ở đấy chàng ngồi đợi chủ nhà.
Vạn Mỹ đi vào, ông ta là người hoạt bát, dẻo dai, tóc hoa râm, đôi mắt thông minh khôn khéo và cái miệng đầy nhục cảm. Chủ, khách thân mật chào nhau. Người thương gia bắt đầu:
- Tôi được nghe nói ngài là một người Bà La Môn học thức, nhưng muốn đi tìm việc với một thương gia. Vậy ngài túng thiếu lắm sao, nên đi kiếm việc làm?
Tất Đạt trả lời:
- Không, tôi không thiếu, và chẳng bao giờ thiếu gì. Tôi đến từ những vị Sa Môn mà tôi đã chung sống từ lâu.
- Nếu ngài ở trong đoàn Sa Môn, làm sao ngài lại không thiếu thốn? Các vị Sa Môn há không hoàn toàn vô sản?
- Tôi không có gì cả, - Tất Đạt nói - hiểu theo ý ông. Dĩ nhiên là tôi vô sản, nhưng do tôi tự nguyện, vì thế tôi không thiếu thốn.
- Nhưng làm sao ngài sống nếu không có tài sản?
- Tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều ấy, thưa ông. Tôi không có gì cả đã gần ba năm nay, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ về việc phải sống bằng cách nào.
- Nghĩa là ngài sống trên tài sản của kẻ khác?
- Bề ngoài thì như thế. Người thương gia cũng sống trên tư hữu của kẻ khác.
- Cũng đúng, nhưng người thương gia không lấy không. Họ cho lại hàng hoá của họ để trao đổi.
- Điều đó thành như định luật. Mọi người đều có cho, có nhận. Cuộc đời là như vậy.
- Ồ, nhưng nếu ngài không có gì, thì làm sao mà cho?
- Mỗi người cho cái mà mình có. Người lính cho sức mạnh, người thương gia cho hàng hoá, người thầy cho kiến thức, người làm ruộng cho lúa, người chài lưới cho cá.
- Phải lắm, nhưng ngài có thể cho gì? Ngài đã học được gì để cho?
- Tôi có thể suy tư, chờ đợi và nhịn đói.
- Chỉ có thế?
- Tôi nghĩ chỉ có thế.
- Nhưng những thứ ấy dùng để làm gì? Ví dụ như nhịn ăn, để làm gì?
- Nó có giá trị lớn lắm, thưa ông. Khi một người không có gì để ăn, nhịn đói là điều khôn ngoan nhất. Chẳng hạn nếu tôi không học cách nhịn, thì tôi phải tìm việc làm hôm nay, hoặc với ông, hoặc nơi khác, vì cơn đói hướng dẫn tôi. Nhưng bây giờ, tôi có thể chờ đợi một cách bình thản. Tôi không vội vàng, không thiếu thốn, tôi có thể nhịn rất lâu và xem thường sự đói. Vì thế mà nhịn đói là hữu ích, thưa ông.
- Thưa Sa Môn, ngài dạy rất phải. Xin ngài đợi cho một lát.
Vạn Mỹ đi ra, và trở vào với một cuộn giấy trao cho khách, đoạn hỏi:
- Ngài có thể đọc cái này không?
Tất Đạt nhìn vào cuộn giấy và bắt đầu đọc bản giao kèo về thương mãi. Vạn Mỹ bảo:
- Tốt lắm. Bây giờ xin ngài viết cho tôi một câu gì trên tờ giấy này, ông ta trao cho chàng giấy bút. Tất Đạt viết rồi trao trả tờ giấy. Vạn Mỹ đọc: “Viết lách rất tốt, nhưng suy nghĩ còn tốt hơn. Sự khôn khéo rất hay, nhưng kiên tâm còn hay hơn”. Người thương gia ngợi khen:
- Ngài viết hay lắm. Chúng ta sẽ còn bàn luận nhiều, nhưng hôm nay tôi mời ngài làm vị khách và ở trong nhà tôi.
Tất Đạt cám ơn ông ta và nhận lời. Người ta đem đến cho chàng áo quần, giày dép, và một gia nhân sửa soạn đồ tắm cho chàng mỗi ngày. Họ dọn cho chàng những mâm cơm ngon lành mỗi ngày hai dạo, nhưng chàng chỉ ăn có một buổi, và không dùng rượu thịt. Vạn Mỹ nói cho chàng nghe về việc mua bán, chỉ cho chàng xem hàng hoá, kho chứa hàng và sổ kế toán. Chàng học nhiều điều mới lạ, nghe nhiều và ít nói. Và nhớ đến lời Kiều Lan dặn, chàng không bao giờ hạ mình trước người thương gia mà buộc ông ta đối với chàng như một người ngang hàng hoặc cao hơn. Vạn Mỹ điều hành công việc cẩn thận say mê, nhưng Tất Đạt xem chúng như một trò chơi mà luật lệ thì chàng học thuộc nên chúng không làm chàng bận tâm.
Ở nhà Vạn Mỹ chưa lâu, chàng đã dự phần trong công việc kinh doanh của ông ta. Tuy thế, hàng ngày chàng vẫn đến thăm Kiều Lan vào giờ nàng mời, ăn vận tề chỉnh, mang giày bóng và mang quà đến tặng nàng. Chàng học hỏi được nhiều nơi đôi môi đỏ khôn khéo của nàng. Bàn tay mềm dịu của nàng dạy chàng rất nhiều. Vốn còn là một đứa con trai khờ dại trong tình yêu, chàng thường đắm mình trong ái ân một cách mù quáng không biết chán chê, không bao giờ thoả mãn. Nhưng nàng dạy cho chàng rằng không ai có thể hưởng thụ khoái lạc mà không đồng thời ban bố nó, và mỗi cử chỉ, mỗi sự mơn trớn, mỗi cái nhìn, mỗi phần trong cơ thể đều có bí quyết riêng của nó để đem khoái cảm cho người biết thưởng thức. Nàng dạy cho chàng rằng những người yêu đương không nên rời nhau sau khi âu yếm mà không cảm phục nhau, không chinh phục người yêu và bị chinh phục, để cho không có cảm giác ngấy chán hay cô đơn nào phát sinh, và nhất là không có cái cảm giác khủng khiếp là mình đã lạm dụng hay bị lạm dụng. Chàng trải qua những giờ thần dịu bên người kỹ nữ khôn khéo xinh đẹp, và trở thành học trò của nàng, người yêu của nàng, bạn quí của nàng. Giá trị và ý nghĩa của cuộc đời chàng hiện tại ngưng đọng nơi cuộc gần gũi Kiều Lan chứ không phải trong công việc kinh doanh với Vạn Mỹ. Người thương gia giao cho chàng viết những bức thư và ngân phiếu quan trọng và dần dần có lệ hỏi ý chàng về những việc hệ trọng. Chẳng bao lâu ông ta đã nhận thấy rằng Tất Đạt ít hiểu biết về lúa gạo, len, về việc chuyên chở hàng hoá và mậu dịch, nhưng chàng lại có một năng khiếu tự nhiên và vượt hẳn ông ta về sự trầm tĩnh và thản nhiên, trong nghệ thuật nghe và làm cho người lạ có cảm tưởng tốt đẹp về chàng. Ông ta nói với một người bạn:
“Người Bà La Môn này không phải là một thương gia thực thụ và sẽ không bao giờ thành một thương gia cả, hắn không bao giờ say sưa với công việc ấy. Nhưng hắn có cái bí quyết của những người mà sự thành công tự đến với họ một cách dễ dàng, không biết vì hắn ra đời dưới một ngôi sao tốt, hay vì phép lạ, hay vì hắn đã học điều ấy nơi các Sa Môn. Hắn luôn luôn có vẻ thư thái trong công ăn việc làm, công việc chẳng bao giờ làm hắn bận tâm nhiều, hay chi phối hắn. Hắn chẳng bao giờ sợ thất bại và chẳng bao giờ lo mất mát”. Người bạn khuyên thương gia: “Hãy chia cho hắn một phần ba lợi tức của công việc hắn điều khiển, nhưng bắt hắn chịu cùng một tỷ lệ ấy nếu thua lỗ. Như vậy hắn sẽ hăng hái hơn”.
Người thương gia theo lời khuyên ấy, nhưng Tất Đạt không mấy lưu tâm. Nếu có lời chàng nhận nó một cách bình tĩnh; nếu lỗ, chàng cười lớn và nói: “Ồ! Thì ra chuyến buôn này tệ thật!”.
Quả thế, chàng hầu như thờ ơ với việc thương mãi. Một hôm, chàng đi đến một làng nọ để mua một mùa lúa lớn. Khi chàng đến đấy, lúa đã bán cho một thương gia khác. Tuy vậy, chàng vẫn ở lại trong làng rất lâu, giao du với những người chủ trại, cho trẻ con tiền bạc, dự một đám cưới và trở về một cách thoả mãn. Vạn Mỹ trách chàng đã không về ngay, để phí thời giờ và tiền bạc. Tất Đạt trả lời:
- Bạn ơi, đừng có trách móc. Không việc gì thành tựu bằng lời khiển trách cả. Nếu có sự tổn thất nào, tôi sẽ chịu. Tôi rất bằng lòng chuyến du lịch này. Tôi đã được quen rất nhiều người, thân với người Bà La Môn, trẻ con đã ngồi trên gối tôi, những người chủ trại đã chỉ cho tôi xem những cánh đồng của họ. Không ai xem tôi là một thương gia cả.
- Tất cả điều đó rất hay, Vạn Mỹ chấp nhận một cách miễn cưỡng – nhưng trên thực tế ngài là một thương gia. Hay là ngài chỉ đi vì sự ham vui của ngài thôi?
Tất Đạt cười:
- Dĩ nhiên tôi đi vì ham vui. (Chàng cười lớn). Sao lại không? Tôi đã quen với nhiều người và nhiều vùng mới. Tôi đã được tình bạn và lòng tin cậy. Nếu tôi là Vạn Mỹ, tôi đã bực bội bỏ ra về ngay khi thấy mình không mua chác được, mà lại tốn thì giờ, tiền bạc. Đằng này tôi đã trải qua những giờ tươi đẹp, học thêm nhiều điều, hưởng nhiều thú vui và không làm hại chính tôi cũng như kẻ khác vì sự bực dọc hay vội vàng. Nếu có dịp nào đến lại chỗ ấy, những người thân sẽ đón tiếp tôi, và tôi sẽ sung sướng vì lần trước tôi không tỏ ra vội vã bất bình. Dù sao, hãy gác câu chuyện ấy lại, ông bạn ạ, và đừng tự dày vò mình với những lời trách móc. Nếu có ngày ông nghĩ rằng Tất Đạt này hại ông, hãy chỉ nói một lời và Tất Đạt sẽ đi khỏi nơi đây. Cho đến ngày đó, giờ chúng ta hãy là những người bạn tốt của nhau.
Người thương gia cố làm cho chàng nhận chân được rằng chàng đang ăn cơm của ông ta, nhưng vô hiệu. Tất Đạt ăn cơm của riêng chàng. Hơn nữa, họ đều ăn cơm của người khác, cơm của mọi người. Tất Đạt không bao giờ bận tâm về những lo lắng của Vạn Mỹ, và Vạn Mỹ thì rất nhiều lo lắng. Khi một công việc có vẻ sắp thất bại, khi một chuyến hàng bị mất, khi một con nợ không chịu trả, Vạn Mỹ không bao giờ có thể làm cho người đồng nghiệp của mình tin rằng điều đó có thể làm điên tiết lên, làm cho trán nhăn lại và giấc ngủ trằn trọc. Một hôm, khi Vạn Mỹ nhắc lại rằng chàng đã học được mọi sự từ nơi ông ta, Tất Đạt trả lời:
- Đừng nói đùa chứ. Tôi đã học được của ông giá tiền rổ cá bao nhiêu, và cho vay tiền có lời bao nhiêu. Đó là kiến thức của ông. Nhưng tôi không học của ông cách suy tư, ông Vạn Mỹ thân mến, ông nên học ở tôi điều đó.
Quả thế, tâm hồn chàng không ở trong công việc thương mãi. Nó hữu ích cho chàng vì nó đem lại tiền để chàng biếu Kiều Lan, và chàng được nhiều tiền hơn là chàng cần. Hơn nữa, cảm tình và trí tò mò của chàng chỉ hướng về những con người, mà những công việc, lo âu, lạc thú và sự điên rồ của họ thật xa vời và lạ lùng đối với chàng hơn cả mặt trăng. Mặc dù chàng cảm thấy rất dễ dàng nói chuyện với mọi người, sống với mọi người, học hỏi mọi người, chàng ý thức sâu xa một điều rằng có một cái gì đó ngăn cách chàng với họ, và đều do thực trạng chàng đã là một Sa Môn. Chàng thấy mọi người sống một cách trẻ con và như thú vật, điều làm cho chàng vừa cảm thương vừa khinh bỉ. Chàng thấy họ lao nhọc đau khổ và bạc đầu về những chuyện mà đối với chàng thật không đáng một đồng xu, - tiền bạc, lạc thú nhỏ nhoi và những danh vọng hão huyền. Chàng thấy họ đánh mắng, chửi nhau, than vãn về những nổi khổ cực mà sẽ làm cho một vị Sa Môn bật cười, và họ khổ đau vì những thiếu thốn mà một vị Sa Môn không cảm thấy.
Chàng nhận lấy tất cả những gì người ta mang lại cho chàng. Người thương gia đem đến hàng vải để bán cũng được đón tiếp, con nợ đến vay cũng được đón tiếp y hệt, kẻ ăn xin cũng được tiếp đón, có khi ở lại hàng giờ để kể lể nỗi nghèo nàn với chàng mặc dù hắn không nghèo khó bằng bất cứ một Sa Môn nào. Chàng tiếp đãi không chút phân biệt, từ người thương gia giàu xa lạ đến người tôi tớ cạo râu cho chàng, và những anh hàng rong mà chàng mua chuối đã đánh cắp những đồng xu lẻ của chàng. Khi Vạn Mỹ đến kể cho chàng nghe những nỗi lo lắng và trách cứ về một vụ thua lỗ, chàng lắng nghe một cách tò mò chăm chú, và há hốc mồm, cố gắng để hiểu ông ta, nhượng bộ ông ta một tí khi cần, và tảng lờ ông ta để đến với người cần chàng hơn. Và rất nhiều người đến với chàng, người thì đến vì công việc mua bán, người thì để lừa gạt chàng, người để nghe chàng nói, người để nghe chàng cảm thông, người cần chàng chỉ bảo. Chàng giúp họ ý kiến, cảm thông với họ, cho chác họ, để cho họ lừa gạt chàng một ít, và để tư tưởng chàng bận rộn vì trò chơi này cũng như trước đấy chàng đã bận rộn vì thần linh và Đại ngã.
Thỉnh thoảng chàng nghe trong tâm tư một tiếng nói yếu ớt, nhẹ nhàng, nhắc nhở chàng một cách âm thầm, phàn nàn một cách lặng lẽ đến nỗi chàng khó có thể nghe thấy. Rồi đột nhiên chàng thấy rõ ràng chàng đang sống một nếp sống quái gở, rằng chàng đang làm việc chỉ đáng giá như một ván bài, rằng chàng cũng vui vẻ đấy và đôi khi hưởng khoái lạc nữa, nhưng sự sống chân thật đang trôi qua mà không chạm đến chàng. Như một cầu thủ chơi với quả cầu, chàng chơi với công việc kinh doanh, với những người chung quanh, ngắm nhìn họ, thích thú vì họ, nhưng tâm hồn chàng thì không có ở đấy. Bản ngã thực của chàng đang đi phiêu lưu một nơi nào đấy rất xa, âm thầm đi qua và không dính líu gì đến sự sống hiện tại của chàng. Đôi khi chàng sợ hãi những ý nghĩ ấy và ước sao được chia xẻ công việc hàng ngày trẻ con của họ một cách hăng hái, tham dự vào đời sống thực sự, thụ hưởng và sống đời sống của họ thực sự, thay vì chỉ ở đấy như một khách bàng quang.
Chàng đến thăm Kiều Lan thường xuyên, học nghệ thuật yêu đương trong đó cho và nhận trở thành một. Chàng nói chuyện với nàng, học ở nàng, chỉ bảo nàng và nhận những lời chỉ bảo. Nàng hiểu chàng hơn Thiện Hữu ngày xưa hiểu chàng, nàng giống chàng hơn là Thiện Hữu đã giống chàng.
Một hôm chàng bảo nàng:
- Em thật giống tôi, khác hẳn mọi người. Em là Kiều Lan và không giống ai khác, và ở trong em hình như có sự bình lặng, một nơi thiêng liêng ở đấy, em cũng như tôi, có thể lui về bất cứ lúc nào và trở thành chính em. Ít người có khả năng ấy, trong khi mọi người đều có thể có.
- Không phải mọi người đều khôn ngoan cả, Kiều Lan bảo.
- Điều ấy không can hệ gì, Kiều Lan. Vạn Mỹ cũng khôn như tôi, nhưng ông ta không có nơi thiêng liêng ấy. Nhiều người khác có nhưng lại chỉ là những trẻ con về kiến thức. Hầu hết đều giống những chiếc lá rơi phiêu bạt, quay cuồng trong không rồi rơi xuống đất. Nhưng một số ít người khác thì giống như những vì sao, đi một con đường đã định: không một cơn gió nào có thể chi phối họ, họ có sẵn trong mình kim chỉ nam và lối đi. Trong tất cả những người khôn ngoan – tôi biết nhiều người – có một người hoàn toàn về phương diện này. Tôi không bao giờ quên được người ấy. Ngài là Cồ Đàm, đấng Giác Ngộ. Mỗi ngày có hàng ngàn thanh niên theo nghe giáo lý của Ngài và theo lời Ngài mỗi giờ phút, nhưng họ đều là những chiếc lá rơi; họ không có trong họ sự khôn ngoan và hướng đạo.
Kiều Lan mỉm cười nhìn chàng:
- Anh lại nói về ông ấy rồi. Anh lại có những tư tưởng Sa Môn.
Tất Đạt im lặng, và họ chơi trò yêu đương. Thân nàng mềm mại như chiếc cung của một nhà thiện xạ, kẻ nào học tình yêu nơi nàng sẽ học được nhiều lạc thú, nhiều bí quyết. Nàng đùa giỡn với Tất Đạt một lúc, xua đuổi chàng làm chàng đê mê, chiếm đoạt chàng, và thích thú vì sự chế ngự của mình cho đến khi chàng chịu thua, kiệt sức nằm bên cạnh nàng.
Người kỹ nữ cúi xuống nhìn rất lâu vào mặt chàng, vào đôi mắt chàng đã mệt mỏi.
- Anh là người tình tài giỏi nhất mà em gặp, nàng nói một cách trầm ngâm. Anh khoẻ mạnh hơn những người khác, dẻo dai hơn, hăng hái hơn. Anh đã học rất giỏi nghệ thuật của em, Tất Đạt. Một ngày kia, khi em lớn tuổi hơn, em muốn có một đứa con với anh. Nhưng anh ôi, anh vẫn còn là một Sa Môn. Anh không thực sự yêu em – Anh không yêu ai cả. Có phải thế không?
- Có lẽ, Tất Đạt mệt mỏi đáp. Tôi cũng như em, em cũng không thể yêu. Nếu không, làm sao em có thể luyện tập về yêu đương như một nghệ thuật? Có lẽ những người như chúng ta không thể yêu đương. Những người thường tình kia, mới có thể yêu đương được - đấy là bí quyết của họ.
Chương bảy
KHỔ
ĐAU
Trong một
thời gian khá lâu, Tất Đạt sống
nếp sống của thế tục mà không
dự phần vào thế tục. Những giác quan
mà chàng đã kềm chế suốt
những năm dài say mê sống đời
khổ hạnh, bây giờ lại được
vùng dậy. Chàng đã nếm mùi
của cải, đammê và thế lực, nhưng
chàng vẫn còn là Sa Môn một thời
gian rất lâu trong tâm khảm. Nàng Kiều Lan
khôn khéo đã nhận thấy điều
này. Đời chàng luôn luôn
được hướng dẫn bởi nghệ
thuật suy tư, đợi chờ và nhịn
đói. Những con người xa lạ của thế
tục, những thường nhân, vẫn còn xa
lạ đối với chàng cũng như chàng
cách xa họ.
Năm tháng trôi qua. Tất
Đạt không buồn để ý đến
thời gian, vì được vây quay bởi
những hoàn cảnh thuận tiện dễ dãi,
chàng đã trở nên giàu có. Từ
lâu chàng đã làm chủ biệt thự
có tôi tớ, có một khu vườn ở
ngoại ô cạnh dòng sông. Mọi
người đều yêu thích chàng khi
cần tiền bạc hay lời chỉ bảo. Tuy
thế, trừ Kiều Lan ra, chàng không có
bạn thân.
Sự thức tỉnh huy hoàng
mà chàng đã hơn một lần chứng
nghiệm lúc thiếu thời, vào những
ngày sau khi nghe đức Cồ Đàm thuyết
pháp, sau khi từ giã Thiện Hữu, sự
thức tỉnh bén nhạy kia, lòng kiêu
hãnh được đứng độc lập
không cần thầy hay thuyết lý, lòng
hăm hở nghe tiếng diệu âm nội tại
… tất cả đã dần trôi qua và
trở thành ký ức.
Dòng suối linh thiêng
đã một lần gần gũi chàng và
hát ca trong lòng chàng, bây giờ thì
thầm rất nhẹ xa xa. Tuy nhiên, nhiều
điều chàng học ở các vị Sa
Môn, ở đức Phật, ở cha chàng, ở
các vị Bà La Môn, chàng vẫn còn
nhớ rất lâu: một cuộc sống điều
độ, lạc thú của tư duy, những
giờ thiền định, tri thức huyền nhiệm
về Tự ngã, về cái Ta vĩnh cữu
không phải thân thể cũng không phải
ý thức. Nhiều điều chàng còn
giữ lại, nhiều điều đã chìm
xuống dưới làn bụi bao phủ. Như
một cái bánh xe đã tắt máy
còn quay một lúc lâu, quay rất chậm
rồi ngừng, bánh xe khổ hạnh cũng vậy,
bánh xe tư duy, bánh xe phân biệt còn
quay rất lâu trong tâm hồn Tất Đạt,
nó còn chuyển động nhưng chậm
chạp, và ngập ngừng, sắp đứng
lại. Chầm chậm, như chất mục nát len
dần vào thân cây đang chết, len dần
và làm cho thối rữa dần, thế tục
với sự trơ lì vô cảm giác cũng
len lỏi dần vào tâm hồn Tất
Đạt, dần dần lấp đầy tâm
hồn chàng, làm cho nó trầm trệ,
mệt mỏi, ru ngủ nó. Nhưng mặt khác,
những giác quan chàng lại được
tỉnh thức hơn, chúng học được
rất nhiều, kinh nghiệm rất nhiều.
Tất Đạt học
được cách điều hành những
việc kinh doanh, thi hành quyền lực của
mình đối với người, chơi với đàn
bà, chàng đã mặc đồ sang
trọng, sai bảo tôi tớ, tắm mình trong
nước thơm. Chàng đã biết ăn
những thức ăn thịnh soạn, cá thịt,
bồ câu hầm và những thứ gia vị tinh
xảo, những của ngon vật lạ. Chàng
đã biết uống rượu, làm cho
chàng lười biếng và chóng quên.
Chàng đã biết chơi tài xỉu,
đánh cờ, ngắm vũ nữ, ngồi kiệu,
ngủ trên chiếc giường êm dịu.
Nhưng chàng luôn luôn cảm thấy mình
khác và cao hơn mọi người; chàng
luôn luôn nhìn họ với một cái
nhìn khinh khỉnh, chế giễu ngạo nghễ,
sự ngạo nghễ của một Sa Môn đối
với người thế tục. Khi Vạn Mỹ
nổi cuồng lên, khi ông ta tự thấy
mình đã bị lăng nhục hoặc khi
ông bị rối rắm vì việc kinh doanh,
Tất Đạt luôn luôn nhìn ông ta
đầy chế giễu. Nhưng dần dà, và
một cách thầm lặng, sự chế giễu
và mặc cảm hơn người của chàng
vơi đi cùng thời gian. Dần dà, cùng
với những của cải tăng thêm, Tất
Đạt cũng thu thập thêm ít đặc
tính của những con người thường tình,
thêm một ít lo âu của họ, một
ít tính trẻ con của họ. Tuy nhiên
chàng vẫn thèm thuồng số phận họ,
càng giống họ bao nhiêu chàng càng ganh
tị họ bấy nhiêu. Chàng ganh họ ở
một điều độc nhất mà chàng
thiếu, ấy là tầm quan trọng họ sống
cuộc đời họ, bề sâu của khoái
lạc cũng như đau khổ của họ, hạnh
phúc xao xuyến nhưng êm đềm, ở
mãnh lực liên tục của họ trong tình
yêu. Những con người ấy luôn luôn mê
say chính họ, con cái họ, danh vọng, tiền
tài, kế hoạch và niềm hy vọng. Nhưng
những điều này chàng không học
được của họ, những khoái lạc
trẻ con và những sự điên rồ;
chàng chỉ học được ở họ
những điều khó chịu, những điều
mà chàng khinh bỉ. Sau một buổi chiều
miệt mài trong cuộc truy hoan, thường
thường là sáng hôm sau chàng cảm
thấy vô cùng chán chường mệt
mỏi. Chàng trở nên bực bội nóng
nảy khi Vạn Mỹ quấy rầy chàng với
những lo âu của ông ta. Chàng thường
cười quá lớn khi thua bạc. Nét mặt
chàng vẫn còn thông minh trí thức
hơn những kẻ khác, nhưng chàng ít
khi cười, và dần dần nét mặt
chàng nhiễm lấy những vẻ thường
thấy nơi những người giàu - vẻ
bất bình, mệt mỏi, chán nản, nhàn
hạ và vắng bóng yêu thương. Dần
dần căn bệnh nội tâm của những
người trưởng giả nhiễm vào trong
chàng.
Như một tấm màn, một
dải mù sương mong manh, sự mệt mỏi
chán chường trùm lên Tất Đạt
mỗi ngày một dày nặng, mỗi tháng
một đậm màu, mỗi năm một trầm
trọng. Như một chiếc áo dần cũ theo
thời gian, mất dần vẻ chói sáng,
bạc màu và nhăn nheo, viền áo nứt
rạn, đường chỉ bị sờn, đời
sống mới mà Tất Đạt bắt
đầu sau khi từ giã Thiện Hữu cũng
trở nên cũ dần. Nó cũng mất dần
sắc màu theo năm tháng: lằn xếp và
vết bẩn dồn dập thêm, ảo tưởng
cùng sự ngấy chán buồn nôn đã
chực sẵn, nấp kín hoặc ló dạng
ở vài nơi. Tất Đạt không chú
ý đến. Chàng chỉ để ý
rằng tiếng nội tâm trong sáng đã
từng thức tỉnh chàng và luôn luôn
dìu dắt chàng trong những giờ phút
tốt đẹp nhất, bây giờ tiếng ấy
bỗng im bặt.
Nếp sống thế tục
đã tóm lấy chàng; lạc thú, tham
lam, lười biếng và cuối cùng cả
đến tính dồn của, thói tục mà
chàng vẫn xem thường, khinh bỉ vì
nó điên rồ nhất. Tài sản, vật
sở hữu và của cải, cuối cùng
đã bẫy chàng. Chúng không còn
là một trò chơi, một cuộc đen
đỏ; chúng đã trở thành một
dây xích, một gánh nặng. Qua ván
đỏ đen, Tất Đạt đã đi hoang
theo con đường quái gở cong quẹo,
xuống cái dốc cuối cùng thấp nhất.
Từ lúc chàng thôi còn là một Sa
Môn trong tâm hồn, chàng bắt đầu
chơi bạc vì tiền và vàng, càng ngày
càng hăng hái, một cuộc đỏ đen
mà như mọi người thường khác:
đầu tiên chàng cũng ngồi vào
một cách tươi cười và dễ
dãi. Chàng là một tay cờ cừ khôi,
ít ai dám chơi với chàng vì chàng
đặt tiền quá cao và liều lĩnh.
Chàng cảm thấy một say mê, một
khoái cảm trong sự phung phí tiền vào
cờ bạc, một thứ tiền khốn nạn.
Chàng không thể bằng cách nào
khác, bày tỏ một cách rõ rệt
và ngạo nghễ hơn lòng khinh bỉ của
chàng đối với của cải, thần
tượng sai lạc của những thương gia.
Bởi thế chàng đặt tiền rất cao,
không dè sẻn, tự ghét mình, tự
chế nhạo mình. Chàng được hàng
nghìn và ném ra hàng nghìn, thua tiền,
thua đồ nữ trang, thua một ngôi nhà ở
thôn quê, lại được, rồi thua lại.
Chàng say mê nỗi phập phồng ấy, nỗi
phập phồng ghê gớm nặng nề mà
chàng trải qua trong những ván bài,
những sự hồi hộp nín thở, với
những món tiền cọc rất cao. Chàng
yêu thích cảm giác này và liên
tục tìm kiếm nó lại, tăng nó
thêm lên, kích thích nó, vì chỉ
trong cảm giác này chàng mới thấy
được một thứ hạnh phúc, một
thứ phấn khởi, một đà sống nồng
nàn hơn trong cuộc đời tẻ nhạt,
vô vị, chán chường của chàng.
Và sau mỗi trận thua bạc lớn, chàng
lại tận tuỵ kiếm thêm của, hăm
hở theo đuổi việc kinh doanh và hối
thúc con nợ, vì chàng cần chơi lại,
cần phung phí lại, cần phơi bày nỗi
khinh miệt của chàng đối với tiền
trở lại. Tất Đạt trở nên nóng
nảy khi thua bạc, chàng mất bình tĩnh
trước những con nợ dây dưa, chàng
không còn tử tế với những kẻ ăn
xin nữa, chàng không còn muốn cho
người nghèo mượn tiền hoặc bố
thí nữa. Chàng, người đặt cọc
hàng mười nghìn vào ván bài
rồi cười lớn, bây giờ trở nên
khắt khe và bủn xỉn hơn trong việc kinh
doanh, và đôi khi về đêm chàng
lại nằm mộng thấy tiền. Và mỗi khi
tỉnh dậy từ cái bùa chú khả
ố này, khi chàng nhìn thấy bóng
mình trong gương treo ở tường phòng
ngủ, nét mặt già hơn và xấu
hơn, mỗi khi hổ thẹn và sự buồn
nôn xâm chiếm chàng, chàng lại chạy
trốn, trốn vào trong ván đen đỏ
khác, bối rối trốn vào dục lạc,
vào men rượu và từ đó, trở
lại với lòng hăm hở dồn chứa
thêm tài sản. Chàng để mình hao mòn
trong vòng luân chuyển vô tri ấy, và
già đi, rồi bệnh hoạn.
Rồi bỗng một hôm, một
giấc mơ làm chàng nhớ lại. Chàng
ở lại với Kiều Lan trong buổi chiều, trong
khu vườn chơi xinh đẹp của nàng.
Họ ngồi nói chuyện dưới một gốc
cây. Kiều Lan đang nói cách nghiêm
trọng, sự buồn rầu và mệt mỏi sau
lời nói của nàng. Nàng bảo chàng
nói cho nghe về đức Phật, và nghe bao
nhiêu cũng không đủ đối với
nàng, nào là mắt Ngài sáng trong
làm sao, nào là chiếc miệng xinh
đẹp và bình an, nụ cười huyền
bí, tư thái Ngài đầy vẻ thanh
tịnh làm sao. Rất lâu chàng phải
thuật cho nàng nghe về đấng Giác
Ngộ, và Kiều Lan đã thở dài
và bảo:
- Một ngày kia, có lẽ không lâu,
em cũng sẽ đi theo đức Phật ấy. Em
sẽ dâng Ngài khu vườn chơi của em
và qui y theo giáo lý của Ngài.
Nhưng đoạn nàng quyến
rũ chàng, và hết sức nồng say, nàng
vồ lấy chàng trong một cuộc ân ái
vừa cuồng nhiệt vừa đầy nước
mắt, tuồng như nàng muốn ép lấy
giọt ngọt ngào cuối cùng của thứ
khoái lạc phù du kia. Chưa bao giờ Tất
Đạt thấy rõ một cách lạ lùng
rằng dục lạc đắm say gần giống
cảnh chết chóc như thế. Chàng nằm
bên cạnh nàng, mặt nàng kề sát
mặt chàng, và chàng đọc thấy trong
đôi mắt nàng, ở khoé miệng
nàng lần đầu tiên những dấu
hiệu nhắc nhở mùa thu của cuộc
đời, những đường nhăn của
tuổi tác. Chính chàng, chỉ đang
độ tứ tuần, cũng đã thấy
xuất hiện những sợi hoa râm trong mớ
tóc đen của mình. Sự mỏi mệt
đã in dấu trên gương mặt xinh
đẹp của Kiều Lan, do bởi tiếp tục
một con đường dài không mục
đích tươi vui. Sự mệt mỏi và
tuổi già đang lộ liễu, cùng với
một nỗi sợ hãi đang tiềm ẩn chưa
được nói ra, có lẽ chưa
được ý thức, nỗi lo sợ mùa thu
của cuộc đời: sợ hãi, già,
chết. Thở dài, chàng từ giã nàng,
lòng nặng khổ đau và nỗi lo sợ
âm thầm.
Tất Đạt đã ở
lại nhà nàng đêm đó với men
rượu và vũ nữ, tự cho mình cao
hơn đồng bọn, mặc dù kỳ thực
chàng không còn gì hơn họ. Chàng
uống nhiều rượu và rất khuya mới
vào giường, mệt mỏi nhưng trằn
trọc, gần muốn khóc và tuyệt vọng.
Chàng cố ngủ nhưng vô hiệu. Tim
chàng quá đau khổ, tưởng chừng
không thể nào chịu đựng
được nữa. Chàng cảm thấy một
cơn buồn nôn xâm chiếm lấy chàng
như một thứ rượu vô vị, một
thứ nhạc quá ẻo lả và vô
duyên, nụ cười quá nhạt nhẽo
của những vũ nữ hay mùi hương
quá nồng của mái tóc họ, của
ngực họ. Nhưng trên tất cả, chàng
buồn nôn vì chính chàng. Như một
người đã ăn uống quá nhiều
và nôn ra một cách khó nhọc nhưng
rồi cảm thấy dễ chịu, con người
bứt rứt của chàng muốn một cách
quyết liệt, vứt bỏ hết những lạc
thú, những thói quen, vứt bỏ cuộc
sống hoàn toàn vô nghĩa này.
Chỉ khi trời sáng và khi
mọi hoạt động ngoài thành phố
bắt đầu, chàng mới sực thiếp đi,
hơi khuây khoả, và ngủ yên trong chốc
lát. Chính trong lúc ấy chàng đã
mơ một giấc chiêm bao.
Kiều Lan nuôi một con chim lạ
nhỏ trong chiếc lồng con bằng vàng. Chàng
nằm mơ về con chim ấy. Con chim, thường
hót về ban sáng, bỗng nhiên câm
hẳn; và chàng ngạc nhiên đi đến
chiếc lồng con nhìn vào. Nó đã
chết và nằm cong queo trên sàn. Chàng
đem nó ra, cầm trên tay một lúc rồi
ném ra đường. Chính lúc ấy
chàng bỗng sợ hãi và đau đớn
như chàng đã vứt đi cùng với
con chim ấy tất cả những gì tốt
đẹp và giá trị trong đời
chàng.
Khi tỉnh dậy, chàng cảm
thấy lòng tràn ngập một nỗi buồn
sầu ghê gớm. Chàng mường tượng
mình đã hoang phí một cách vô
vị vô nghĩa; chàng đã không giữ
lại được một điều gì của
sự sống, một điều gì quí báu
và xứng đáng. Chàng đứng cô
độc như một kẻ đắm tàu
đứng trên bờ.
Buồn bã, Tất Đạt đi
vào khu vườn chơi của chàng, chàng
đóng cổng, ngồi dưới một cây
xoài, và cảm thấy đầy chết
chóc rùng rợn trong tâm khảm. Chàng
ngồi và cảm thấy mình đang chết
dần, đang héo mòn, đang chấm dứt. Dần
dần, chàng tập trung lại tư tưởng
và ôn lại cả cuộc đời, từ
những ngày trẻ thơ nhất mà chàng
còn nhớ. Khi nào thì chàng đã
thực sự hạnh phúc? Khi nào chàng
đã thực nếm trải niềm vui? Ừ,
chàng đã trải qua điều này nhiều
lần. Chàng đã vui trong những ngày
niên thiếu, khi chàng được những
người Bà La Môn khen ngợi, khi chàng
vượt xa những người đồng thời, khi
chàng đọc những thánh thư, trong
những cuộc tranh biện với những bậc
trí thức, khi dự những cuộc tế thần.
Lúc đó chàng đã nghĩ: “Một
con đường đang trải trước mắt.
Những vị thần linh đang đợi
ngươi”. Và khi còn là một
thiếu niên, khi lý tưởng mãi bay
lượn thúc giục chàng đi theo rồi
từ giã những người cùng đi tìm
kiếm như chàng, khi chàng cố hết sức
để mình hiểu những lời dạy của
người Bà La Môn, khi mỗi kiến thức
mới thu được chỉ lôi kéo theo
một niềm khao khát mới, và trong niềm
khát khao của chàng, trong những cố gắng
của chàng, chàng đã tự nhủ:
“Tiến lên đi, tiến lên! Đây
là con đường của ngươi”.
Chàng đã nghe theo tiếng nói ấy khi
chàng rời nhà và chọn đời
sống Sa Môn, và khi chàng rời những
vị Sa Môn để đến đức Phật,
và khi chàng rời đức Phật để
tiếp tục con đường vô định.
Đã bao lâu rồi từ khi chàng nghe
tiếng ấy, từ khi chàng bay bổng trên
bất cứ chiều cao nào? Thật vô vị
và buồn thảm làm sao, con đường
chàng đã đi qua! Qua bao nhiêu năm
dài rồi, chàng không có một mục
đích nào cả, không một niềm
hân hoan khát khao, không một thú nhỏ
hẹp, là vẫn không thực thoả mãn!
Không biết rõ điều đó, chàng
đã cố gắng và khao khát mấy
năm rồi, để được giống như
mọi người khác, như những con
người trẻ thơ kia, mà đời chàng
vẫn khốn đốn và nghèo nàn hơn
họ, bởi mục đích của họ không
phải là mục đích của chàng,
nỗi sầu muộn của họ cũng không
phải là nỗi sầu muộn của chàng.
Cả thế giới những người như Vạn
Mỹ này chỉ là một ván bài
trước mặt chàng, một cuộc khiêu
vũ, một hài kịch để nhìn ngắm.
Chỉ có Kiều Lan là yêu quí đối
với chàng, là có giá trị đối
với chàng. Nhưng nàng có còn yêu
quí, giá trị hay không? Chàng có
thực cần thiết đến nàng chăng?
Họ lại không đang chơi một ván
bài không dứt đó sao? Có cần
thiết sống vì ván bài ấy hay
không? Không. Ván bài này gọi là
Sanh Tử, một trò chơi trẻ con, một
trò chơi mà có lẽ chơi một, hai,
mười lần cũng thú vị đấy,
nhưng có đáng để chơi liên
tục mãi mãi không?
Tất Đạt biết ngay là
trò chơi đã chấm dứt, rằng
chàng không thể chơi thêm được
nữa. Một cơn rùng mình thoáng qua
thân thể chàng, cảm thấy một cái
gì đó đã chết.
Chàng ngồi suốt ngày hôm đó
dưới gốc cây xoài, nghĩ đến cha
chàng, đến Thiện Hữu, đến
đức Phật. Có phải chàng đã
từ bỏ tất cả những người này
để trở nên một Vạn Mỹ không?
Chàng ngồi đấy cho đến khi đêm
xuống. Khi chàng ngẩng lên thì thấy
những vì sao, chàng nghĩ: ta vẫn còn
ngồi đây dưới gốc xoài trong
vườn chơi của ta. Chàng hơi mỉm
cười. Có cần thiết không, có
đúng không, có phải điên rồ
không, nếu chàng lại làm chủ một
cây xoài và một khu vườn?
Chàng đã quá chán
ngán với những điều ấy. Chúng
cũng đã chết ở trong lòng chàng.
Chàng đứng dậy, chào từ biệt
cây xoài và khu vườn chơi. Chàng
chưa ăn gì cả ngày hôm đó,
và chàng thấy đói cồn cào,
nghĩ đến ngôi biệt thự của
chàng, chiếc bàn đầy thức ăn.
Chàng mệt mỏi mỉm cười, lắc
đầu và chào giã biệt tất cả
những thứ ấy.
Cũng đêm đó, Tất
Đạt rời thành phố và không bao
giờ trở lại. Vạn Mỹ cố đi tìm
chàng một thời gian khá lâu, tin rằng
chàng đã rơi vào tay bọn cướp.
Kiều Lan thì không cố tìm chàng.
Nàng không ngạc nhiên khi nghe tin Tất
Đạt đã biến mất. Nàng đã
vẫn chờ đợi điều đó lâu
nay. Chàng không phải là một Sa Môn
không nhà, một người lữ hành
đó sao? Nàng cảm thấy điều
đó rõ rệt hơn bao giờ hết trong
buổi gặp gỡ cuối cùng với chàng,
và trong sự buồn khổ vì mất mát,
nàng vui sướng vì đã được
ôm xiết chàng trong dịp cuối cùng
ấy, và đã cảm thấy hoàn toàn
được chàng chinh phục.
Khi nàng nghe những tin đầu
tiên về việc Tất Đạt biến mất,
nàng đi đến cửa sổ ở đấy
nàng nuôi con chim hiếm trong chiếc lồng
vàng. Nàng mở cửa lồng, lấy chim ra
và thả cho nó bay đi. Nàng đứng
nhìn theo chim khuất dạng một lúc lâu.
Từ hôm đó, nàng không tiếp
khách nữa và đóng kín cửa
nhà. Sau một thời gian, nàng nhận ra
mình đã có thai sau lần gặp gỡ
cuối cùng với Tất Đạt.
Chương tám
BÊN
BỜ SÔNG
Tất Đạt đi lang
thang vào rừng, đã xa thành thị và
chàng chỉ biết một điều rằng
chàng không thể trở về, rằng cuộc
đời chàng đã sống nhiều năm qua
bây giờ đã hết, chàng đã
nếm trải đến độ buồn nôn. Con
chim hoàng oanh đã chết cái chết
của nó, mà chàng đã chiêm bao,
chính là cái chết của con chim trong
lòng chàng. Chàng đã vướng
sâu vào đau khổ, đã rước
vào mình sự buồn nôn và chết
chóc từ tứ phía, như một cái
tô đĩa đã thấm nước cho
đến khi đầy. Chàng đầy cả
chán chường, khổ đau, chết chóc,
không còn một cái gì ở thế
tục có thể lôi cuốn chàng, có
thể đem lại cho chàng khoái lạc và
niềm an ủi.
Chàng say sưa ao ước
được quên, được nghỉ ngơi,
được chết. Sao cho một cơn sét
đánh chàng đi! Sao cho một con hổ cứ
đến ăn thịt chàng phức đi!
Ước sao có một thứ rượu nào,
một độc dược nào, đem lại cho
chàng quên lãng, quên hết, làm cho
chàng ngủ thiếp đi không bao giờ dậy
nữa! Có một thứ gì thối tha mà
chàng chưa bôi vào mình, có một
tội lỗi và sự điên rồ nào
trong tâm hồn mà chàng chưa phạm
đến, có một vết nhơ nào trong
tâm hồn mà chỉ có chàng là
không chịu trách nhiệm hay không? Cái
vòng luân chuyển đó không kiệt
quệ đi và chấm dứt đi cho chàng hay
sao?
Tất Đạt đã đến
con sông dài trong rừng, con sông mà một
người chèo đò đã từng
đưa chàng qua khi chàng hãy còn trẻ
và sau khi từ giã đức Phật. Chàng
dừng lại và đứng tần ngần ở
bờ sông. Cơn mệt và đói làm
chàng yếu lả. Tại sao chàng lại
phải đi xa thêm, đi đâu, và
để làm gì? Không còn mục
đích gì nữa, không còn gì hơn
là một khát vọng đau đớn sâu xa
được rũ hết cơn mộng mị cuồng
loạn này, mửa hết chất rượu vô
vị này, chấm dứt cuộc sống ê
chề đau đớn này.
Có một cây dừa trên
bờ sông; Tất Đạt ngồi dựa vào
cây ấy, choàng tay qua thân cây và
nhìn xuống dòng sông nước lục
chảy bên dưới. Chàng nhìn xuống
và bỗng dưng tràn ngập một ước
muốn buông tay ra, để trầm mình trong
đáy nước. Cái trống rỗng lạnh
giá của nước phản chiếu sự
trống rỗng ghê rợn trong tâm hồn
chàng. Phải, chàng đã đến
bước đường cùng. Không còn
gì hơn đối với chàng trừ ra tự
xoá bỏ mình, huỷ hoại cái kiến
trúc thất bại của đời chàng,
vứt nó đi, để cho những thần linh
chế diễu. Đấy là việc mà
chàng ao ước làm - huỷ hoại cái
hình tướng mà chàng ghét bỏ! Sao
cho những con cá xé xác chàng ra.
Chàng, con vật xấu xí, người
điên, thân xác mục nát, thối tha
ấy, tâm hồn chán chường vô dụng
ấy! Sao cho cá sấu ngấu nghiến chàng
đi, sao cho những con quỉ xé thây chàng ra
từng mảnh!
Với một nét mặt quái
dị, chàng nhìn chòng chọc vào
dòng nước. Chàng thấy mặt chàng
phản chiếu và khạc nhổ lên đấy;
chàng buông tay khỏi thân cây và xoay
mình một tí, để có thể rơi
ngược đầu và chìm xuống
nước. Chàng cúi rạp người,
đôi mắt nhắm nghiền như hướng
về cõi chết. Rồi từ một cõi xa
xăm trong tâm hồn chàng, từ quá khứ
của cuộc đời mệt mỏi, chàng
bỗng nghe một tiếng vọng. Chỉ có một
tiếng, một âm thanh mà không suy nghĩ,
chàng lẩm bẩm nói lên, âm thanh
ngày xưa bắt đầu và kết thúc
mọi bài kinh Bà La Môn, tiếng “Om”
thiêng liêng, có nghĩa là “Giác Ngộ”
hay “Toàn Thiện”. Lúc đó, khi
tiếng “
Tất Đạt vô cùng sợ
hãi. Thì ra chàng đã ra thế
đấy, chàng đã quá lạc lõng,
quá bối rối, quá mất lương tri
đến nỗi muốn tìm cái chết.
Lòng mong mỏi ấy, lòng mong mỏi trẻ con
ấy đã trở nên quá mãnh liệt
trong lòng chàng: tìm sự bình an bằng
cách huỷ hoại thể xác. Tất cả
những dày vò của thời vừa qua, tất
cả ảo tưởng, tuyệt vọng đã
không ảnh hưởng đến chàng bằng
khi tiếng “Om” len vào ý thức
chàng, làm chàng nhận rõ sự khốn
nạn và tội lỗi của mình.
“
Nhưng chỉ một thoáng,
thời gian một làn chớp, rồi Tất
Đạt lại quị xuống gốc cây dừa,
sự mỏi mệt xâm chiếm lấy chàng.
Thì thầm tiếng “
Thật là cả một giấc ngủ tuyệt
vời! Chưa bao giờ một giấc ngủ lại
làm chàng tỉnh táo, đổi mới
chàng, làm chàng trẻ lại đến
thế. Có lẽ chàng đã chết
thực, có lẽ chàng đã chết
đuối và tái sinh dưới một hình
hài khác. Nhưng không, chàng nhận ra
chính mình, nhận ra tay chân chàng, nơi
chàng nằm và bản ngã ở trong lồng
ngực chàng, một Tất Đạt cá
biệt. Nhưng Tất Đạt này có một
cái gì thay đổi, mới mẻ. Chàng
đã ngủ một giấc tuyệt vời. Bây
giờ chàng tỉnh táo một cách kỳ
lạ, sung sướng và ngạc nhiên
trước mọi sự.
Tất Đạt ngẩng lên
và thấy một thầy tu áo vàng,
đầu cạo, ngồi đối diện với
dáng điệu của một người suy tư.
Chàng nhìn vào ông ta, và chẳng
mấy chốc chàng đã nhận ra đấy
là Thiện Hữu, người bạn của
chàng thời thơ ấu. Thiện Hữu,
người đã nấp dưới bóng
đức Giác Ngộ … Thiện Hữu, cũng
đã luống tuổi, nhưng mặt chàng
còn biểu lộ những nét đặc biệt
cũ trên mặt – lòng hăng hái,
chính trực, óc tò mò, nỗi hoang mang.
Nhưng khi Thiện Hữu ngẩng lên và
nhìn chàng, Tất Đạt thấy rằng
Thiện Hữu không nhận ra chàng. Thiện
Hữu vui mừng khi thấy chàng tỉnh giấc.
Chàng có vẻ đã ngồi đấy
từ lâu chờ Tất Đạt thức dậy,
mặc dầu Thiện Hữu không biết chàng.
- Tôi đang ngủ - Tất Đạt lên
tiếng. Ông đến đây bằng cách
nào?
- Ông đang ngủ - Thiện Hữu đáp,
và thật không nên ngủ ở những
nơi như vầy, vì thường có rắn
và dã thú trong rừng ra. Tôi là
một trong những đồ đệ của
đức Phật Thích Ca Mâu Ni, và tôi
đang đi hành hương cùng với một
số tăng lữ như tôi. Tôi thấy ông
nằm ngủ một nơi nguy hiểm, nên
đã cố thức ông dậy, nhưng ông
ngủ say quá, nên tôi ở lại và ngồi
đây. Rồi dường như tôi, người
muốn canh chừng cho ông, chính tôi lại
cũng ngủ. Sự mệt mỏi đã chiếm
lấy tôi và tôi đã canh chừng
rất sơ sót. Nhưng bây giờ ông
đã tỉnh, tôi phải đi cho kịp với
các môn đệ.
- Cám ơn thầy Sa Môn đã canh cho
tôi ngủ. Những đồ đệ của
đấng Giác Ngộ thật rất tốt,
nhưng bây giờ ông có thể đi
đường của ông đi.
- Tôi đi đây. Chúc ông ở
lại mạnh giỏi.
- Cám ơn thầy Sa Môn.
Thiện Hữu cúi đầu nói: Xin từ
biệt.
- Xin từ biệt, Thiện Hữu, Tất
Đạt buột miệng.
Vị tu sĩ đứng dừng lại:
- Xin lỗi ông, làm sao ông biết
được tên tôi?
Tất Đạt cười lớn:
- Thiện Hữu, tôi biết anh từ ngôi
nhà của thân sinh anh và từ ngôi
trường của những người Bà La
Môn, từ những cuộc tế thần, từ
ngày chúng ta đi theo những Sa Môn, và
cũng từ giờ phút trong rừng Lộc Uyển
khi anh xin qui y đấng Giác Ngộ.
- Anh là Tất Đạt! Thiện Hữu
kêu lên – Bây giờ tôi đã
nhận ra anh và không hiểu tại sao tôi
lại không nhận ra anh ngay. Chào Tất
Đạt, tôi mừng lắm được gặp
lại anh …
- Tôi cũng rất mừng. Bạn đã
canh chừng giấc ngủ của tôi. Cám ơn
bạn một lần nữa, mặc dù tôi
không cần người canh. Bây giờ bạn
đi đâu?
- Tôi không đi đâu cả. Chúng
tôi, những tu sĩ, thì luôn luôn đi
trên đường, trừ trong mùa mưa.
Chúng tôi luôn luôn đi từ nơi
này đến nơi kia, sống theo qui luật,
giảng dạy giáo lý, khất thực và
lại đi. Luôn luôn như thế. Nhưng anh
đi đâu, Tất Đạt?
Tất Đạt nói:
- Tôi cũng hệt như anh, bạn ơi.
Tôi không đi đâu cả. Tôi chỉ
đi trên đường. Tôi đang đi
hành hương.
Thiện Hữu nói:
- Anh bảo anh đi hành hương, tôi tin
anh. Nhưng này anh Tất Đạt, xin lỗi anh,
tôi trông anh không giống một khất sĩ
chút nào. Anh đang mặc áo quần của
một người giàu có, anh đang mang
giày theo thời trang, và mái tóc
đầy hương của anh không phải là
tóc của một khất sĩ, không phải
tóc của một Sa Môn.
- Bạn đã quan sát kỹ lắm,
đôi mắt tinh vi của bạn đã thấy
hết mọi sự. Nhưng tôi không bảo
bạn rằng tôi là một Sa Môn. Tôi
nói rằng tôi đi hành hương, và
điều ấy có thật.
- Anh đang đi hành hương. Thiện
Hữu nói – Nhưng ít ai đi hành
hương trong bộ áo quần như thế, giày
như thế, tóc như thế. Tôi đã
lang thang nhiều năm nay mà chưa bao giờ
thấy một khất sĩ như thế cả.
- Tôi tin bạn nói thật, Thiện Hữu.
Nhưng hôm nay đây, bạn đã gặp
một khất sĩ như thế, trong giày và
áo như thế. Hãy nhớ, Thiện Hữu
thân mến của tôi ơi, rằng thế
giới hiện tượng luôn luôn giả
tạm, kiểu áo và tóc vô cùng
tạm bợ. Ngay cả tóc và thân thể
của chúng ta cũng giả tạm nữa. Bạn
đã quan sát rất đúng. Tôi đang
mặc y phục của một người giàu,
và tôi có đầu tóc như
người thế tục, theo thời trang chỉ vì
tôi đã là một người trong số
đó.
- Và bây giờ anh là gì, Tất
Đạt?
- Tôi không biết, tôi cũng không
biết như bạn. Tôi chỉ đang đi trên
đường. Tôi đã là một
người giàu nhưng bây giờ thì
không còn nữa, và những gì sẽ
xảy ra ngày mai, tôi không biết
được.
- Anh đã mất hết của cải?
- Tôi mất chúng, hay chúng đã
mất tôi – tôi không chắc. Bánh xe
hiện tượng quay nhanh lắm, hỡi Thiện
Hữu. Đâu là Tất Đạt con
người Sa Môn, đâu là Tất
Đạt người giàu có? Cái gì
giả tạm sẽ thay đổi ngay, Thiện Hữu, bạn
cũng biết thế.
Thiện Hữu hoài nghi nhìn
người bạn ấu thời một lúc khá
lâu. Đoạn chàng cúi chào Tất
Đạt như người ta chào một
người quí tộc, và đi tiếp con
đường mình.
Mỉm cười, Tất Đạt
nhìn chàng bước đi. Tất Đạt
vẫn còn thương yêu chàng, người
bạn trung thành hay thắc mắc ấy. Và trong
lúc này, trong giờ sáng rạng sau giấc
ngủ nhiệm màu thấm nhuần tiếng
“Om” này, chàng không thể không cảm
thấy thương yêu một người hay bất
cứ một vật gì. Đó chính là
điều kỳ diệu đã đến với
chàng trong giấc ngủ với tiếng “
Tất Đạt nhìn Sa Môn ra
đi với nụ cười. Giấc ngủ đã
làm chàng sảng khoái, nhưng chàng
cảm thấy bụng đói cồn cào vì
đã không ăn gì trong hai hôm nay, và
cái thời chàng chế ngự được
cơn đói nay đã qua rồi. Chàng
nhớ lại thuở ấy một cách xao xuyến,
nhưng đồng thời cũng với một nụ
cười. Chàng nhớ hồi ấy chàng
đã tự hào ba điều với Kiều Lan,
ba nghệ thuật cao quí siêu quần: nhịn
đói, chờ đợi và suy tư. Những
điều ấy đã là sở hữu của
chàng, quyền năng của chàng, sức
mạnh của chàng. Chàng chỉ học có
ba nghệ thuật ấy và không biết
điều gì khác, suốt trong những năm
chuyên cần và kiên tâm của thời
niên thiếu. Bây giờ chàng đã
mất chúng, chàng không còn nắm
vững chúng được nữa, nhịn
đói, chờ đợi hay suy tư. Chàng
đã đổi chúng để lấy những
vật khốn nạn nhất, những vật tạm
bợ, những lạc thú cảm quan, nếp sống
thượng lưu và của cải.
Chàng đã đi theo một con
đường quái gở. Và bây giờ
dường như chàng đã nghiễm nhiên
trở thành một phàm nhân.
Tất Đạt suy nghĩ về
tình trạng của chàng. Chàng nhận
thấy rất khó suy nghĩ, và thực tình
không muốn suy nghĩ, nhưng chàng tự
bắt buộc mình.
Bây giờ, chàng nghĩ, mọi vật
phù du kia đã lại lọt qua kẽ tay ta,
một lần nữa ta lại đứng dưới
trời như một đứa trẻ. Không có
cái gì của ta, không biết gì, không
học tập được gì. Lạ lùng
biết bao!
Bây giờ, khi ta không còn trẻ nữa,
khi tóc ta trở màu, khi sức ta bắt
đầu giảm, ta bắt đầu sống lại
như một trẻ thơ. Chàng lại mỉm
cười. Vâng, định mệnh chàng kỳ
lạ thật! Chàng đang đi ngược trở
lại, và bây giờ chàng vẫn tay
không, vẫn trần truồng và dốt nát
trong vũ trụ. Nhưng chàng không buồn
vì điều đó, trái lại chàng còn
cảm thấy muốn cười lên, cười
mình, cười cuộc đời đảo
điên quái gở. Chàng tự bảo và
cười lớn: “Mọi vật đang đi lui
với mình”, và khi chàng nói như
thế, cái nhìn của chàng chiếu
sáng trên dòng sông, và chàng
thấy dòng sông cũng chảy lùi
đều đều, reo lên vui vẻ. Điều
đó làm chàng rất thích thú,
chàng mỉm cười vui vẻ với dòng
sông. Đó chẳng phải là con sông
mà một lần chàng đã ao ước
trầm mình - hằng trăm năm về
trước – hay chàng đã mơ thấy
nó?
Đời sống của chàng
thật lạ lùng, chàng nghĩ. Chàng
đã lang thang qua nhiều con đường lạ.
Khi còn là một cậu bé, tôi đam
mê thần linh và các cuộc tế lễ,
lúc trở thành thanh niên đam mê
thiền quán và khổ hạnh. Tôi đã
đi tìm Đại ngã và kính phục
cái trường cửu nơi linh hồn. Là thanh
niên tôi đã tu khổ hạnh. Tôi đã
sống trong rừng, chịu nóng lạnh, tôi
học nhịn đói, học chế ngự bản
thân. Rồi tôi khám phá những giáo
lý của đức Phật. Tôi cảm thấy
trí thức và sự nhất thể của
thế giới lưu thông trong tôi như chính
máu của tôi, nhưng tôi cũng cảm
thấy cần rời xa đức Phật và sự
hiểu biết. Tôi đi và học những
lạc thú của ái tình nơi Kiều Lan
và việc kinh doanh nơi Vạn Mỹ. Tôi
tích luỹ tiền của và tiêu hoang
nó, ăn những thức ăn ngon, và học
cách kích thích giác quan. Tôi phải
tiêu phí nhiều năm như thế để
đánh mất sự thông minh, khả năng suy
tư của tôi, để quên cái nhất tính
của sự vật. Chẳng phải tôi đã
dần dần đổi thay từ một người
đàn ông thành một đứa trẻ,
từ một người tư duy đến một
người thông thường, qua nhiều khúc
quanh hay sao? Và con đường này có
lợi và con chim trong lòng tôi đã
không chết. Nhưng chao ôi là con
đường! Tôi đã phải trải qua
quá nhiều ngu dại, quá nhiều tính
xấu, quá nhiều lầm lạc, nôn mửa,
vỡ mộng và buồn rầu, mà chỉ
để trở lại thành một đứa
trẻ. Nhưng đúng là phải như vậy.
Đôi mắt và trái tim tôi đòi
hỏi điều đó. Tôi phải chứng
nghiệm sự tuyệt vọng, tôi phải đi
vào chiều sâu thăm thẳm nhất của
tâm hồn, vào những ý tưởng tự
sát, để chứng nghiệm thánh ân,
để nghe tiếng “
Chàng tự khen mình như
thế, tự bằng lòng với mình và
lắng nghe một cách tò mò bao tử
của mình đang gào lên vì đói.
Chàng cảm thấy mình đã trút ra
một phần nỗi buồn, một phần khổ
đau của thời quá khứ, mà chàng
đã uống cạn đến độ tuyệt
vọng gần chết. Nhưng mọi sự đều
tốt đẹp. Chàng có thể sống lâu
hơn với Vạn Mỹ, làm tiền và phung
phí, nuôi dưỡng thể xác và bỏ
rơi tâm hồn, chàng đã khéo sơn
phết đó, nếu không có cái
phút hoàn toàn vô vọng và căng
thẳng khi chàng nghiêng mình trên dòng
nước chảy, sẵn sàng tự tử. Thì
cơn tuyệt vọng đó, sự buồn nôn
tột độ mà chàng trải qua đã
không thắng được chàng. Con chim,
dòng suối trong trẻo, tiếng nói trong
lòng chàng vẫn còn sống. Đó
là lý do làm chàng vui tươi, làm
chàng cười lớn, làm mặt chàng
sáng lên dưới mái tóc đã hoa
râm.
Tự mình chứng nghiệm
mọi sự là một điều hay, chàng
nghĩ. Khi còn là một đứa trẻ,
tôi đã học rằng những lạc thú
và của cải thế tục không hay ho gì.
Tôi đã biết điều ấy từ rất
lâu, nhưng tôi chỉ mới chứng nghiệm
nó vừa rồi. Bây giờ tôi biết
điều ấy không phải chỉ bằng tri
thức, mà bằng mắt tôi, bằng tim tôi
và bằng bao tử tôi.
Chàng suy nghĩ rất lâu
về sự đổi thay trong lòng chàng,
lắng nghe con chim đang hót mừng. Nếu con chim
trong lòng chàng đã chết, chàng
có chết không? Không, một cái gì
khác trong chàng đã chết, một cái
gì từ lâu chàng thèm khát đã
chết. Đó chẳng phải là cái
mà chàng từng mong phá huỷ suốt
những năm khổ hạnh của chàng đó
sao? Đó phải chăng là Tự ngã
của chàng, cái ngã nhỏ bé, sợ hãi,
kiêu căng, mà chàng đã chiến
đấu với nó bằng bao nhiêu năm,
nhưng luôn luôn nó thắng, luôn luôn
nó xuất hiện lại, để cướp
hạnh phúc của chàng, gieo cho chàng sợ
hãi? Chẳng phải nó cuối cùng
đã chết hôm nay, trong rừng, bên cạnh
dòng sông kỳ diệu này sao? Chẳng
phải vì cái chết của nó mà
bây giờ chàng giống như một đứa
trẻ, đầy hạnh phúc và niềm tin,
không hoảng sợ?
Bây giờ Tất Đạt cũng
đã nhận ra được vì sao chàng
đã chiến đấu vô vọng với
Tự ngã của chàng khi còn là một
Bà La Môn và một nhà khổ hạnh. Quá
nhiều kiến thức đã ngăn ngại
chàng, quá nhiều thánh thi, quá nhiều
lễ tế, quá nhiều ép xác, quá
nhiều cố gắng và làm lụng. Chàng
đã đầy kiêu căng, chàng đã
luôn luôn là người khôn ngoan nhất,
hăng hái nhất, luôn luôn hơn
người một bước, luôn luôn là
người trí thức, luôn luôn là
người giảng đạo hay nhà hiền
triết. Tự ngã chàng đã len lỏi
vào trong chức vị giảng đạo ấy,
vào lòng kiêu hãnh ấy, vào trí
thức ấy. Nó an vị đấy một cách
vững vàng, và tăng trưởng thêm, trong
khi chàng tưởng chàng đang huỷ hoại
nó bằng nhịn đói và sám hối.
Bây giờ chàng hiểu nó và nhận ra
rằng tiếng nói nội tâm rất
đúng, không có một bậc thầy
nào có thể đưa chàng đến
giải thoát. Đó là nguyên do vì sao
chàng đã đi vào cuộc đời,
tự đánh mất mình trong thế lực,
trong đàn bà và tiền bạc; vì sao
chàng trở thành một thương gia, một
người cờ bạc, rượu chè và
một người giàu có, cho đến khi con
người thuyết giáo và vị Sa Môn trong
chàng chết đi. Đó là nguyên do
vì sao chàng đã sống qua những năm
kinh khủng chịu đựng sự buồn nôn,
học các bài học về sự điên
rồ của một đời sống vô vị,
trống rỗng cho đến chết, cho nên khi
chàng đạt đến nỗi tuyệt vọng
đắng cay để cho Tất Đạt con
người buôn lạc thú và Tất
Đạt con người của giàu sang cũng
chết nốt. Chàng đã chết và
một Tất Đạt mới đã thức
dậy sau giấc ngủ của chàng. Chàng
cũng sẽ già và chết. Tất Đạt
là giả tạm, nhưng hôm nay chàng còn
trẻ, chàng là một đứa trẻ -
chàng Tất Đạt mới – và chàng
rất hân hoan.
Những tư tưởng đó
thoáng qua trong trí chàng. Mỉm cười,
chàng lắng nghe tiếng bao tử mình, lắng nghe
đầy cảm ơn tiếng con ong đang rì
rầm. Sung sướng chàng nhìn dòng
sông đang chảy. Chưa bao giờ một dòng
sông thu hút chàng đến thế. Chưa bao
giờ chàng tìm thấy tiếng nước
và hình ảnh dòng sông đang chảy
lại đẹp như thế. Dường như con
sông có cái gì đặc biệt
để kể với chàng, một cái gì
mà chàng không biết, một cái gì
còn chờ đợi chàng. Tất Đạt
đã có lần toan trầm mình trong
dòng nước đó, thì hôm nay
chàng Tất Đạt già cỗi, mỏi
mệt, tuyệt vọng đã chết trong ấy.
Chàng cảm thấy một tình yêu sâu
đậm đối với dòng sông đang
chảy và quyết định sẽ không rời
nó vội.
Chương chín
NGƯỜI
LÁI ĐÒ
Ta sẽ ở lại
bên con sông này, Tất Đạt nghĩ.
Cũng cùng con sông này ta đã đi qua
trên con đường về kinh thành. Một
người lái đò thân thiện
đã đưa ta sang sông. Ta sẽ đến
ông ấy. Con đường ta đi đã
một lần đưa ta từ mái chòi của
người đến một đời sống mới
mà bây giờ đã cũ và chết. Con
đường hiện tại của ta, cuộc
đời mới của ta sẽ bắt đầu
từ đây!
Chàng thương mến nhìn
dòng nước chảy, nhìn màu xanh trong
suốt, những đường pha lê vẽ nên
bức tranh thần tình trong lòng nước.
Chàng trông thấy những viên ngọc
ngời sáng nổi lên từ đáy sâu,
những bọt nước bơi lội trên tấm
gương, bầu trời trong xanh phản chiếu trong
bọt nước. Con sông nhìn chàng bằng
trăm ngàn đôi mắt – màu xanh
lục, trắng, màu pha lê, màu xanh da trời.
Chàng yêu dòng sông này biết bao,
nó thật quyến rũ và chàng đầy
cảm ơn đối với nó. Chàng nghe trong
tim tiếng nói của thức tỉnh nói với
chàng: “Hãy yêu dòng sông này,
ở bên nó và học với nó”.
Phải, chàng muốn học nơi nó, chàng
muốn lắng nghe nó. Chàng thấy dường
như ai bất cứ ai hiểu được dòng
sông và những huyền bí của nó
sẽ hiểu được nhiều điều hơn
nữa, nhiều điều huyền bí, tất
cả mọi huyền bí.
Nhưng hôm nay chàng chỉ
mới thấy một điều bí mật của
con sông, điều bí mật đã đập
mạnh vào tâm trí chàng. Chàng
thấy con sông vẫn tiếp tục chảy như
nó vẫn luôn luôn ở đấy, luôn
luôn là dòng sông ấy trước mắt
chàng, tuy nhiên mỗi lúc nó mỗi
mới. Ai có thể hiểu được, quan
niệm được điều này? Chàng
không hiểu được, chàng chỉ trực
nhận một mối hoài nghi, một ký ức
lờ mờ, và những tiếng nói thiêng
liêng.
Tất Đạt đứng dậy,
cơn đói cồn cào đang trở thành
không thể chịu được. Chàng khó
nhọc đi lang thang dọc theo bờ sông lắng
nghe tiếng nước vỗ, lắng nghe cái
đói đang vò xé thân thể
chàng.
Khi chàng đến bến, chiếc
đò đã đợi sẵn và
người lái đò đã một lần
đưa chàng Tất Đạt trai trẻ qua
sông, đang đứng trên đò. Tất
Đạt nhận ra ông ta ngay. Ông ta cũng
già đi rất nhiều.
- Nhờ ông đưa tôi sang sông.
Chàng nói. Người lái đò ngạc
nhiên thấy người đàn ông sang
trọng như thế đi bộ một mình,
mời chàng lên thuyền và rời bến,
Tất Đạt bảo:
- Ông đã chọn một cuộc sống
thần tiên. Sống bên dòng sông này
và chèo thuyền trên sông hằng ngày
hẳn là thích thú lắm.
Người lái đò đẩy nhẹ
mái chèo mỉm cười:
- Rất thú vị, đúng như ngài
nói, nhưng không phải cuộc sống nào,
công việc nào cũng thú vị cả hay
sao?
- Có lẽ, nhưng tôi thèm khát
công việc của ông.
- Ồ, ông sẽ mất hứng thú vì
nó. Nó không phải là công việc
của những người ăn mặc đẹp.
Tất Đạt cười:
- Hôm nay tôi đã bị phê bình
qua phục sức và nhìn nó với sự
nghi ngờ. Ông có thể nhận những quần
áo mà tôi thấy rất phiền phức
này không? Vì tôi phải nói với
ông rằng tôi không có tiền để
trả công ông đã đưa tôi sang sông.
Người lái đò cười lớn:
- Ông nói đùa chứ.
- Tôi không đùa, ông bạn ạ.
Trước kia đã có lần ông đưa
tôi sang sông này không lấy tiền,
vì thế hôm nay tôi cũng xin ông làm
như thế và lấy quần áo của tôi
vậy.
- Và rồi ông tiếp tục đi trần
truồng sao?
- Tôi không muốn đi thêm nữa.
Tôi muốn xin ông cho tôi một ít
đồ cũ và để tôi ở đây
như người phụ tá của ông, hay hơn
nữa người học nghề của ông, vì
tôi phải học cách lái đò.
Người lái đò đăm đăm
nhìn người khách lạ rất lâu:
- Tôi nhận ra ngài rồi. Có lần
ngài đã ngủ trong chòi của tôi.
Lâu lắm rồi, dường như hơn hai
mươi năm về trước. Tôi đưa
ngài sang sông và khi chia tay, chúng ta trở
thành đôi bạn tốt. Tôi không
thể nhớ tên ngài, có phải ngài
đã là Sa Môn không?
- Phải, lúc ấy tôi là một Sa
Môn và tên là Tất Đạt.
- Hân hạnh chào ngài Tất Đạt.
Tên tôi là Vệ Sử. Tôi mong ngài
sẽ là người khách của tôi hôm
nay và ngủ trong lều tôi, và kể tôi
nghe ngài từ đâu đến và tại sao
ngài chán y phục sang trọng của ngài.
Họ đã ra đến giữa sông
và Vệ Sử chèo mạnh hơn vì
ngược nước. Ông chèo một cách
bình thản, với hai cánh tay mạnh, vừa
nhìn về phía mũi thuyền. Tất
Đạt ngồi nhìn ông và nhớ ra
một lần vào thuở còn là Sa Môn,
chàng đã rất có thiện cảm với
người này. Khi họ đến bến, Tất
Đạt giúp ông cột thuyền. Vệ Sử
dẫn chàng vào lều, cho chàng bánh,
nước và một quả xoài. Tất Đạt
ăn tất cả một cách hoan hỉ.
Một lát sau, khi mặt trời
bắt đầu lặn, họ ngồi trên một
thân cây cạnh dòng sông và Tất
Đạt kể cho ông ta nghe về lai lịch của
chàng và cuộc sống của chàng cho
đến khi chàng gặp ông ta hôm nay, sau
giờ phút tuyệt vọng. Câu chuyện kéo
dài cho đến khuya.
Vệ Sử lắng nghe một
cách chăm chú; ông nghe tất cả những
gì về lai lịch và tuổi thơ của
chàng, về sự học của chàng, về
sự tìm kiếm của chàng về khoái
lạc và những nhu cầu của chàng. Một
trong những đức tính của người lái
đò, mà rất ít người có,
là ông biết lắng nghe. Không nói
với chàng một lời. Người kể
chuyện có cảm giác Vệ Sử nghe kỹ
từng tiếng, một cách im lặng, đợi
chờ, không bỏ sót lời nào. Ông
không thúc giục, không khen, không chê
– ông chỉ lắng nghe. Tất Đạt cảm
thấy thật là tuyệt diệu khi có một
người nghe như thể bị thu hút vào
cuộc sống của riêng chàng, những cố
gắng, những nỗi buồn riêng tư của
chàng.
Tuy nhiên, khoảng cuối câu
chuyện, khi Tất Đạt kể về cây cổ
thụ bên sông và sự tuyệt vọng
của chàng, về tiếng “Om” linh diệu,
và sau giấc ngủ, chàng yêu mến
dòng sông ra sao, người lái đò nghe
chăm chú gấp đôi và hoàn toàn
bị thu hút, đôi mắt nhắm nghiền
lại.
Khi Tất Đạt kể hết và sau một
lúc lâu im lặng, Vệ Sử nói:
- Theo tôi nghĩ, chính dòng sông
đã nói với Ngài. Nó cũng thân
thiện với ngài nữa, nó đang nói
với Ngài. Lành thay điều đó. Ở
lại đây cùng tôi, hỡi ông bạn.
Ngày xưa tôi có vợ, giường
nàng sát kề giường tôi, nhưng
giờ nàng đã chết. Tôi sống một
mình từ lâu rồi. Hãy đến ở
với tôi, có chỗ ở và thức ăn
cho cả hai chúng ta.
- Tôi cảm ơn anh, Tất Đạt nói.
Tôi cảm ơn và nhận lời anh. Tôi
cũng cám ơn anh, Vệ Sử vì anh
đã lắng nghe chuyện tôi như thế.
Rất ít người biết lắng nghe và
tôi chưa gặp ai có thể nghe như anh
đã nghe. Tôi cũng sẽ học nơi anh về
điều này.
- Anh sẽ học, nhưng không phải nơi
tôi. Chính dòng sông đã dạy
tôi cách nghe, anh cũng sẽ học nơi
nó. Dòng sông biết mọi chuyện,
người ta có thể học chuyện từ
nơi dòng sông. Anh đã học với con
sông rằng nên cố gắng lặn xuống
tìm kiếm những chiều sâu thăm thẳm
nhất. Ông Tất Đạt sang trọng giàu
có, ông Tất Đạt người Bà La
Môn trí thức sẽ trở thành ông
lái đò. Anh đã học điều
này từ dòng sông. Anh cũng sẽ học
nhiều điều khác nữa …
Sau một hồi lâu im lặng, Tất
Đạt bảo:
- Điều nào khác nữa đâu,
ông bạn?
Vệ Sử đứng lên và nói:
- Khuya rồi, ta đi nghỉ thôi. Tôi
không thể nói cho anh nghe điều khác
ấy như thế nào, bạn ạ. Anh sẽ
tìm ra, và cũng có thể anh đã
biết rồi. Tôi không phải là
người có học; tôi không biết
nói chuyện và suy tư. Tôi chỉ biết
nghe và trung thành, ngoài ra tôi không
biết gì cả. Nếu tôi có thể
nói chuyện và dạy dỗ, có lẽ
tôi đã trở thành một thầy
giáo; nhưng tôi chỉ là một
người lái đò và việc của
tôi là đưa người sang sông. Tôi
đã đưa hàng ngàn người sang
và với mọi người, con sông của
tôi không là gì cả, nó chỉ
là một chướng ngại trên
đường đi của họ. Họ đã
đi cuộc hành trình vì tiền, và
vì công việc kinh doanh, đám cưới hay
đi hành hương; dòng sông đã
cản đường họ và người lái
đò chỉ ở đó đưa họ
vượt nhanh qua trở ngại. Tuy nhiên, giữa
hàng ngàn người có một số rất
ít, bốn hay năm người không cho con
sông là chướng ngại vật. Họ
đã nghe tiếng nói của dòng sông
và chú ý, và dòng sông trở
nên linh thiêng đối với họ cũng
như đối với tôi. Bây giờ ta hãy
đi nghỉ, Tất Đạt ạ.
Tất Đạt ở lại với
người lái đò và học cách
trông coi chiếc thuyền, và khi không có
việc dưới thuyền, chàng giúp Vệ
Sử trong đồng lúa, nhặt củi, và
hái chuối. Chàng học cách chế
những chiếc chèo, sửa thuyền và đan
giỏ. Chàng vui thích với mọi công
việc và học hỏi. Ngày tháng qua nhanh.
Chàng học ở con sông nhiều hơn những
gì Vệ Sử có thể dạy chàng.
Chàng không ngừng học hỏi ở nó.
Trước hết chàng học cách lắng nghe,
nghe với một tâm hồn vắng lặng, với
một sự đợi chờ, mở hồn ra, không
dục vọng, không say mê, không phê
phán, không quan niệm.
Chàng sống hạnh phúc
với Vệ Sử và thỉnh thoảng họ trao
đổi những lời đầy suy tư. Vệ
Sử không thích nhiều lời. Tất Đạt
ít khi có thể làm cho ông ta nói
chuyện.
Một hôm, Tất Đạt hỏi ông:
- Có phải ông cũng học điều
nhiệm màu này từ dòng sông không,
rằng không có cái gì gọi là
thời gian?
Một nụ cười sáng lên trên
khuôn mặt Vệ Sử:
- Phải đấy, Tất Đạt! Có
phải là bạn muốn nói điều này
không: con sông nó ở khắp nơi cùng
một lúc, ở đại dương và ở
núi, khắp nơi, và với nó chỉ
có hiện tại, không có bóng dáng
quá khứ cũng như vị lai.
- Chính thế, Tất Đạt nói, và
khi tôi học được điều đó,
tôi ôn lại cuộc đời mình và
thấy nó cũng là một dòng sông.
Tất Đạt người con trai, Tất Đạt
người trưởng thành và Tất
Đạt ông già, chỉ tách rời nhau
bằng những cái bóng, không phải
thực tại. Những tiền kiếp của Tất
Đạt không ở trong quá khứ, cái
chết và sự trở về Đại ngã
của Tất Đạt cũng không phải ở
trong vị lai. Không có cái gì đã
là, không có cái gì sẽ là,
mọi sự đều là thực tại và
hiện tiền.
Tất Đạt nói đầy
vẻ thích thú. Sự khám phá này
làm chàng hân hoan. Không phải mọi
buồn rầu đều ở trong thời gian
đó sao? Và mọi nỗi dày vò sợ
hãi? Và thế thì phải chăng mọi
khó khăn, mọi điều xấu của thế
gian sẽ được khắc phục ngay khi ta khắc
phục được thời gian, khi ta bất chấp
nó? Chàng thích thú nói; nhưng Vệ
Sử chỉ cười tươi tắn và gật
đầu đồng ý. Ông vỗ vai chàng
và trở lại công việc.
Một bận khác khi con sông
dâng lên mùa mưa, và gầm lên
ầm ĩ, Tất Đạt nói:
- Ông bạn ơi, có phải con sông
có rất nhiều tiếng nói ấy không?
Có giọng của một vì vua, một ông
tướng, một bọt nước, một cánh
chim đêm, một người đàn bà
đau đớn và một người đàn
ông thở dài, và muôn ngàn giọng
khác?
- Thật thế, Vệ Sử gật, trong tiếng
dòng sông, có tiếng của mọi loài
đang sống.
- Và ông bạn có biết, Tất
Đạt nói tiếp, con sông nói lên
tiếng gì khi người ta có thể nghe
được cả muôn ngàn tiếng nói
của nó cùng một lúc?
Vệ Sử cười lớn vui
vẻ; ông cúi mình về phía Tất
Đạt và thì thầm vào tai chàng
tiếng “
Dần dà, nụ cười
chàng bắt đầu giống nụ cười
ông lái đò, cũng trong sáng,
đầy hạnh phúc, cũng ngời lên qua
nhiều nếp nhăn, cũng hồn nhiên và
bình thản. Nhiều lữ khách thấy họ
tưởng là hai anh em. Họ thường ngồi
với nhau trên thân cây bên bờ sông.
Họ cùng lắng nghe tiếng nước, mà
đối với họ là tiếng của cuộc
đời, tiếng của thực tại, của sự
sinh thành vĩnh viễn. Và đôi khi,
lúc lắng nghe dòng sông, họ cùng
có những tư tưởng giống nhau về
một cuộc đối thoại hôm trước, hay
về một trong những lữ khách mà số
phận và hoàn cảnh đã làm họ
suy nghĩ, hay về sự chết hay về thời
trẻ thơ. Khi dòng sông cùng lúc
nói với họ một điều hay, họ
nhìn nhau, cùng chung một ý tưởng,
cùng sung sướng vì cùng có giải
đáp giống nhau về một vấn đề.
Nhiều người qua sông cảm
thấy có cái gì toả ra từ dòng
sông và từ hai người lái đò
ấy. Một đôi khi một hành khách
nhìn một trong hai người và bắt
đầu kể về cuộc đời mình
những âu lo, tội lỗi và hỏi ý
kiến hoặc tìm lời an ủi. Có
người xin phép ở lại một buổi
chiều với họ, để lắng nghe dòng
sông. Cũng có người tò mò tìm
đến, vì nghe đồn có hai triết
nhân, phù thuỷ hay người thánh thiện
sống ở bến đò ngang. Họ hỏi hai
người nhiều câu nhưng không
được trả lời, và họ không
tìm thấy phù thuỷ hay thánh hiền
nào cả. Họ chỉ thấy hai ông già
thân thiện, có vẻ câm, hay đúng
hơn kỳ dị và ngớ ngẩn. Rồi họ
cười lớn, bảo rằng người ta thật
là nhẹ dạ, và điên rồ làm sao
khi đồn đại những tin huyễn hoặc
như kia.
Năm tháng trôi qua và
không ai đếm xỉa đến đôi
bạn. Nhưng bỗng một ngày, vài vị tu
sĩ, những đồ đệ của đức
Cồ Đàm, đến nhờ họ chèo qua
sông. Hai người lái đò được
biết những vị sư muốn về gặp sư
phụ của họ gấp, vì có tin đấng
Giác Ngộ ốm nặng và sắp nhập
Niết Bàn. Chẳng bao lâu một toán tu
sĩ khác đến, rồi một toán
khác, và những tu sĩ cũng như phần
đông hành khách, đều chỉ nói
đến đức Phật và sự Ngài
sắp mất. Và cũng như khi đi xem một
cuộc viễn chinh hay một cuộc tấn phong
hoàng đế, người ta từ tứ phía
tụ lại như những đàn ong, như bị
thu hút bởi nam châm, kéo đến chỗ
đức Phật đang nằm trên tử sàng,
nơi mà biến cố lớn đang tiếp
diễn và vị cứu tinh của một thời
đang đi vào cõi Vô cùng.
Tất Đạt nghĩ rất nhiều về
thánh sắp chết, người mà tiếng
nói đã kích động hàng nghìn
người, tiếng nói mà chàng cũng
đã một lần nghe, người mà
gương mặt thánh thiện chàng đã
một lần chiêm ngưỡng với đầy uy
phục. Chàng yêu mến nghĩ về Ngài,
nhớ đến con đường giải thoát
của Ngài, và mỉm cười nhớ lại
những lời chàng đã có lần
thốt ra với đấng Giác Ngộ khi chàng
còn là một thanh niên. Hình như
những lời nói ấy rất ngạo mạn
và hơi sờm sủa với Ngài lúc ấy.
Trong một thời gian khá lâu, chàng biết
rằng chàng không xa đức Cồ Đàm,
mặc dù chàng không thể chấp nhận
giáo lý của Ngài. Không, một kẻ
thực sự đi tìm kiếm, không thể
chấp nhận bất cứ lý thuyết nào,
nếu kẻ ấy thành tâm muốn tìm ra
một cái gì. Nhưng người tìm ra
có thể đồng ý với mọi con
đường mọi mục đích, không
gì phân rẽ người ấy với hàng
nghìn người khác sống trong vô tận
thời gian cùng thở luồng Thần khí.
Một ngày kia, khi rất nhiều người
đến viếng đức Phật sắp chết,
Kiều Lan, người kỹ nữ một thời nhan
sắc cũng đang trên đường đi
viếng. Nàng từ lâu đã giã từ
nếp sống cũ, cúng dường các tỳ
kheo của Phật mảnh vườn nàng và an
trú trong giáo lý đức Phật. Nàng
trở thành một trong những tín nữ
chuyên hành thiện bố thí. Khi nghe Phật
sắp mất, nàng đã ăn vận đơn
sơ, ra đi với con nàng. Họ đến bờ
sông, nhưng đứa con trai đã mệt
mỏi, nó muốn trở về, ăn và
nghỉ. Nó không ngừng khóc, mặt mày
tiều tuỵ. Kiều Lan phải thường dừng
lại nghỉ với nó. Nó vẫn thường
cản trở thiện chí của nàng. Nàng
phải cho nó ăn, an ủi nó, rầy la
nó. Nó không hiểu được vì sao
mẹ phải đi cuộc hành hương mệt
nhọc khốn khổ để đến một nơi
xa lạ, thăm một người thánh thiện
lạ lùng sắp chết. Thì cứ để
cho ông ấy chết đi, có can hệ gì
đến nó đâu?
Những người hành
hương cách con đò của Tất
Đạt không xa, khi cậu bé ngỏ ý
với mẹ muốn nghỉ chân. Kiều Lan
chính nàng cũng mệt và trong khi cậu con
trai ăn một trái chuối, nàng ngồi
phịch xuống đất để nghỉ, mắt lim
dim. Bỗng nàng thốt lên một tiếng đau
đớn. Cậu con trai giật mình nhìn mẹ
và thấy mặt nàng trắng bệch vì
kinh hãi. Từ dưới quần áo nàng,
một con rắn nhỏ đã cắn Kiều Lan
và đang bò đi.
Cả hai mẹ con chạy nhanh để gặp
người. Khi họ đến gần bến
đò ngang. Kiều Lan quị xuống, không
thể đi xa hơn nữa. Cậu con la cầu cứu
và hôn mẹ. Nàng cũng la lên cùng
với con, cho đến khi những tiếng kêu
của họ đến tai Vệ Sử đang
đứng cạnh con đò. Ông hối hả
chạy lại, ẵm người đàn bà mang
về thuyền. Cậu con trai chạy theo và chẳng
mấy chốc họ đã đến túp
lều trong đó Tất Đạt đang nhóm
lửa. Chàng nhìn lên và lần
đầu tiên thấy mặt đứa bé,
gương mặt mãnh liệt nhắc chàng
nhớ đến một điều gì. Quay lại,
chàng thấy Kiều Lan và nhận ra ngay, mặc
dù nàng nằm bất tỉnh trên tay
người lái đò. Rồi chàng biết
đấy chính là con chàng mà nét mặt
đã gợi cho chàng nhớ đến một
điều gì ấy. Tim chàng đập mạnh.
Vết thương của Kiều Lan
được rửa sạch nhưng nó tím
bầm và toàn thân nàng sưng lên.
Nàng uống một liều thuốc hồi
dương và tỉnh lại. Nàng nằm
giường của Tất Đạt, và chàng,
người nàng đã từng yêu dấu,
đang cúi nhìn nàng. Nàng ngỡ mình
nằm mơ, và mỉm cười nhìn vào
mặt người yêu. Dần dà nàng nhớ
lại tình trạng mình, và lo lắng
gọi con.
- Đừng lo, Tất Đạt bảo –
nó ở đây.
Kiều Lan nhìn vào mắt chàng.
Nàng khó nhọc nói năng vì nọc
độc trong thân thể.
- Anh đã già rồi, Tất Đạt
yêu quí. Tóc anh đã hoa râm, nhưng
anh giống người Sa Môn trẻ đã
đến vườn tôi trước kia, áo
quần rách rưới và chân đầy
bụi. Anh giống vị Sa Môn đó hơn khi
bỏ Vạn Mỹ và tôi. Mắt anh giống
người Sa Môn ấy, Tất Đạt. Ôi,
tôi cũng đã già, già rồi – anh
có nhận ra tôi không?
Tất Đạt mỉm cười:
- Tôi nhận ra nàng ngay, Kiều Lan yêu
quí.
Kiều Lan chỉ con nàng và bảo:
- Anh có nhận ra nó nữa không? Nó
là con anh.
Mắt nàng lạc loài rồi khép
lại. Cậu con trai bắt đầu khóc. Tất
Đạt đặt nó lên đầu gối,
để cho nó khóc và vuốt tóc
nó. Nhìn mặt đứa trẻ, chàng
nhớ lại một bài kinh Bà La Môn mà
chàng đã từng học khi còn là
một đứa trẻ. Chàng bắt đầu
chậm rãi tụng bài kinh ấy giọng
ngân nga, những lời kinh trở lại với
chàng từ dĩ vãng và thời trẻ
thơ. Đứa trẻ lặng im khi nghe chàng
tụng, nấc lên một vài tiếng nữa
rồi ngủ thiếp. Tất Đạt đặt
nó lên giường Vệ Sử. Vệ Sử
đứng nấu cơm trên bếp. Tất
Đạt nhìn ông ta, ông ta mỉm cười
với chàng.
- Nàng sắp chết, Tất Đạt nói
nhỏ.
Vệ Sử gật. Ánh lửa trong lò
phản chiếu trên gương mặt từ hoà
của ông ta.
Kiều Lan lại tỉnh. Nét mặt nàng
lộ vẻ đau đớn, Tất Đạt
đọc thấy nỗi đau đớn ấy trên
miệng nàng, trong gương mặt xanh xao của
nàng. Chàng đọc nó lặng lẽ,
chăm chú, chờ đợi chia xẻ nỗi đau
đớn của nàng. Kiều Lan cũng biết thế,
đưa mắt nhìn mắt chàng. Nàng
nói:
- Bây giờ tôi thấy mắt anh cũng thay
đổi. Chúng khác hẳn. Anh là Tất
Đạt: nhưng anh lại không giống Tất
Đạt.
Tất Đạt không nói, lặng yên
nhìn vào mắt nàng.
- Anh đã đạt đến đấy
rồi sao? Nàng hỏi – Anh đã tìm
thấy bình an?
Chàng mỉm cười và đặt
bàn tay trên tay nàng.
- Phải, nàng nói, - tôi thấy. Tôi
cũng sẽ tìm thấy bình an.
- Em đã tìm thấy nó, - Tất
Đạt thì thầm.
Kiều Lan chăm chăm nhìn
chàng. Nàng đã có ý định
đến viếng đức Cồ Đàm
để thấy mặt đấng Giác Ngộ,
để có được ít nhiều niềm
bình an của Ngài, và thay vì thế
nàng chỉ gặp chàng, và thật là
hay, cũng tốt như thể nàng đã
nhìn thấy đức Phật. Nàng muốn
bảo chàng thế, nhưng lưỡi nàng
không theo ý muốn của nàng nữa.
Lặng lẽ nàng nhìn chàng và chàng
thấy sự sống đang mất dần nơi mắt
nàng. Khi cơn đau cuối cùng thoáng qua
thân thể nàng, chàng đưa ngón tay
nhẹ khép làn mi nàng.
Chàng ngồi nhìn rất
lâu gương mặt nàng đã chết.
Rất lâu chàng nhìn miệng nàng,
chiếc miệng mệt mỏi, già nua và
đôi môi khô héo, và nhớ lại
ngày xưa thời xuân sắc của đời
nàng, chàng đã sánh đôi môi
nàng với một trái anh đào mới
cắt. Rất lâu chàng nhìn chú mục
gương mặt xanh xao của nàng, những đường
nhăn mệt mỏi và thấy mặt chàng
cũng như thế, cũng trắng, cũng chết,
và cùng lúc ấy chàng thấy mặt
chàng và nàng, trẻ trung, môi hồng,
đôi mắt tinh anh, và chàng tràn
ngập một cảm giác của hiện tại
và sự sống hiện tiền. Trong giờ
phút này chàng cảm thấy sâu xa hơn
sự bất khả huỷ diệt của mọi
cuộc sống, cái thiên thu của mỗi
giây phút.
Khi chàng đứng lên, Vệ
Sử đã sửa soạn cho chàng một
ít cơm, nhưng Tất Đạt không ăn.
Trong chuồng dê, hai người sửa lại một
ít rơm và Vệ Sử nằm xuống.
Nhưng Tất Đạt đi ra ngoài và
ngồi trước chòi suốt đêm, lắng
nghe dòng sông, lắng vào quá khứ,
để lòng chìm đắm trong mọi giai
đoạn vui buồn của đời chàng.
Thỉnh thoảng chàng đứng dậy, đi
đến cửa túp lều và lắng nghe xem
đứa trẻ có ngủ không.
Sáng sớm hôm sau, trước khi mặt trời
ló dạng, Vệ Sử ra khỏi chuồng và
tiến đến bạn.
- Anh không ngủ, - ông nói.
- Không, Vệ Sử, tôi ngồi đây
lắng nghe dòng sông. Nó đã nói
với tôi rất nhiều, nó đã cho
tôi đầy những tư tưởng lớn lao,
những tư tưởng về sự Nhất thể.
- Anh đã khổ đau, Tất Đạt,
nhưng tôi thấy rằng nỗi buồn không len
được vào tim anh.
- Không, bạn yêu quí. Tại sao tôi
lại phải buồn? Tôi đã giàu
có, hạnh phúc, và đã trở nên
giàu hơn, sung sướng hơn, tôi đã
được một món quà là đứa
con tôi.
- Tôi cũng sung sướng đón tiếp
con anh. Nhưng này, Tất Đạt, chúng ta
hãy đi làm, có rất nhiều việc.
Kiều Lan chết trên cùng chiếc giường
mà vợ tôi đã chết. Chúng ta
cũng sẽ dựng giàn hoả thiêu của
Kiều Lan trên cùng một ngọn đồi
mà tôi đã hoả táng vợ tôi.
Khi đứa con trai còn ngủ, họ dựng
dàn hoả.
Chương mười
ĐỨA CON
Sợ hãi, mếu máo, đứa con đã dự lễ an táng của mẹ; sợ hãi, buồn rầu, nó đã lắng nghe Tất Đạt chào nó là con chàng và đón mời nó trong túp lều của Vệ Sử. Suốt trong nhiều ngày, nó ngồi với một gương mặt xanh xao trên ngọn đồi nghĩa địa, nhìn ra xa, khép lòng lại, chiến đấu với định mệnh.
Tất Đạt biệt đãi nó và để nó yên, vì chàng tôn trọng nỗi buồn khổ của nó. Tất Đạt hiểu rằng con chàng không biết chàng. Nó không thể yêu chàng như một người cha. Dần dà chàng cũng thấy và nhận ra rằng đứa trẻ con mười một tuổi kia là một đứa con cưng và đã lớn lên trong tập tục của những nhà giàu, rằng nó quen với cao lương mỹ vị, giường êm nệm ấm, quen sai bảo tôi tớ. Tất Đạt hiểu rằng đứa con cưng đang buồn sầu ấy không thể bỗng chốc hài lòng với một nơi xa lạ nghèo khó. Chàng không ép nó; chàng giúp nó rất nhiều và luôn luôn dành cho nó những món ăn ngon nhất. Chàng mong thu phục được nó từ từ bằng tính kiên nhẫn, thân mật của chàng.
Chàng đã tưởng mình giàu có, hạnh phúc khi đứa con đến với chàng, nhưng thời gian qua, và nó vẫn buồn rầu, xa lạ và khi nó tỏ ra ngạo nghễ, khiêu khích chàng, khi nó không chịu làm việc, khi nó không tỏ ra kính người già cả và lại trộm trái cây của Vệ Sử, Tất Đạt bắt đầu nhận thấy rằng đứa con của chàng không đem lại hạnh phúc an vui gì, mà chỉ đem cho chàng lo buồn. Nhưng chàng yêu nó và chọn lựa lo buồn với tình yêu nó, hơn là hạnh phúc an vui mà không có nó.
Từ khi con Tất Đạt ở lại trong lều, đôi bạn bắt đầu phân công. Vệ Sử làm tất cả những công việc trên đò ngang và Tất Đạt, để được gần con, làm việc trong chòi và ngoài đồng.
Trong nhiều tháng Tất Đạt kiên tâm chờ đợi, hi vọng con chàng sẽ hiểu chàng, sẽ nhận tình yêu của chàng và đáp lại tình yêu ấy. Trong nhiều tháng Vệ Sử quan sát điều đó, chờ đợi và im lặng. Một ngày kia khi cậu bé Tất Đạt làm khổ cha nó với sự khiêu khích và tính khí khó chịu của nó đã đánh vỡ cả hai chén ăn cơm, Vệ Sử gọi riêng bạn vào buổi chiều để nói chuyện.
- Xin lỗi anh, ông nói – tôi nói với anh với tư cách một người bạn thân. Tôi có thể thấy rằng anh đang lo lắng bất hạnh. Con của anh, bạn ơi, đang quấy rầy anh và quấy rầy cả tôi nữa. Con chim non kia quen với một đời sống khác, một chiếc tổ khác. Nó không chạy trốn của cải và phố thị như anh đã trốn; nó đã phải từ giã những thứ đó một cách miễn cưỡng. Tôi đã hỏi dòng sông nhưng con sông cười, nó cười tôi và cười anh, nó cười lên rũ rượi trước sự điên rồ của chúng ta. Nước sẽ tìm đến nước, tuổi trẻ sẽ tìm đến tuổi trẻ. Con anh sẽ không sung sướng ở nơi này. Anh hãy hỏi dòng sông và lắng nghe nó nói đi.
Lo lắng, Tất Đạt nhìn vào khuôn mặt tử tế trên đấy in nhiều nếp nhăn khả ái của Vệ Sử.
- Làm sao tôi xa nó được? Chàng khẽ nói. Bạn ơi, cho tôi ít lâu đã. Tôi đang chiến đấu để được nó. Tôi có đạt đến lòng nó. Tôi sẽ thắng bằng tình yêu và kiên nhẫn. Dòng sông sẽ nói với thằng bé một ngày kia. Nó cũng sẽ được kêu gọi.
Nụ cười Vệ Sử trở nên thân mật hơn:
- Ồ, dĩ nhiên,
ông nói – nó cũng được kêu
gọi, nó cũng thuộc vào dòng sông
bất tuyệt. Nhưng anh và tôi có biết
nó sẽ được kêu gọi theo cái
gì không? Theo con đường nào, công
việc gì, nỗi buồn gì không? Nỗi
buồn của nó sẽ bao la. Lòng nó
kiêu căng sắt đá. Có lẽ nó
sẽ đau khổ nhiều, lầm lỗi nhiều,
tội lỗi nhiều và làm nhiều bất
công. Bạn ơi, nói cho tôi nghe, có
phải bạn đang giáo dục con bạn
đấy hay không? Nó có vâng lời
bạn hay không? Bạn có đánh, phạt
nó không?
- Không, Vệ Sử, tôi không làm gì
trong những chuyện ấy cả.
- Tôi biết. Bạn không cứng rắn với nó, bạn không phạt, không ra lệnh cho nó - bởi bạn biết rằng sự mềm dẻo mạnh hơn là nghiêm khắc, nước mạnh hơn đá, tình yêu mạnh hơn bạo lực. Tốt lắm, tôi khen bạn. Nhưng không phải là một lỗi của bạn hay sao, vì đã không cứng rắn với nó, không phạt nó? Bạn lại không trói buộc thằng bé với tình thương của bạn đó sao? Bạn lại không làm cho thằng bé hổ thẹn trước lòng tử tế và kiên nhẫn của bạn, và làm cho nó càng thêm khó xử đó sao? Bạn lại không bắt buộc đứa con nuông chiều ngạo nghễ ấy sống trong một chòi tranh với hai ông già ăn chuối chát, xem gạo cũng đã là cao lương, những người mà tư tưởng không đồng với nó, mà trái tim đã vắng lạnh già cỗi, đập khác nhịp với nó? Thử hỏi có phải thằng bé đã bị trói buộc và hành phạt bởi mọi thứ ấy không?
Tất Đạt bối rối nhìn xuống đất, chàng hỏi nhỏ nhẹ:
- Anh nghĩ tôi phải làm gì bây giờ?
Vệ Sử đáp:
- Trả nó về thành phố, về nhà của mẹ nó. Ở đó còn có gia nhân, giao nó cho họ, và nếu họ không còn ở đấy, giao thằng bé cho một ông thầy, không phải chỉ để giáo dục nó, mà để nó có thể gặp gỡ các đứa trẻ khác trong thế giới của nó. Có bao giờ anh nghĩ đến việc ấy chưa?
Tất Đạt trả lời buồn bã:
- Anh có thể thấy rõ lòng tôi, tôi thường nghĩ đến điều đó. Nhưng với trái tim sắt đá của nó, nó sẽ sống ra sao trong cuộc đời? Nó lại chẳng xem nó cao hơn, chẳng đắm đuối trong lạc thú và thế lực, mắc lại những lỗi lầm của cha nó đã mắc hay sao? Và cứ thế chìm đắm trong đau khổ?
Người lái đó mỉm cười. Ông nhẹ nắm tay Tất Đạt và nói:
- Hãy hỏi dòng sông về điều đó đi bạn ạ, lắng nghe dòng sông lên tiếng. Bạn có thật nghĩ rằng bạn đã phạm những điên rồ để tránh cho con bạn hay không? Bạn có thể bảo vệ cho con bạn khỏi khổ đau không? Và bằng cách nào? Bằng giáo dục, bằng cầu nguyện, bằng khuyến khích? Bạn ơi, bạn đã quên câu chuyện bổ ích về chàng Tất Đạt, đứa con trai của người Bà La Môn, và một lần bạn đã kể cho tôi nghe rồi sao? Ai đã bảo vệ Tất Đạt người Sa Môn, khỏi đau khổ, khỏi tội lỗi, khỏi sự trác táng và điên rồ? Lòng ngoan đạo của cha chàng, sự cổ võ của thầy chàng ư? Có người cha nào, thầy nào ngăn nó khỏi hư hỏng vì đời, ngăn nó sống cuộc đời của nó, ngăn nó khỏi tội lỗi, ngăn nó khỏi tự uống chén độc dược, ngăn nó tìm lấy con đường riêng. Bạn nghĩ có người sẽ tránh khỏi giẫm qua con đường ấy sao? Và người ấy có lẽ là đứa con của bạn, vì bạn muốn thấy nó tránh được buồn đau và ảo tưởng? Nhưng dầu bạn có chết mười lần vì nó, bạn cũng không thể thay đổi định mệnh nó mảy may.
Chưa bao giờ Vệ Sử nói nhiều như vậy. Chàng cám ơn Vệ Sử một cách thân mật, và xao xuyến đi về chòi, nhưng không thể nào ngủ được. Không có gì Vệ Sử nói mà chàng đã không nghĩ đến và tự biết. Nhưng mạnh hơn sự hiểu biết đó là tình yêu của chàng đối với đứa con, lòng tận tuỵ của chàng, nỗi lo sợ phải mất nó. Đã bao giờ chàng yêu ai một cách mù quáng như thế, khổ sở như thế, tuyệt vọng như thế và hạnh phúc như thế chưa?
Tất Đạt không thể làm theo ý kiến bạn chàng, chàng không thể chịu bỏ đứa con. Chàng cho phép nó điều khiển mình, thiếu lễ độ với mình. Chàng im lặng và chờ đợi. Hàng ngày, chàng nỗ lực trong tình bạn và lòng kiên nhẫn với đứa bé. Vệ Sử cũng im lặng và chờ đợi, một cách bằng hữu, thông cảm, nhẫn nại. Họ đều là những người vô địch về sự kiên tâm. Một hôm khi khuôn mặt đứa con nhắc nhở chàng nhớ đến Kiều Lan, Tất Đạt bỗng nhớ lại điều mà một lần nàng đã bảo chàng: “Chàng không thể yêu đương” nàng bảo thế và chàng đồng ý. Chàng đã tự ví mình như một vì sao, và tha nhân như những chiếc lá rụng, tuy nhiên chàng cảm thấy trong lời nói có ít nhiều trách móc. Quả thật chàng chưa bao giờ hoàn toàn say đắm kẻ khác đến điên dại. Chưa bao giờ chàng đủ khả năng làm việc đó, và đối với chàng dường như đấy là cái khác biệt lớn lao nhất giữa chàng và những người thường tình. Nhưng bây giờ từ khi có đứa con trai, Tất Đạt đã trở nên giống hệt mọi người, quá buồn khổ vì quá yêu thương. Chàng cuồng dại trong tình yêu. Bây giờ, một cách muộn màng, chàng thực nghiệm lần đầu tiên trong đời cái đam mê mạnh nhất và lạ lùng nhất. Chàng đau khổ mãnh liệt vì đam mê ấy, nhưng đồng thời nó cũng làm tâm hồn chàng mới mẻ dồi dào hơn. Chàng cảm thấy tình yêu mù quáng đó quả thật là một đam mê rất người, đó là Sinh Tử, một suối nước sâu đầy sóng gió. Cùng lúc chàng cảm thấy nó không phải là vô giá trị, trái lại, nó cũng cần thiết, và nó ở ngay trong bản chất chàng. Sự xúc cảm đó, sự đau đớn đó, những sự điên rồ đó cũng phải được chứng nghiệm.
Trong lúc đó đứa con trai để mặc cho chàng điên dại, mặc cho chàng cố gắng, mặc cho chàng nhẫn nhục trước tính khí oái oăm của nó. Đối với nó, người cha này không có gì quyến rũ, và cũng không có gì làm cho nó sợ. Người cha này là một người tốt, một người quân tử, có lẽ là một người ngoan đạo, một người thánh thiện – nhưng tất cả đó không phải là những đức tính có thể chinh phục đứa bé. Cái người cha này – người luôn luôn giam nó trong túp lều tồi tàn – gai con mắt nó, và khi ông ấy trả lời sự thô lỗ của nó bằng một nụ cười, đáp lại sự nhục mạ của nó bằng sự tử tế … thì đấy là cái mưu mẹo khả ố nhất của con cáo già. Nó muốn thà ông ấy cứ doạ nạt nó đi, xử tệ với nó đi.
Một hôm cậu bé nói ra những điều nó nghĩ và công khai chống lại cha nó. Tất Đạt bảo nó đi nhặt một ít củi. Nhưng thằng bé không rời khỏi túp lều. Nó đứng dậy, đầy thách thức và giận dữ, giậm chân bặm tay và mạnh mẽ tạt vào mặt cha nó tất cả lòng căm hờn khinh thị ôm ấp bấy lâu. Nó hét lên, mồm sủi bọt mép:
- Ông tự kiếm lấy! Tôi không phải là đầy tớ ông. Tôi biết ông không đánh tôi: ông không dám! Nhưng tôi biết ông sẽ tiếp tục phạt tôi và làm cho tôi cảm thấy bé bỏng trước sự thánh thiện và độ lượng của ông. Ông muốn cho tôi trở thành như ông, ngoan đạo, tử tế, khôn ngoan như ông. Nhưng chỉ để mà khinh bỉ ông, tôi thà trở thành một kẻ trộm, một kẻ giết người và xuống địa ngục còn hơn là giống ông. Tôi muốn giết ông. Ông không phải là cha tôi, mặc dù ông có là người yêu của mẹ tôi mấy chục lần đi nữa!
Đầy tức giận và đau khổ, cậu bé tìm lối thoát trong một tràng chửi rủa man dại hắt vào mặt cha cậu. Rồi nó bỏ chạy và đến sẩm tối mới trở về.
Sáng hôm sau cậu bé biến mất. Một cái rổ cá đựng tiền cũng mất. Tất Đạt thấy chiếc thuyền không ở bên kia bờ. Cậu bé đã cao bay xa chạy.
Vô cùng buồn thảm từ khi nghe những lời đay nghiến hôm qua của đứa con, Tất Đạt nói:
- Tôi phải đi theo nó. Một đứa trẻ không thể đi qua rừng một mình; nó sẽ gặp nguy hiểm. Chúng ta phải làm một chiếc bè, Vệ Sử ạ, để sang sông.
Vệ Sử nói:
- Chúng ta sẽ làm một chiếc bè để đi lấy lại thuyền mà cậu bé vừa lấy. Nhưng hãy để cho nó đí, bạn ạ. Nó không còn là một đứa nhỏ nữa đâu, nó biết cách tự giữ mình. Nó đang tìm đường về thành phố, và nó có lý. Đừng quên điều đó. Nó đang làm điều mà bạn đã sơ ý không làm. Nó đang tự giữ mình, đang đi con đường riêng của nó. Ồ Tất Đạt, tôi có thể thấy bạn đang đau khổ, nỗi đau khổ mà người khác sẽ cười, và chính bạn cũng sẽ cười.
Tất Đạt không
trả lời. Chàng đã sẵn sàng
cái mác trong tay và bắt đầu làm
một chiếc bè tre, và Vệ Sử giúp
chàng buộc những cây lại với nhau
bằng dây cỏ. Đoạn họ chống qua
bên kia bờ. Tất Đạt hỏi:
- Sao anh lại mang theo cái mác làm gì?
Vệ Sử đáp:
- Có thể cái chèo của chiếc thuyền đã mất.
Nhưng Tất Đạt biết bạn đang nghĩ gì – có lẽ đứa bé đã liệng cái chèo đi, hay bẻ gãy, để trả thù và đề phòng hai người đuổi theo nó. Và quả thật, không còn cái chèo trong thuyền nữa. Vệ Sử chỉ xuống đáy thuyền và mỉm cười với bạn như để nói: Anh không thấy đứa con của anh muốn gì sao? Anh không thấy rằng nó không muốn bị đuổi theo sao? Nhưng ông ta không nói thành lời, và bắt đầu làm một cái chèo mới. Tất Đạt rời bạn để đi tìm con. Vệ Sử không ngăn cản.
Tất Đạt ở trong rừng rất lâu mới thấy rằng cuộc tìm kiếm thật vô ích. Chàng nghĩ, hoặc là nó đã bỏ xa khu rừng và đã đến thành phố, hoặc nếu nó còn trên đường nó sẽ lẩn trốn người theo dõi. Và khi chàng suy nghĩ xa hơn chàng thấy không còn bận tâm về đứa con trai nữa, và thâm tâm chàng biết nó không gặp điều gì nguy hại. Mặc dù vậy, chàng vẫn tiếp tục đi, không nao núng, không phải để cứu thằng bé mà vì mong mỏi thấy lại nó. Chàng đi về phía đô thị.
Khi chàng đến con
đường rộng gần đô thành,
chàng đứng yên lặng trên lối
vào khu vườn xinh đẹp của Kiều Lan ngày
xưa, nơi chàng đã trông thấy
nàng lần đầu tiên ngồi trên
chiếc kiệu. Quá khứ dâng lên
trước mắt chàng. Chàng thấy lại
chính chàng đứng đấy, một
người Sa Môn tuổi trẻ, râu ria, áo
quần tơi tả, tóc đầy bụi. Tất
Đạt đứng rất lâu nhìn qua cổng
mở vào khu vườn. Chàng trông thấy những
nhà sư đi dạo dưới những vòm
cây đẹp. Chàng đứng đấy rất
lâu suy nghĩ, trông thấy những bức tranh
vẽ lại chuyện đời chàng. Chàng
đứng đấy rất lâu nhìn những
nhà sư, và chỉ thấy con chàng và
Kiều Lan đi dạo dưới những hàng
cây cao. Chàng thấy rõ ràng Kiều Lan
đi cùng chàng và chàng nhận cái
hôn đầu tiên của nàng. Chàng
thấy chàng đã ngạo mạn và khinh
bỉ ra sao khi ngoái nhìn những ngày Sa
Môn của chàng, hăm hở và kiêu
hãnh ra sao khi bắt đầu cuộc sống thế
tục. Chàng thấy Vạn Mỹ, những gia
nhân, những bữa tiệc, những tay cờ
bạc, những nhạc công. Chàng thấy con chim
của Kiều Lan trong chiếc lồng, chàng sống
lại tất cả những đoạn đời,
hô hấp khổ đế, trở lại già,
mệt mỏi, buồn nôn và mơ ước
được chết đi, rồi lại nghe tiếng “
Vì ung nhọt chưa
lành ngay lúc đó, nên chàng còn
buồn bã. Thay vì mục đích đã
thúc đẩy chàng đến đây
tìm kiếm đứa con, chỉ còn sự
trống rỗng trong lòng chàng. Buồn rầu,
chàng ngồi xuống. Chàng cảm thấy
một cái gì chết trong tim. Chàng không
còn thấy hạnh phúc, mục đích
nào nữa. Chàng ngồi đấy thê
lương, chờ đợi. Chàng đã
học điều này từ dòng sông: chờ
đợi, kiên nhẫn, lắng nghe. Chàng ngồi
lắng nghe trong con đường đầy bụi,
lắng nghe tim chàng đập mệt nhọc buồn
rầu và đợi chờ một tiếng nói.
Chàng phủ phục ở đấy và nghe
ngóng hàng giờ, không còn thấy
hình ảnh gì nữa, rơi vào sự
rỗng không và thả mình vào
đấy mà không tìm thấy lối ra.
Và khi chàng cảm thấy vết thương
nhức nhối, chàng thì thầm tiếng “
Một bàn tay đặt lên vai kéo chàng về thực tại. Chàng nhận ra cái vỗ vai thân mến rụt rè ấy, và tỉnh dậy. Chàng đứng lên và chào Vệ Sử, người đã đi theo chàng. Khi nhìn thấy gương mặt tử tế của Vệ Sử, nhìn những đường nhăn trên mặt khi ông ta mỉm cười, nhìn vào đôi mắt sáng của ông, chàng cũng mỉm cười. Chàng trông thấy hai trái chuối bên cạnh. Chàng nhặt lên, cho bạn một quả và ăn một. Rồi chàng lặng lẽ đi theo Vệ Sử qua khu rừng, trở về bến đò. Không ai nói đến những gì đã xảy ra, cũng không ai nhắc đến tên thằng bé hay sự đào tẩu của nó và vết thương nó gây ra. Tất Đạt đi nằm trong chiếc lều, và khi Vệ Sử đến thăm đem cho chàng cốc nước dừa, ông thấy chàng đã ngủ.
Chương mười một
Vết thương làm
đau nhói tâm can chàng khá lâu, Tất
Đạt đón nhiều hành khách sang
sông, có con cái đi theo, và chàng
không thể nhìn ai mà không sinh lòng
ganh tị với họ, không nghĩ rằng: biết
bao nhiêu người có được cái
hạnh phúc lớn lao đó - tại sao ta
lại không? Cả đến những người
ác tâm, trộm cướp, cũng có con cái,
thương yêu chúng và được
chúng thương yêu, chỉ trừ ta. Chàng
lý luận một cách vô lý và
trẻ con như thế, giống như những
người thường tình như thế.
Bây giờ chàng
nhìn đời một cách khác trước:
không quá khôn ngoan, không quá kiêu
hãnh và vì thế tò mò, thân
mật hơn. Khi chàng đưa qua sông những
nhân vật thường ngày, thương gia,
lính tráng và các bà, họ không
còn có vẻ xa lạ đối với chàng
như trước. Chàng hiểu họ, và tuy
chàng không cùng chia xẻ những ý
nghĩ và quan niệm của họ, chàng cũng
cảm thấy như họ những ước muốn
và rạo rực của sự sống. Mặc
dù chàng đã đạt đến một
mức độ cao về tự giác, và chịu
đựng nỗi ung nhọt cuối cùng của mình,
bây giờ chàng nhận thấy những
người thường tình ấy đều
là huynh đệ của chàng. Những
điều phù phiếm, những ước muốn
của họ, những sự tầm thường nơi
họ không còn phi lý đối với
chàng, chúng đã trở nên dễ
hiểu, đáng thương và còn
đáng phục là khác. Có tình
yêu mù quáng của người mẹ
đối với con, lòng kiêu hãnh
điên rồ mù quáng của người cha
đối với đứa con một, những nỗ
lực mù quáng của một người
đàn bà trẻ trong sự ăn diện
để được ngợi ca nhan sắc, tất
cả những dục vọng và thèm muốn
đơn sơ, điên rồ nhưng mãnh liệt,
say mê, đầy sức sống ấy không
còn vụn vặt, nhỏ nhen đối với
chàng nữa. Vì chúng, Tất Đạt
thấy người ta sống và làm việc
lớn, du ngoạn, chiến tranh, đau khổ và
chịu đựng một cách bao la, và chính
vì thế chàng yêu họ. Chàng thấy
cuộc đời, sức sống, Đại ngã
bất khả huỷ diệt ở trong mọi dục
vọng và yêu cầu đó. Những
người đó xứng đáng
được yêu thương kính phục trong
sự trung thành mù quáng của họ, trong sức
mạnh và lòng kiên tâm mù quáng.
Trừ một điều nhỏ ra, một điều
rất nhỏ, thì họ không thiếu cái
gì mà bậc hiền triết hay tư
tưởng gia có, và điều ấy là
sự ý thức về sự Nhất thể của
mọi cuộc đời. Nhiều lúc Tất
Đạt đâm ra nghi ngờ cả kiến thức
đó, ý tưởng đó, chẳng
hiểu nó có quan trọng đến thế hay
không, hay có lẽ nó lại cũng chỉ
là điều tự phụ trẻ con của những
nhà tư tưởng, mà có lẽ chỉ
là những đứa trẻ suy tư. Những
người trần tục ngang với những
người tư tưởng trong mọi phương
diện và thường lại còn hơn họ,
hệt như những loài vật trong lúc cần
thiết, có thể vượt hơn loài
người nhờ những động tác của
chúng kiên trì không xoay hướng.
Trong tâm hồn Tất Đạt dần dần
mọc lên và chín mùi sự hiểu
biết về khôn ngoan thực sự ra sao, và
mục đích sự tìm tòi dài lâu
của chàng. Đó không phải là
cái gì khác hơn một sự chuẩn
bị của linh hồn, một khả năng, một
bí thuật suy tư cảm nhận và hô
hấp những ý nghĩ về nhất tính trong
mọi lúc của cuộc sống. Ý nghĩ
này từ từ trưởng thành trong tâm
chàng, và nó được phản chiếu
trên nét mặt hồn nhiên già cỗi
của Vệ Sử, ý tưởng về sự
hoà điệu, tính cách hoàn bị
của thế giới ở mọi lúc, và sự
Nhất thể của vạn vật.
Nhưng vết thương vẫn đau nhói. Tất Đạt nhớ đến đứa con trai, đầy cuồng vọng và chua chát, nuôi dưỡng lòng yêu thương và cảm giác âu yếm đối với nó, để mặc cho niềm đau ray rứt, chàng quằn quại trong tất cả cuồng nhiệt của tình yêu. Ngọn lửa trong lòng chàng vẫn chưa chịu tắt.
Một ngày, khi vết thương đang đau nhói nơi chàng, Tất Đạt chèo đò qua sông, tâm can tê tái vì nỗi nhớ. Chàng lên bờ với mục đích xuống phố tìm con. Sông vẫn chảy nhẹ nhàng, thoải mái. Đấy là mùa khô ráo nhưng tiếng nước reo lên một cách kỳ dị. Con sông đang cười lớn, rõ ràng đang cười lớn! Con sông đang reo vui trong trẻo để cười người lái đò lẩm cẩm. Tất Đạt đứng lặng; chàng nghiêng mình trên làn nước để nghe rõ hơn. Chàng thấy mặt mình phản chiếu trong làn nước lặng lờ trôi, và có cái gì trong hình ảnh nhắc chàng nhớ đến một cái gì đã quên và khi chàng soi mình, chàng nhớ lại. Nét mặt chàng giống hệt nét mặt người khác, người mà chàng đã từng biết, yêu thương và sợ hãi nữa. Nét mặt giống hệt cha chàng, người Bà La Môn. Chàng nhớ khi chàng còn là một thanh niên, nào một lần chàng đã khiến cha buộc lòng phải để cho chàng đi theo những người khổ hạnh, nào chàng đã bỏ đi và không bao giờ quay trở lại. Cha chàng há đã không chịu đựng cùng một nỗi đau đớn mà giờ đây chàng đang gánh chịu vì đứa con chàng hay sao? Cha chàng há lại không chết từ lâu trong cô quạnh mà không thấy lại con mình? Chàng há không chờ đợi số phận tương tự hay sao? Đó phải chăng là một hài kịch, một điều quái gở, ngu si - sự tái diễn ấy, sự tiến hành của mọi việc trong một vòng tròn định mệnh?
Con sông cười lớn. Phải, như thế đấy. Mọi sự nếu không được chịu đựng cho đến cùng để cuối cùng kết thúc, sẽ trở lại, và những buồn khổ tương tự lại phải tiếp diễn. Tất Đạt xuống thuyền và chèo lui về chòi, nghĩ đến cha chàng, trong khi dòng sông vẫn cười chàng, và chàng thì tranh chấp với chính mình, đứng trên bờ tuyệt vọng mà không khỏi muốn cười lớn để chế nhạo mình và cả loài người. Vết thương vẫn đau nhói; chàng vẫn kháng cự lại định mệnh, vẫn chưa đạt đến bình an và chiến thắng khổ đau. Tuy thế chàng đầy hy vọng và khi trở về chòi, lòng chàng tràn ngập một ước muốn thú thật với Vệ Sử, tiết lộ mọi sự, kể hết mọi sự cho con người biết nghệ thuật nghe ấy.
Vệ Sử ngồi trong chòi đan giỏ. Ông không làm việc trên thuyền nữa, mắt ông yếu dần cũng như cánh tay và bàn tay, nhưng vẻ hồn nhiên trong sáng vẫn không đổi, vẫn chói ngời trên mặt ông ta.
Tất Đạt ngồi xuống cạnh ông già và bắt đầu kể dần dần. Chàng kể cho ông nghe hết những gì trước kia chàng chưa hề nói đến, nào chàng đã đi xuống phố, nào vết thương lòng đau nhức, nào nỗi thèm khát của chàng khi thấy những người cha hạnh phúc, nào chàng vẫn ý thức về sự điên rồ của những cảm giác như thế, của sự tranh chấp vô vọng với chính mình. Chàng nói mọi sự, chàng có thể kể hết mọi sự cho Vệ Sử, cả đến những điều đau xót nhất, chàng có thể thổ lộ tất cả. Chàng trình bày vết thương, kể cho Vệ Sử nghe về sự lẻn đi của chàng hồi đó, khi chàng chèo qua sông với mục đích lang thang trong thành phố thế nào, và thế nào con sông đã cười nhạo chàng. Khi chàng tiếp tục kể và Vệ Sử lắng nghe với một nét mặt trầm tĩnh. Tất Đạt nhận rõ hơn bao giờ hết, vẻ chú ý của Vệ Sử. Chàng cảm thấy nỗi lo âu hoảng hốt và những hy vọng thầm kín của chàng tuôn tràn qua Vệ Sử và trở về. Bày tỏ vết thương của chàng cho người nghe này chẳng khác nào tắm vết thương ấy trong dòng sông, đến khi nó trở nên mát rượi và nhập với dòng sông làm một. Khi chàng tiếp tục kể, Tất Đạt càng lúc càng cảm nhận thêm rằng đấy không còn là Vệ Sử, không còn là một người đang lắng nghe chàng nói. Chàng cảm thấy người nghe bất động này đang uống lấy những lời tự thú của chàng như một thân cây ngấm nước mưa, chàng cảm thấy con người bất động kia chính là dòng sông, là Thượng đế, là chính sự Vĩnh cữu. Khi Tất Đạt thôi nghĩ đến chính mình và vết thương, sự nhận biết về đổi thay trong Vệ Sử xâm chiếm lấy chàng, và càng nhận rõ điều này, chàng thấy nó càng ít xa lạ, càng nhận chân được rằng mọi sự đều an bài một cách tất nhiên. Vệ Sử đã từ lâu vẫn như vậy, chỉ có chàng không nhận ra đấy thôi; và kỳ thực chính chàng cũng không khác gì ông ta cả. Chàng cảm thấy chàng đang nhìn Vệ Sử như người ta nhìn Thượng đế và điều này không bền lâu. Trong thâm tâm, chàng bắt đầu từ giã Vệ Sử, trong lúc đó chàng vẫn tiếp tục nói. Khi chàng chấm dứt, Vệ Sử hướng cái nhìn yếu ớt của ông ta về phía chàng. Ông không nói, nhưng gương mặt ông lặng lẽ chiếu ra tình thương và bình an, hiểu biết và trí tuệ. Ông cầm tay Tất Đạt, dẫn chàng đến chỗ ngồi bên bờ sông, ngồi xuống cạnh chàng và mỉm cười nhìn dòng sông.
- Bạn đã nghe nó cười, ông nói. Nhưng bạn đã không nghe cho hết mọi sự. Bây giờ ta hãy lắng nghe, bạn sẽ nghe thêm nữa.
Và họ lắng nghe. Tiếng hát nhiều giọng của con sông nhẹ nhàng âm hưởng. Tất Đạt nhìn vào dòng sông và thấy nhiều hình bóng trong dòng nước trôi. Chàng thấy cha chàng, cô đơn, đang khóc lóc vì chàng; chàng thấy chính chàng, cô độc, và cũng quằn quại nhớ nhung đứa con chàng đã bỏ đi; chàng thấy con chàng cũng đơn độc, đứa con trai tiến lên dọc con đường bốc cháy vì những dục vọng của đời, mỗi người đều chú tâm vào mục đích của mình, bị ám ảnh bởi mục đích ấy, và khổ đau. Tiếng con sông thật buồn thảm. Nó hát lên với vẻ khát vọng buồn rầu, chảy về phía mục đích của nó.
- Bạn có nghe không? Cái nhìn câm lặng của Vệ Sử chợt hỏi. Tất Đạt khẽ gật.
- Lắng nghe nữa đi! – Vệ Sử thì thầm.
Tất Đạt cố gắng nghe thêm. Hình ảnh cha chàng, hình ảnh chính chàng, và hình ảnh con chàng chạy loạn xạ vào nhau. Hình ảnh Kiều Lan cũng xuất hiện và trôi đi, và hình ảnh Thiện Hữu cùng bao người khác cũng hiện lên rồi đi qua. Họ đều trở thành một phần của con sông kia. Đấy là mục đích của tất cả những người kia khao khát, thèm thuồng, đau khổ; và tiếng con sông cũng đầy cả khát vọng, đầy buồn đau ray rứt, đầy những ước muốn không được thoả lòng. Con sông tiếp tục chảy về mục đích của nó. Tất Đạt thấy con sông hấp tấp vội vàng, con sông bao gồm cả chính chàng và những người quyến thuộc cùng bao kẻ đã đi qua trong đời chàng. Tất cả những làn sóng và nước đều vội vã, khổ đau, đi về mục đích, chảy về nguồn thác, về biển, về đồng, về đại dương, và khi mỗi mục đích đạt rồi nó lại được tiếp theo mục đích khác. Nước trở thành hơi và bốc lên, trở thành mưa rồi lại rơi xuống, thành suối, nguồn, sông, lạch, và lại đổi thay, lại tuôn chảy. Nhưng tiếng của cuồng vọng đã đổi thay. Nó vẫn còn âm hưởng buồn sầu, tìm kiếm, nhưng có nhiều tiếng khác hoà theo nó, tiếng của hoan lạc, bi ai, tiếng dữ và lành, tiếng cười và tiếng khóc, hàng trăm tiếng, hàng nghìn tiếng.
Tất Đạt lắng nghe. Bây giờ chàng thật chú ý lắng nghe, hoàn toàn đăm chiêu, tâm hồn vắng lặng trống trải hoàn toàn, thu vào hết mọi sự. Chàng đã cảm thấy chàng hoàn toàn học được nghệ thuật lắng nghe. Chàng đã thường nghe tất cả những điều này trước kia, bao nhiêu âm thanh xô bồ này của con sông, nhưng hôm nay chàng nghe chúng khác lạ. Chàng không còn có thể phân biệt những thứ tiếng khác nhau nữa - tiếng vui mừng với tiếng khóc than, tiếng trẻ con với tiếng người lớn. Tất cả những thứ tiếng ấy đều thuộc vào nhau: tiếng kêu than của người khát vọng, tiếng cười của người khôn ngoan, tiếng kêu bất bình và tiếng rên la của người sắp chết. Chúng đều quyện lấy nhau, những tiếng ấy, tất cả những mục đích, tất cả những khát vọng thảm sầu, khoái lạc, lành và dữ, tất cả những thứ ấy kết thành thế nhân vũ trụ. Tất cả chúng đều là dòng biến chuyển, là khúc sinh ca. Khi Tất Đạt chú ý lắng nghe dòng sông, lắng nghe cung đàn muôn điệu ấy, khi chàng không nghe riêng rẽ nỗi buồn thảm hay tiếng cười, khi chàng không ràng buộc hồn mình với tiếng nào riêng biệt và để nó thâm nhập vào Tiểu ngã của chàng, mà trái lại, nghe tất cả những tiếng ấy, cái toàn diện, cái Nhất thể, thì lúc ấy cung đàn vĩ đại có muôn ngàn âm thanh kia chỉ bao hàm có một tiếng “Om” - tức là Toàn Thiện.
- Bạn có nghe không? Vệ Sử một lần nữa đưa mắt hỏi chàng.
Nụ cười của
Vệ Sử sáng ngời, phảng phất trên
khắp những làn nhăn của khuôn mặt
già nua, những tiếng “
Từ phút ấy Tất Đạt thôi còn chiến đấu với định mệnh. Mặt chàng sáng ngời vẻ của hiểu biết, của một người không còn va chạm với tranh chấp của những dục vọng; của người đã đi tìm thấy giải thoát, của người đã hoà đồng với dòng biến chuyển, với dòng Sống, đầy thông cảm và yêu thương, thể nhập vào dòng Sống ấy, thuộc vào cái Nhất thể của mọi sự vật.
Khi Vệ Sử đứng dậy từ chỗ ngồi trên bờ sông, khi ông nhìn vào mặt Tất Đạt và trông thấy vẻ bình an của sự liễu ngộ chiếu ngời trong mắt bạn, ông nhẹ đặt tay lên vai chàng đầy vẻ yêu thương nâng đỡ:
- Tôi đã chờ đợi giây phút này đây, bạn. Bây giờ nó đã đến, hãy để tôi đi. Tôi là Vệ Sử người chèo đò, trong một thời gian khá lâu. Giờ đây thế là xong. Tôi muốn từ biệt mái chòi, từ biệt dòng sông. Và Tất Đạt, xin từ biệt.
Tất Đạt cúi thấp mình trước người ra đi.
- Tôi hiểu – chàng đáp khẽ - bây giờ người đi vào rừng đó chăng?
- Phải, tôi sẽ vào rừng. Tôi sẽ đi vào thể Như nhất của mọi sự vật – Vệ Sử nói, mắt sáng như hào quang.
Và ông lão ra đi. Tất Đạt ngắm nhìn bạn. Lòng hân hoan, kính cẩn, chàng nhìn ông ta, thấy từ những bước đi toả ra đầy vẻ thanh tịnh bình an, gương mặt chói ngời, hình hài đầy ánh sáng.
Chương mười hai
THIỆN HỮU
Một dạo Thiện Hữu cùng với vài Sa Môn khác đến nghỉ ngơi trong khu vườn chơi mà Kiều Lan, người kỹ nữ đã dâng cúng đồ đệ của đức Phật. Chàng nghe nói về một người lái đò già bên sông, cách một ngày đường, mà nhiều người cho là hiền nhân. Khi Thiện Hữu lên đường khất thực, chàng chọn con đường ngang qua khúc sông ấy, hăm hở muốn thấy được người lái đò kia, vì tuy chàng đã sống theo giới luật và được những người sư đệ kính trọng nhờ tuổi tác và đức khiêm cung, chàng vẫn còn đang thao thức trong tâm hồn, và sự tìm tòi của chàng vẫn không được thoả mãn.
Chàng đến bờ sông và nhờ người lái đò đưa chàng qua bên kia bờ. Khi họ đã đến bến chàng nói với người lái đò:
- Ông thật tốt với những Sa Môn khất sĩ. Ông đã đưa rất nhiều chúng tôi sang sông. Thế ra ông cũng là một người đang tìm con đường chánh đạo sao?
Đôi mắt già nua của Tất Đạt thoáng hiện nụ cười khi chàng đáp:
- Người tự gọi mình là một kẻ tìm kiếm sao, hỡi thầy tỳ kheo, khi trông người cũng đã khá tuổi tác, và lại mặc áo tăng sĩ của đức Cồ Đàm?
- Tôi già nua thật, Thiện Hữu nói – nhưng tôi chưa bao giờ thôi tìm kiếm. Tôi sẽ không bao giờ thôi tìm kiếm. Đấy như là định mệnh của tôi. Tôi đoán hình như người cũng đã tìm kiếm. Người có thể nói cho tôi nghe chút đỉnh về điều đó không. Hỡi ông bạn?
Tất Đạt đáp:
- Có cái gì xứng đáng cho tôi nói với ngài đâu, trừ ra rằng ngài tìm kiếm quá nhiều, và bởi ngài tìm kiếm quá nhiều, ngài không thể nào gặp được.
- Sao lại như thế? Thiện Hữu hỏi.
- Khi một người tìm kiếm, thì thường thường anh ta chỉ thấy có điều mà anh ta tìm kiếm; và anh ta không thể gặp được cái gì, không thể thu nhận được gì, bởi anh ta chỉ nghĩ về điều anh ta đang tìm, bởi anh ta có mục đích, và bị ám ảnh vì mục đích ấy. Tìm kiếm có nghĩa là mục đích, nhưng “gặp” có nghĩa là tự do tự tại, sẵn sàng đón nhận, không có mục đích cố định nào. Hỡi người Sa Môn khả kính, có lẽ ngài quả là một người tìm tòi, vì trong khi cố đạt mục đích, ngài đã không thấy bao nhiêu sự vật trước mắt ngài.
- Tôi vẫn chưa hiểu thấu. Ngài muốn nói gì?
Tất Đạt bảo:
- Có một lần, vị Sa Môn đáng kính ơi, cách nhiều năm qua, ngài đến sông này và trông thấy một người ngủ ở đây. Ngồi bên cạnh kẻ kia trông chừng giấc ngủ cho nó, nhưng ngài lại không nhận ra kẻ đang ngủ đó là ai.
Quá ngạc nhiên, và như một người mắc phải bùa chú, vị Sa Môn trừng trừng nhìn người lái đò:
- Anh có phải là Tất Đạt không? Chàng e dè hỏi. Tôi lại không nhận ra anh lần này nữa! Tôi rất sung sướng được gặp lại anh, Tất Đạt. Rất sung sướng. Anh đã thay đổi rất nhiều, bạn ơi. Và bây giờ anh đã thành người lái đò sao?
Tất Đạt cười lớn thân mật:
- Phải, tôi đã trở thành người lái đò! Nhiều người phải thay đổi khá nhiều và mặc đủ mọi chiếc áo. Tôi là một trong những kẻ ấy, bạn. Rất hoan nghênh bạn, Thiện Hữu, xin mời bạn ở lại hôm nay trong chòi tôi.
Thiện Hữu ở lại đêm ấy trong chòi và ngủ trên chiếc giường của Vệ Sử ngày xưa. Chàng hỏi người bạn thời niên thiếu kia rất nhiều câu hỏi. Và Tất Đạt có biết bao nhiêu câu chuyện để kể cho Thiện Hữu nghe về đời chàng.
Sáng hôm sau, khi đã đến lúc từ giã, Thiện Hữu ngập ngừng bảo bạn:
- Trước khi tiếp tục lên đường, Tất Đạt, tôi muốn hỏi anh một lời nữa. Anh có một thuyết lý nào không, một niềm tin hay hiểu biết mà anh chấp trì, giúp anh sống và hành động phải lẽ?
Tất Đạt nói:
- Bạn cũng biết rồi, ngay khi còn là một thiếu niên, khi chúng ta sống với những người khổ hạnh trong rừng già, tôi đã không mấy tin vào chủ thuyết và thầy dạy, và tôi đã ngoảnh mặt đi trước những thứ ấy. Bây giờ tôi vẫn còn như thế đó, mặc dù tôi đã qua bao nhiêu người dạy dỗ. Một người kỹ nữ xinh đẹp đã là thầy tôi một thời gian khá lâu, và một thương gia giàu, một tay bạc sành sỏi. Vào một dịp khác, một người khất sĩ của đức Phật là thầy tôi. Người dừng bước du khất để ngồi bên tôi khi tôi ngủ thiếp trong khu rừng. Tôi cũng học được một ít từ người ấy và rất cám ơn người. Nhưng nhất là tôi đã học từ con sông này và từ người trước tôi, Vệ Sử. Ông quả thật là một người giản dị; ông không phải là một nhà tư tưởng, nhưng cũng trực nhận được lẽ vi diệu như đức Cồ Đàm. Ông thật là một vì thánh.
Thiện Hữu nói:
- Tất Đạt, tôi thấy dường như anh cũng còn thích đùa bỡn chút đỉnh. Tôi tin anh và biết anh đã không theo một vị thầy nào, nhưng đến cả chính anh lại không có một lý thuyết, một tư tưởng nào hay sao? Anh lại không khám phá được cho chính mình một vài tri thức giúp anh sống hay sao? Tôi sẽ rất sung sướng nếu được anh nói cho nghe về điều ấy.
Tất Đạt nói:
- Vâng, tôi đã có những ý nghĩ và hiểu biết thâu nhặt được thỉnh thoảng. Đôi khi, trong một giờ hay một ngày, tôi đã trực giác có tri thức, hệt như người ta cảm thấy sự sống trong nhịp tim. Tôi đã có nhiều ý tưởng, nhưng thật khó nói cho bạn nghe về chúng. Nhưng đây là một ý tưởng đã làm tôi chú ý, Thiện Hữu. Sự khôn ngoan không thể truyền cho kẻ khác. Trí tuệ mà một người hiền triết cố truyền lại luôn luôn nghe có vẻ điên rồ.
- Anh đùa đấy chăng? Thiện Hữu hỏi.
- Không, tôi đang nói với bạn điều mà tôi đã tìm thấy. Kiến thức có thể truyền được nhưng trí tuệ thì không. Người ta có thể tìm thấy nó, sống trong nó, được thêm sức mạnh vì nó, làm nên những phép lạ nhờ nó, nhưng người ta không thể truyền dạy nó được. Tôi đặt nghi vấn về điều này từ hồi còn trẻ, và chính nghi vấn đó đã làm cho tôi xa lánh mọi thầy học. Có một ý tưởng tôi suy ra, Thiện Hữu, mà có lẽ bạn cũng lại cho là một trò đùa hay một sự điên rồ nữa: ấy là trong mọi sự thật, điều ngược lại cũng đúng không kém. Chẳng hạn, một sự thật chỉ có thể diễn tả và gói trọn trong danh từ nếu sự thật chỉ có một mặt. Mọi điều, nếu được suy tưởng và diễn tả thành danh từ thì đều là phiến diện, chỉ là nửa phần sự thật, nó thiếu hẳn tính cách toàn vẹn, tròn đầy, nhất thể. Khi đức Phật dạy về thế giới, Ngài phải phân chia thành Khổ đế và Niết Bàn, thành Vọng và Chân, thành khổ đau và giải thoát. Người ta không thể làm khác hơn, không có phương pháp nào khác cho những người giảng dạy. Nhưng thế giới tự nó, ở trong ta và xung quanh ta, thì lại không bao giờ phiến diện. Không bao giờ một người hay một sự việc lại thuần khổ hay thuần lạc, không bao giờ một người lại thuần là thánh thiện hay thuần tội lỗi; chỉ dường như thế bởi vì chúng ta bị mắc phải một ảo tưởng rằng thời gian là một cái gì có thực. Thời gian không thực có, Thiện Hữu. Tôi đã luôn luôn trực nhận điều này. Và nếu thời gian không thực có, thì đừng tưởng tượng ngăn chia cõi đời này với cõi vô cùng, ngăn chia thiện và ác, hạnh phúc và đau khổ, tất cả cũng chỉ là một ảo tưởng …
- Sao lại như thế? Thiện Hữu hỏi, hoang mang.
- Này nhé, bạn! Tôi là một kẻ phạm tội và bạn là một kẻ phạm tội, nhưng một ngày kia người tội lỗi cũng sẽ là Đại ngã trở lại, sẽ đạt Niết Bàn, sẽ trở thành một đức Phật. Nhưng ý niệm “một ngày kia” ấy là một ảo tưởng: đấy chỉ là một sự so sánh. Kẻ tội nhân không phải đang tiến hoá, mặc dù tư tưởng ta không quan niệm khác hơn. Không, đức Phật, tiềm năng đã sẵn có trong người tội lỗi, tương lai đã ở trong hiện tại. Đức Phật tiềm tàng ấy phải được trực nhận trong người kia, trong bạn, trong tất cả mọi người. Thiện Hữu, thế giới không phải bất toàn hay đang từ từ tiến trên đường dài để đạt đến Toàn Thiện. Không, nó hoàn hảo trong mọi giây phút, mọi tội lỗi mang theo với nó sự ân xá, mọi trẻ con đã là những ông già tiềm tàng, mọi nầm non đã mang sẵn chết chóc, và trong mọi người hấp hối, đã có sự sống Vĩnh cửu. Một người không thể nào thấy được người khác đã đi bao xa, đức Phật hiện hữu trong kẻ trộm cướp và tay bạc bịp; kẻ trộm cướp hiện diện trong người Bà La Môn. Trong lúc quán tưởng sâu xa, ta có thể bất chấp thời gian tính, thấy đồng thời tất cả quá khứ, hiện tại, vị lai, và khi thấy mọi sự đều tốt, đều hoàn hảo, mọi sự đều là Đại ngã, linh hồn. Bởi thế đối với tôi dường như mọi sự vật hiện hữu đều tốt cả - chết cũng như sống, tội lỗi cũng như thánh thiện, khôn ngoan cũng như điên rồ. Mọi sự đều cần thiết, mọi sự chỉ cần sự biểu đồng tình của tôi, cái gật đầu của tôi, niềm yêu thương và thông cảm của tôi: lúc đó tất cả đều tốt đẹp đối với tôi và không gì có thể làm hại tôi nữa. Tôi đã học qua thể xác và linh hồn tôi rằng tôi cần phải phạm tội, cần phải đắm mê dục lạc, cần phải lao tâm nhọc trí kiếm tiền của, trải qua những cơn buồn nôn và xuống tận cùng hố thẳm tuyệt vọng, để mà học đừng chống chọi lại chúng, để mà học yêu thương cuộc đời, và không còn so sánh nó với một thứ thế giới tưởng tượng viễn vông do mình ao ước, không còn so sánh nó với một ảo tưởng nào về Toàn Thiện, mà trái lại để cuộc đời nguyên trạng là nó, yêu thương và vui thích được dự phần với nó. Những điều này, Thiện Hữu ơi, là vài ý tưởng trong đầu tôi.
Tất Đạt cúi xuống nâng một hòn đá khỏi mặt đất, cầm trên tay.
- Đây, - chàng nâng niu viên đá, - đây là một viên đá, và trong một thời gian nào đó có lẽ nó sẽ là đất, và từ đất trở thành cây, loài vật hay người. Trước đây có thể tôi đã nói: viên đá này chỉ là đá, nó không có giá trị, nó thuộc về thế giới vật chất trơ lì, nhưng có lẽ trong vòng biến hoá viên đá cũng có thể trở thành người và linh hồn, vật thì nó cũng quan trọng. Đấy là điều mà đáng lẽ tôi đã nghĩ. Nhưng bây giờ thì tôi lại nghĩ: hòn đá này là đá, nó cũng là loài vật, Chúa và Phật. Tôi không yêu kính nó vì nó là một vật và sẽ trở thành một vật gì khác, nhưng vì nó từ lâu đã, và mãi mãi sẽ là mọi sự. Tôi yêu nó chỉ vì nó là một hòn đá. Tôi thấy giá trị và ý nghĩa trong mọi đường vân tinh vi của nó và trong mọi lỗ hổng, trong màu vàng, màu xám, trong vẻ cứng và âm thanh của nó khi tôi gõ lên trong sự khô ráo hay ẩm ướt của bề mặt. Có những hòn đá sờ giống dầu hay xà phòng, trông giống như lá hay cát, và mỗi viên đá đều khác biệt và tôn thờ Toàn Thiện một cách riêng; mỗi viên đá đều là Đại ngã. Đồng thời nó lại cũng rất là đá, trơn như dầu hay xà phòng và chính điều đó làm tôi thích thú và thấy nó thần diệu, đáng tôn thờ. Nhưng thôi tôi không nói thêm nữa. Danh từ không diễn tả được tư tưởng bao nhiêu. Những ý tưởng luôn luôn trở nên hơi khác đi ngay khi chúng được diễn tả, chúng trở nên méo mó, đôi khi điên rồ. Tuy vậy, điều này cũng làm cho tôi thấy thú vị và có lẽ đúng, rằng cái gì có giá trị, là chân lý đối với một người, thì đối với người khác nó dường như vô nghĩa.
Thiện Hữu đã lắng nghe trong im lặng.
- Tại sao anh kể cho tôi nghe về hòn đá? Chàng hỏi sau một lúc ngập ngừng.
- Tôi không cốt làm thế. Nhưng có lẽ điều ấy chứng tỏ rằng tôi yêu hòn đá, con sông và tất cả mọi sự mà ta thấy đây và từ đó ta có thể học. Tôi có thể yêu thương một hòn đá, Thiện Hữu ạ, và một thân cây hay một mảnh vỏ cây. Đấy là sự vật, và người ta có thể yêu mến sự vật. Nhưng người ta không thể yêu mến danh từ. Vì thế, những lời giảng dạy đối với tôi thật vô dụng. Chúng không cứng, cũng không mềm, không vị - chúng không có gì ngoài ra danh từ. Có lẽ chính chúng đã ngăn cản bạn đạt đến bình an, có lẽ quá nhiều danh từ, vì cả đến sự giải thoát và đức hạnh, khổ đau và lạc, cũng chỉ là những danh từ, hỡi Thiện Hữu. Niết Bàn không phải là một sự vật, chỉ có danh từ Niết Bàn mà thôi.
Thiện Hữu:
- Niết Bàn không chỉ là một danh từ, Tất Đạt. Đó là một ý tưởng.
Tất Đạt tiếp:
- Nó có thể là một ý tưởng, nhưng tôi phải thú thật với bạn rằng tôi không phân biệt mấy giữa ý tưởng và danh từ. Thành thật mà nói, tôi cũng không gán cho ý tưởng nhiều quan trọng nữa. Tôi quan tâm đến sự vật nhiều hơn. Chẳng hạn, có một người ở trên khúc sông này đã là tiên phong của tôi và thầy tôi. Ông ta là một người thánh thiện trong bao nhiêu năm đã chỉ tin vào dòng sông, và không tin gì khác. Ông ta để ý rằng tiếng con sông đang nói với ông ta. Ông ta học từ nó, nó dạy dỗ, giáo dục ông ta. Con sông đối với ông ta như một Thượng đế, mà trong nhiều năm ông không biết rằng mỗi làn gió, mỗi một đám mây, mỗi thân chim, mỗi con bọ cũng đều thần tiên không kém, hiểu biết và có thể dạy cho ta hệt như dòng sông mà ông tôn sùng. Nhưng khi người thánh thiện ấy bỏ đi vào rừng, ông ta biết hết mọi sự, ông biết hơn cả bạn và tôi, mà không cần thầy hay sách vở, chỉ vì ông ta tin tưởng ở dòng sông.
Thiện Hữu nói:
- Nhưng cái mà anh gọi là “sự vật” ấy, nó có phải là một cái gì có thật hay không, một cái gì thực hữu nội tại! Nó lại không chỉ là ảo ảnh của phù trần, hình bóng, hiện tượng mà thôi hay sao? Hòn đá của anh, cây cối của anh, - chúng có thực hay không?
- Điều đó cũng không làm tôi bận tâm mảy may – Tất Đạt nói. Nếu chúng là ảo tưởng thì tôi cũng là ảo tưởng, và như thế chúng luôn luôn đồng một tính chất với tôi. Chính điều này làm cho chúng đáng kính đáng yêu biết mấy. Chính vì thế mà tôi có thể yêu chúng. Và đây là lý thuyết sẽ làm cho bạn cười nữa, Thiện Hữu. Ấy là, với tôi, dường như thương yêu là điều quan trọng nhất trên đời. Những tư tưởng gia vĩ đại có thể đặt nặng vấn đề tìm hiểu vũ trụ nhân sinh, giảng giải và khinh bỉ nó. Nhưng tôi nghĩ chỉ có một điều quan trọng là yêu thương thế giới, không phải khinh bỉ nó, không thù ghét nhau mà phải nhìn thế giới và nhìn chính chúng ta cùng mọi sự vật với lòng yêu thương và kính trọng.
- Tôi hiểu điều đó, Thiện Hữu bảo. Nhưng đây chính là cái mà đấng Giác Ngộ gọi là vọng tưởng. Ngài dạy lẽ độ lượng, nhẫn nhục, từ bi … nhưng không dạy yêu thương. Ngài giới răn chúng ta không được trói buộc mình vào những tình yêu thế tục.
- Tôi hiểu, Tất Đạt nói, nụ cười chàng sáng ngời hào quang, - tôi hiểu, Thiện Hữu, và đây chúng ta lại đang rối ren vì nghĩa danh từ, lọt vào trong sự tranh chấp của những tiếng, lời, vì tôi không phủ nhận rằng danh từ của tôi về yêu thương thật là trái ngược với những lời chỉ dạy của đức Cồ Đàm. Chính vì thế mà tôi khinh thường danh từ thế đó, Thiện Hữu, vì tôi biết mâu thuẫn kia chỉ là một ảo tưởng. Tôi biết ý tôi không mâu thuẫn với đức Phật. Thật vậy, làm sao Ngài có thể không biết đến Tình Yêu; Ngài, người đã trực nhận mọi sự phù phiếm giả tạo của nhân sinh, nhưng mặc dù vậy, Ngài vẫn yêu nhân loại đến độ đã tận tuỵ một đời chỉ để giúp đỡ và giáo dục con người? Với bậc thầy cao cả này, cũng thế, tôi xem sự vật quan trọng hơn danh từ, hành động và đời sống của Ngài đối với tôi quan trọng hơn lời của Ngài, cử động của bàn tay Ngài đối với tôi quan trọng hơn quan niệm của Ngài. Không phải vì lời nói hay tư tưởng của Ngài mà tôi xem Ngài là một vĩ nhân, mà chính là hành vi và nếp sống của Ngài.
Hai người im lặng một lúc lâu. Khi Thiện Hữu sửa soạn từ giã, chàng nói:
- Cám ơn anh đã nói cho tôi nghe những ý tưởng của anh, Tất Đạt. Một vài ý tưởng thật là quái lạ. Tôi không thể nắm vững được chúng ngay. Tuy nhiên, cảm ơn anh và chúc anh hưởng nhiều ngày bình an.
Nhưng trong thâm tâm, chàng lại nghĩ: Tất Đạt thật là một người lạ lùng, diễn tả những tư tưởng kỳ dị, có vẻ điên rồ. Thật là khác với những lời của Thế Tôn biết bao! Lời Thế Tôn thì bao giờ cũng sáng sủa, trực tiếp, hiểu được ngay; không có gì là kỳ dị, quái gở hay đáng cười. Nhưng tay chân Tất Đạt, mắt chàng, vừng trán chàng, hơi thở, nụ cười chàng, cái chào của chàng, dáng điệu của chàng có ảnh hưởng nơi ta khác với những tư tưởng của chàng. Từ ngày Thế Tôn nhập Niết Bàn, chưa bao giờ ta gặp được một người, trừ Tất Đạt, mà về người ấy ta nghĩ: đây chính thực là một người thánh thiện! Ý nghĩ anh ta có thể quái dị, lời lẽ anh ta có vẻ điên rồ, nhưng cái nhìn, bàn tay anh, da thịt anh, tất cả toả ngời sự trong sáng, thanh bình, hiền hoà, thánh thiện mà ta chưa hề thấy ở nơi nào bất cứ một người nào từ khi vị thầy Giác Ngộ của ta khuất bóng.
Khi Thiện Hữu đang có những tư tưởng ngổn ngang đối chọi ấy, chàng lại cúi chào Tất Đạt đầy trìu mến đối với chàng. Thiện Hữu cúi thấp trước con người đang ngồi trầm tĩnh.
- Tất Đạt, Thiện Hữu bảo – bây giờ chúng ta đã là những ông già. Có thể chúng ta sẽ không bao giờ gặp lại nhau trên đời này nữa. Tôi có thể thấy được, hỡi bạn thân yêu, rằng anh đã tìm thấy bình an. Tôi nhận rằng tôi đã không tìm thấy nó. Nói cho tôi nghe thêm một lần nữa, hỡi người bạn kính yêu, hãy nói cho tôi nghe một điều mà tôi có thể hiểu được! Cho tôi một điều gì để giúp tôi trên đường đi, hỡi Tất Đạt! Đường tôi đi thường gian nan và tăm tối.
Tất Đạt lặng yên nhìn Thiện Hữu với nụ cười trầm tĩnh thanh bình của chàng. Thiện Hữu nhìn chăm chăm vào mặt chàng, lo ngại, khát khao. Cái nhìn của Thiện Hữu in dấu niềm đau khổ, sự tìm kiếm không ngừng, và luôn luôn thất bại. Tất Đạt thấy rõ điều ấy và mỉm cười:
- Cúi gần tôi! – Chàng thì thầm bên tai Thiện Hữu. Nào, đến gần hơn nữa, sát lại gần, hãy hôn lên trán tôi đi, Thiện Hữu!
Mặc dù ngạc nhiên, chàng do một tình thương lớn thúc đẩy, phải vâng lời Tất Đạt. Chàng cúi sát gần Tất Đạt và kề môi vào vừng trán. Một cái gì thần diệu xảy đến với chàng. Khi chàng đang còn vương vấn vì những nỗi kỳ dị của Tất Đạt, khi chàng nhọc công khổ trí một cách vô hiệu để đuổi xa ý niệm thời gian, để tưởng tượng Niết Bàn và Khổ đế là một, khi cả đến một ý niệm khinh bỉ đối với lời lẽ của bạn đang mâu thuẫn với một niềm yêu thương kính phục vô bờ, thì điều kỳ diệu ấy xảy đến với chàng. Thay vào đấy, chàng thấy những nét mặt khác, nhiều nét mặt, cả một loạt, một dòng liên tiếp những nét mặt, trăm ngàn nét mặt, chợt hiện rồi chợt biến, nhưng đồng thời cũng dường như đều ở đấy, thay đổi không ngừng và mới lạ luôn luôn, tuy thế tất cả đều là Tất Đạt. Chàng thấy mặt mày một con cá, một con cá đang hấp hối với đôi mắt nhắm nghiền. Chàng thấy nét mặt hài nhi mới sinh, đỏ hỏn và nhăn nheo, chợt khóc. Chàng thấy nét mặt một kẻ sát nhân, thấy anh ta thọc dao vào thân thể một người, đồng thời chàng thấy kẻ tội nhân kia quì gối, bị trói và chiếc đầu bị chặt đứt do một người đao phủ. Chàng thấy những thân thể trần truồng của đàn ông và đàn bà trong dáng điệu và trong cơn cuồng nhiệt của yêu đương. Chàng thấy những thi thể duỗi dài, cứng đờ, lạnh giá, trống trải. Chàng thấy những đầu thú vật, beo, cá sấu, voi, bò, chim chóc. Chàng thấy thần Sáng tạo và thần Huỷ diệt. Chàng thấy tất cả những hình dáng, nét mặt kia trong muôn ngàn tương quan với nhau, tất cả đều hỗ trợ nhau, yêu, ghét, huỷ diệt nhau và trở lại sơ sinh. Mỗi dáng hình đều đi đến cái chết, đều là những biểu hiện say đắm, khổ đau của luật vô thường. Tuy thế, không có một hình hài nào là chết hẳn, chúng chỉ biến hoá, luôn luôn tái sinh, luôn luôn có một bộ mặt mới: chỉ có thời gian đứng giữa nét mặt này với nét mặt khác. Và tất cả những hình hài và dáng mặt này nghỉ ngơi, tuôn chảy, sinh hoá trôi qua và hoà lẫn vào nhau, và trên tất cả những hình hài đó, luôn luôn có một cái gì mong manh, hư ảo, tuy nhiên vẫn hiện hữu, phủ lên như một làn băng giá mỏng, như một làn da trong suốt, một lớp vỏ, một dáng hình hay mặt nạ bằng nước – và chiếc mặt nạ kia là nét mặt tươi cười của Tất Đạt, mà chàng đang đặt môi hôn. Và Thiện Hữu thấy rằng nụ cười phớt trên bao nhiêu hình hài ẩn nấp kia, nụ cười của sự Nhất thể phảng phất trên bao hình hài tuôn chảy, nụ cười của sự Đồng thời ở trong muôn ngàn cái Sinh và Tử - trong sinh có tử và ngược lại - nụ cười của Tất Đạt, chính thực là nụ cười trầm tĩnh, sâu xa, khôn dò, nụ cười có vẻ ban ân vừa có vẻ chế diễu, nụ cười Trí tuệ, nụ cười muôn mặt của Thế Tôn, đức Phật, mà chàng đã bao lần nhìn thấy, lòng tràn đầy uy phục. Thiện Hữu biết rõ nụ cười kia chính là nụ cười của đấng Toàn Giác.
Không còn biết nữa thời gian có hiện hữu hay không, cảnh trước mắt đã hiện ra trong một giây hay tròn thế kỷ, không còn biết nữa đấy là Tất Đạt hay đức Thế Tôn, một Tiểu ngã hay cái gì khác, Thiện Hữu như vừa nhận mũi tên thần diệu đâm sâu vào trong chàng đem lại cho chàng niềm hân hoan. Vô cùng mừng rỡ, Thiện Hữu vẫn đứng một lúc, nghiêng mình trên nét mặt bình an của Tất Đạt mà chàng vừa hôn lên, nét mặt đã là sân khấu cho tất cả những hình hài hiện tại, vị lai. Vẻ mặt chàng không đổi sau khi làn gương của muôn ngàn hình sắc đã biến mất. Tất Đạt mỉm cười bình an, hiền từ, nụ cười có vẻ đầy ân huệ, cũng có vẻ đầy châm biếm, hệt như đấng Giác Ngộ đã cười.
Thiện Hữu cúi thấp. Những giọt nước mắt khôn ngăn rỉ xuống gương mặt già nua. Chàng thấy tràn ngập một cảm giác yêu thương lớn rộng, tràn ngập niềm kính cẩn. Chàng phủ phục quì trước con người đang ngồi bất động, mà nụ cười nhắc chàng nhớ đến mọi sự chàng đã từng yêu thương trong cuộc sống, mọi giá trị và thánh thiện trong đời chàng.
Hết
Trích
từ nguồn : Quảng Đức.com
Source:
http://www.vietpen.net
Trình
bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-07-2003