|
CÁM ƠN ĐỜI
Lê
Đàn
Nguồn: Báo
Giác Ngộ số 469 – 470
Mùa
Xuân tới dạt dào sức sống mới. Nắng ấm về phơi phới cuộc đời
tươi. Gió xôn xao gió hỏi chào em bé áo mới tung tăng như chim
sáo trên đường. Giữa ruộng liền bờ lá lúa cứa chân mà lòng em cứ
vui khấp khởi. Xuân có khác chỉ để mắt nhìn rạng rỡ, cây cối đâm
chồi nẩy lộc non tơ. Xuân ùa vào câu đối đỏ nhà ai: “Tứ
phương chiêu tài hỷ thiên hộ / Bát lộ tiến bảo phú vạn gia”. (Bốn
hướng tiền vào vui ngàn chủ / Tám đường của tới phú vạn nhà).
Nhà nhà mọi thứ đều được sửa sang làm mới. Người người tạm gác
công việc thường ngày để đoàn tụ sum họp gia đình vui tết đón
xuấn bằng bộ mặt vui vẻ yêu đời. Lắng nghe mùa xuân về rộn rã
trong nắng xuân hồng ban mai có rất nhiều tiếng cười hơn mọi
ngày trong lời chúc mừng năm mới. Ngoài ước mong tài lộc, người
ta còn mong sao cho: “Suốt bốn mùa thư thái, thu tự tại ung
dung, đông thong dong hùng tráng / Sang năm mới trẻ trung, xuân
oai phong lịch lãm, hạ thanh thản an cư”.
Lịch treo tường đã thay mới, hai chữ Kỷ Sửu màu đỏ nổi bật trên
bức tranh chăn trâu Đông Hồ, có thêm năm chữ Nho màu đen nằm dọc
một bên chú thích cho bức tranh: “Kỳ điệp cái thanh thanh” (Kỳ
điệp: lá sen; cái: sáo; thanh thanh: âm thanh, trời xanh). Em bé
chăn trâu, một lá sen che đầu, một lá sen lót ngồi thổi sáo trên
lưng trâu to đùng; trâu ngếch tai lên trời xanh nghe tiếng sáo
thanh tao. Hình ảnh quen thuộc con trâu bước chậm rãi trên con
đường quê chiều vàng, có chiếc cầu ao, có cây đa bến nước con đò,
có bà mẹ già ngồi bên mái tranh nghèo vương khói lam chiều bay
lên theo mây trắng lững lờ trôi tít tắp về phía chân trời xa.
Một khung cảnh làng quê thanh bình tuyệt đẹp! Vẫn như còn vẳng
đâu đây câu hát cũ ngày xưa: “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu
sướng lắm chứ! Ngồi mình trâu phất ngọn cờ lau và miệng hát
nghêu ngao, vui thú không quên học đâu…”. Em bé chăn trâu trong
bài hát còn bé lắm, em mới vào lớp một đang học đánh vần i tờ,
em rất yêu đàn trâu của mình. Mẹ kể rằng ngày xửa ngày xưa lâu
lắm rồi, hồi ấy trâu biết nói. Một hôm em bé chăn trâu mãi ham
chơi quên mở dây cho trâu đi ăn. Đến chiều tối hoảng quá, em bèn
lấy mo cau và đất sét đắp vào bụng trâu hòng qua mặt chủ. Nhưng
trâu đã thực thà nói hết sự thật với ông chủ: “No chi mà no,
trong mo ngoài đất sét”. Trâu đành phải lên tiếng như vậy để ông
chủ cho trâu ăn chút gì đó đỡ đói lòng, vì ngày mai trâu còn
phải kéo cày. Trâu không thể làm cái công việc nặng nhọc ấy với
cái bụng rỗng không. Em bé tuy bị đánh đòn vài roi nhưng em
không hề giận trâu tí nào cả.
Đây là câu chuyện cổ tích người xưa đặt ra để nhắn nhủ các em bé
chăn trâu biết quý trọng trâu nhiều hơn nữa vì “Con trâu là đầu
cơ nghiệp”, con trâu là người bạn tâm tình: “Trâu ơi ta bảo trâu
này / Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta / Cấy cày vốn nghiệp
nông gia / Ta đây trâu đấy ai mà quản công”. Trâu hiểu được lời
tâm tình này chắc cũng mát ruột mát gan lắm ha!
Tuy to xác như vậy nhưng trau rất hiền lành siêng năng cày bừa
đồng gần đồng xa, ruộng sâu ruộng cạn; hết vụ này sang vụ khác,
hết năm nọ tới năm kia, trâu không hề kêu ca phàn nàn dù thỉnh
thoảng chịu chút roi vọt trên mỗi đường cày.
Công
việc chăn trâu chỉ cần giao cho em bé, trâu đâu có cần gì ngoài
cỏ và nước lã, hai thứ ấy khỏi mất tiền mua, chỉ cần cho trâu ăn
uống no đủ là trâu có thể sống khỏe mạnh để cày bừa. Thấy thì
rất dễ, nhưng chăn trâu là cả một nghệ thuật. Trong tác phẩm
Đường xưa mây trắng của thiền sư Nhất Hạnh (sách được xếp vị trí
thứ 12 trong 40 quyển cuốn sách được bình chọn hay nhất thế kỷ
XX). Thầy Nhất Hạnh đã kể cuộc đời của Bụt qua cái nhìn của một
em bé chăn trâu tên là Svastika. Svastika bất ngờ được gặp Bụt
lúc đó là một đạo sĩ đang tọa thiền dưới gốc cây bên bờ sông. Bị
hấp dẫn bởi nụ cười hiền hậu của vị đạo sĩ và cách đối xử ân cần
của Ngài đối với một người thuộc giai cấp tiện dân, Svastika cắt
cỏ cúng dường đạo sĩ làm gối thiền và lót chỗ ngủ. Về sau,
Svastika là người đầu tiên gặp Bụt và là người hầu chuyện với
Bụt khi Ngài thành đạo. Qua Svastika, Bụt đã biết được nghệ
thuật chăn trâu: “Một em bé chăn trâu giỏi là một em bé có thể
dễ dàng nhận ra được trâu của mình, biết hình tướng mỗi con,
biết cách cọ xát tắm rửa cho trâu, biết cách chăm sóc những vết
thương của trâu, biết đốt khói un để trâu không bị muỗi đốt,
biết tìm đường đi an toàn cho trâu, biết thương yêu trâu, biết
tìm bến tốt cho trâu qua sông, biết tìm chỗ có cỏ non và nước
uống cho trâu, biết bảo trì những vùng thả trâu và cuối cùng là
biết để cho những con trâu lớn hơn làm gương cho những con trâu
nhỏ”.
Từ
nghệ thuật chăn trâu của em bé Svastika, Bụt đã có một bài pháp
để chỉ dạy cho các vị khất sĩ: “Một vị khất sĩ giỏi cũng phải
làm tương tự như em bé chăn trâu. Nếu em bé chăn trâu nhận ra
được trâu nào của mình thì người xuất gia cũng phải biết nhận ra
được những yếu tố tạo ra sắc thân của mình. Nếu em bé chăn trâu
biết được hình tướng của mỗi con trâu trong đàn trâu của mình
thì người xuất gia cũng phải thấy được những hành động nào của
thân của miệng và của ý là những hành động đáng làm và những
hành động không đáng làm. Nếu một em bé chăn trâu biết cách cọ
xát tắm rửa cho trâu thì người xuất gia cũng phải biết buông xả
và gột rửa khỏi thân tâm những tham dục si mê và hờn oán. Nếu em
bé chăn trâu biết cách chăm sóc chăm sóc những vết thương của
trâu thì người xuất gia cũng phải biết trì sáu căn của mình là
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý để cho sáu đối tượng tức là sáu
trần không thể lung lạc được mình. Nếu em bé chăn trâu biết cách
đốt khói un trâu để trâu khỏi bị muỗi đốt thì người xuất gia
cũng phải biết đem đạo lý giải thoát để dạy cho người xung quanh
để họ tránh được những khổ đau dằn vặt trong thân tâm họ. Nếu
em bé chăn trâu biết tìm đường đi an toàn cho trâu thì người
xuất gia cũng phải biết tránh những con đường đưa tới danh lợi,
quán rượu và hý trường. Nếu em bé chăn trâu biết thương yêu trâu
thì người xuất gia cũng phải biết quý trọng những niềm vui do
thiền tập đưa tới. Nếu em bé chăn trâu biết tìm bến tốt cho trâu
qua sông thì người xuất gia cũng phải biết nương tựa cà diệu lý
bốn sự thật để biết bến biết bờ. Nếu em bé chăn trâu biết tìm
chỗ có cỏ non và nước uống cho trâu thì người xuất gia cũng phải
biết rằng bốn lãnh vực quán niệm là mảnh đất tốt nhất để làm
phát sinh giải thoát. Nếu em bé chăn trâu biết bảo trì những
vùng đất thả trâu, không tàn hại phá phách môi trường nuôi trâu
thì người xuất gia cũng phải cẩn thận và dè dặt trong việc tiếp
xúc với quần chúng và thu nhận của cúng dường. Nếu em bé chăn
trâu biết dùng những con trâu lớn trong đàn làm gương cho những
con trâu con thì người xuất gia cũng phải biết nương tựa vào đức
hạnh và kinh nghiệm của các bậc thầy đi trước” (Nghệ thuật chăn
trâu – Đường xưa mây trắng – Thiền sư Nhất Hạnh).
Bài
pháp này Bụt dạy cho người xuất gia, nhưng cũng rất bổ ích cho
những người Phật tử tại gia trong việc tu tập. Sự tu học cũng
giống như việc chăn trâu. Nếu không đi theo con đường có bông
hoa Chánh đạo thì sẽ bị “ma quỷ chận đường” gây thương tích
trong thân thể và tâm hồn. Những vết thương do các độc tố tham
sân si làm ung thối sẽ có thể làm hỏng cả sự nghiệp giác ngộ.
Như em bé chăn trâu, nếu lỡ chọn con đường không an toàn, có quá
nhiều gai góc thì trâu có thể sẽ bị thương, những vết thương sẽ
làm độc, nếu em bé không biết cách chữa trị thì trâu có thể bị
nguy hiểm đến tính mạng.
Chuyện chăn trâu được những thiền sư ngày xưa vẽ thành tranh để
phản ảnh nhiều khuynh hướng khác nhau trong việc tu tập. Có
nhiều bộ tranh Thập mục ngưu đồ khác nhau. Hiện nay được truyền
tụng nhiều nhất là tranh của hai họa sĩ áo nâu Thanh Cư và Quách
Am, có thể xếp thành hai loại:
-
Tranh chăn trâu theo khuynh hướng Thiền tông gồm có mười
bức:
1.
Tìm trâu; 2. Thấy dấu; 3. Thấy trâu; 4. Được trâu; 5.
Chăn trâu; 6.Cưỡi trâu về nhà;
7.
Quên trâu còn người; 8. Người trâu đều quên; 9.Trở về
nguồn cội; 10. Thỏng tay vào chợ.
- Tranh chăn trâu theo khuynh hướng Đại thừa gồm có mười bức:
1.
Chưa chăn; 2. Mới chăn; 3. Chịu phép; 4.Quay đầu; 5. Ngoan ngoãn;
6. Không ngại; 7. Tha hồ; 8. Cùng quên; 9. Riêng soi; 10. Dứt cả
hai
Dưới
những bức tranh Thiền tông có bài tụng của Thiền sư Tắc Công và
dưới tranh Đại thừa có bài tụng của Thiền sư Phổ Minh để diễn
giải cho những bức tranh. Như bức tranh chăn trâu Thiền Tông số
5 có tên: Chăn trâu. Bức tranh này vẽ hình em bé chăn trâu tay
cầm roi dắt trâu với bài tụng như sau
Tiên sách thời thời bất ly thân
Khủng y túng bộ nhập ai trần
Tương tương mục đắc thuần hòa dã
Ky
tỏa vô ức tự trục nhân
Dịch:
(Nắm chặt dây roi chẳng lìa thân
Ngại y chạy sổng vào bụi trần
Chăm chăm chăn giữ thuần hòa dã
Dây mũi buông rồi vẫn treo gần).
Hoặc
bức tranh chăn trâu Đại thừa số 5 có tên: Ngoan ngoãn. Bức tranh
này vẽ hình em bé chăn trâu tay cầm roi dây đứng cạnh con trâu
ngoan ngoãn, với bài tụng như sau:
Lục dương âm hạ cổ khê biên
Phóng khứ thâu lai đắc tự nhiên
Nhật mộ bích vân phương thảo địa
Mục đồng quy khứ bất tu khuyên
Dịch:
(Dương
xanh bóng mứt tựa bờ khe
Kéo lại buông đi thấy nhẹ ghê
Mây biếc trời chiều thơm cỏ thảo
Mục đồng thư thả bước theo về)
Trong việc tiến tu, những bức tranh chăn trâu giúp cho người tu
thấy rõ sự tu tập của mình đã đi tới đâu, qua đến giai đoạn nào.
Giai đoạn đầu rất khổ nhọc, vượt qua được giai đoạn đầu người tu
sẽ có một giai đoạn nhàn hạ để tiến tới giai đoạn công phu viên
mãn. Nếu không biết mình tu đến đâu thì người tu thường vấp phải
lỗi là tu mà không biết mình có tiến bộ hay không. Hiểu được
tranh chăn trâu rồi, người tu có thể biết được chặng đường mình
đi qua, để có niềm tin vươn tới những chặng đường tiếp theo phía
trước thanh thản an vui đầy hoa thơm cỏ lạ.
Nói
đến trâu ai cũng có một cảm tình hết sức đặc biệt dành cho con
vật quen thuộc gần gũi với con người. Con người cũng phải mang
ơn con trâu rất nhiều, trâu cày bừa góp phần làm nên hạt lúa,
ngô khoai nuôi sống con người. Nếu không có trâu cày thì con
người sẽ vất vả biết chừng nào! Vì vậy không ai mà không thương
chú trâu hiền lành chăm chỉ. Chỉ một vài nơi vẫn còn những tục
lệ như lễ hội chọi trâu, lễ hội đâm trâu làm tổn thương đến họ
nhà trâu. May sao số người làm hại trâu không nhiều, trâu vẫn
còn rất may mắn, trâu được dùng làm biểu tượng cho Seagames 22 (
chú trâu vàng ) tổ chức tại Việt Nam năm 2005. Năm Kỷ Sửu (2009)
là năm con trâu đầu tiên của thế kỷ XXI, đất nước được ăn ba
mươi cái tết hoà bình, không còn những năm tháng chiến tranh
khốc liệt, mọi người hy vọng năm con trâu là năm mưa thuận gió
hoà, được mùa no ấm.
“Đêm
ba mươi lắng nghe hồi chuông Bát Nhã, trút hết gánh âu lo, tâm
nhẹ nhàng hỷ xả / Sáng mồng một lễ nguyện cầu quốc thái dân an,
ôm cả trời chánh niệm, lòng thư thái hân hoan”.
Đọc câu đối tết nhớ mẹ hiền, sau khi cúng giao thừa mẹ dặn các
con: “Sáng mồng một Tết dậy sớm đi viếng mộ thắp hương ông bà
tổ tiên, sau đó đi lễ chùa. Xong hai việc này thì muốn đi chơi
đâu thì đi”. Mẹ bảo đi chùa, viếng mộ là việc trên đầu trên
cổ, dù cho ngày giờ không tốt cũng thành tốt. Cả nhà tôi có thói
quen như vậy từ nhiều năm nay, thật kỳ lạ sáng mồng một tôi thấy
trong lòng nhẹ nhõm; trước tiên là mừng tuổi thầy, sau đó được
gặp huynh đệ bạn bè và dự một buổi lễ quan trọng đầy ý nghĩa: Lễ
cầu quốc thái dân an.
Được làm công dân một xứ sở hoà bình thật hạnh phúc! Nhìn ra thế
giới vẫn còn ở đâu đó tiếng bom đạn nổ, con người thương vong vì
những xung đột chiến tranh. Nhân loại vẫn bế tắc trong việc tìm
ra một giải pháp tốt nhất để chấm dứt chiến tranh. Những người
Phật tử vẫn luôn cầu nguyện cho một nền hoà bình thế giới. Và
tôi cũng cầu nguyện như vậy vào sáng mồng một tết tại ngôi chùa
làng ở gần nhà.
Một
buổi sáng đầu xuân đẹp trời không mưa không nắng, đi trên con
đường quê trong lòng tôi bỗng dưng muốn nói: Cám ơn đời… vì cuộc
đời ban cho tôi rất nhiều trong đó có sức khoẻ và hạnh phúc; vì
cha mẹ mà tôi có, bạn hữu mà tôi đã gặp, thầy cô tôi đã học,
những cuốn sách tôi đã được đọc, những chuyến đi tôi đã thực
hiện, những bữa ăn tôi đã dùng, cảnh quan tôi chiêm ngưỡng, mặt
trời mặt trăng tôi thấy kia, bông hoa tôi ngắm nhìn, khí trời
tôi hít thở. Cám ơn đời… vì vận may tôi đã gặp, những vận rủi
tôi đã tránh, những giải pháp tôi đã nghĩ ra, những tài năng tôi
đã phát triển, những thành công tôi đã đạt, những ngày đẹp tôi
đã sống qua.
Cám
ơn đời, vì những bài học cam go, những thất bại tôi đã kinh qua,
nhờ đó tôi đã học được lòng khiêm nhu, ý thức rằng mình không
được ngủ quên trong chiến thắng, ý thức rằng không được nản lòng
khi thất bại và hiểu rằng những người khác khi họ thất bại thì
cũng cần được nâng đỡ ủi an. Cám ơn đời… vì đời còn dành cho tôi
cơ hội vun trồng đức nhẫn nại, lòng bao dung và niềm hy vọng.
Cám ơn đời… vì càng ngày tôi vàng ý thức hơn rằng có một Đức Từ
Phụ vẫn trông nom tôi dù cho tôi có lúc lầm lỡ yếu hèn. Người
yêu thương tôi dù tôi đầy khuyết điểm, ương ngạnh cứng lòng và
tìm giải pháp giúp cho tôi chuyển hoá.
Cám ơn đời… vì niềm vui thật đơn sơ là thấy mình vẫn còn: Sống.
“Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy / Tôi có thêm ngày nữa để yêu
thương” (Khalih – Gibrant)
-------«®«-------
|