|
CÁI NHÌN SINH DIỆT ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO
Nẻo
Xa
Trong một buổi bình minh chói lọi của những tia nắng
đầu hạ, đã làm cho tâm hồn trong tôi như muốn thổn thức một điều
gì đó rất khó mà diễn tả được. Ngay nơi phút giây ấy, tôi bồi
hồi xúc động và chạnh lòng cảm hứng cứ dâng trào mãi trong dòng
chảy xiếc của vũ trụ. Vì phía trước mắt là những đổi thay không
ngừng ngớt như một chiếc lá vàng đang rơi nhẹ từ trên một cành
cây vừa hết nhựa sống. Đứng trước cảnh vô thường khôn lường ấy,
tôi lại chợt nhớ tới hai câu thơ của Thi sĩ tình yêu Xuân Diệu
viết trong bài thơ “Yêu” như sau:
“Phút gần gũi cũng như
giờ chia biệt.
Tưởng trǎng tàn, hoa
tạ với hồn tiêu”
Ông đã cố nén đi sự bừng tỉnh trong tâm hồn mình và
trong chớp nhoáng tự lòng ông đã nhận ra rằng sự gặp gỡ là để
chia ly. Một sự ngộ nhận của tác giả về phút giây sinh diệt
trong tâm mình, thật là đáng quý báu vô cùng. Có lẽ chính vì thế
mà tuổi thọ của bài thơ ông như ngày được kéo dài thêm ra cho
tới ngày hôm nay và mãi ở phút mai sau nữa mỗi khi những ai đó
có một lần gặp gỡ và cũng một lần chia ly.
Khi xưa Thái Tử Tất Đạt Đa ngồi dưới cây Bồ Đề suy
tư thiền định và liễu Ngộ ra rằng tất cả các Pháp từ Duyên sinh
sanh diệt luôn luôn tiếp nối nhau không dừng nghỉ và không bao
giờ tách rời nhau thậm chí đó là một sát na (khoảnh khắc), cũng
giống như bóng theo hình.
Tuy rằng Đạo Phật được xây dựng trên cơ sở và nền
tảng của các Pháp sinh diệt bỡi chân lý “Duyên sinh vô ngã” mà
trước lúc chứng đạo Đức Thế Tôn đã nhìn thấy bằng con mắt trí
tuệ siêu biệt vượt ra khỏi tầm nhìn nhận thức của con mắt thế
gian, nhưng độ khoảng chừng mấy trăm năm sau khi Đức Phật nhập
Niết Bàn. Đạo Phật lại suy tàn và diệt vong ở chính cái nôi Ấn
Độ cổ xưa này. Điều đó đã chứng minh rằng lý lẽ vô thường sinh
diệt có hợp ắt có tan là một sự thật hiển nhiên như vòng quay
mọc lặng của hệ trời và mặt trăng nơi trước mắt chúng ta vậy.
Mặc dù Phật giáo nhập thế trên phương diện Nhân duyên, nhưng
cũng đồng thời về mặt hình tướng tương đối cũng bị chi phối bỡi
cái gọi là thăng trầm ở nơi đường sinh diệt.
Chúng ta cũng biết rất rõ rằng Phật giáo được du
nhập vào nước Việt Nam của chúng ta từ những năm đầu tiên ở thế
kỷ thứ nhất sau tây lịch, nhưng sự huy hoàng và phồn thịnh của
Phật giáo cũng chỉ phát triển đến đỉnh cao vào thời Đinh-Lê-Lý
và nhà Trần là rạng rỡ nhất trong các thời đại kể cả như hiện
nay. Tuy vậy nhưng sự gập ghềnh thời cuộc thì Phật giáo đã chung
vai sát cánh với dân tộc lịch sử, lúc ẩn lúc hiện làm cho vẻ đẹp
của chân thường từ nụ cười dưới hoa trên hội Linh Sơn của Ngài
Ma Ha Ca Diếp đã không bị thời gian mai một hay không gian chia
cắt được. Mà ngay bây giờ đây Phật giáo lại hồi sinh nơi mà cách
đây hơn 26 thế qua đã sản sinh ra một tôn giáo luôn chứa đựng
nhiều bức ảnh Từ Bi và Trí Tuệ như Đức Thế Tôn vậy.
Một điều ngộ nhận về vô thường rất có phương pháp
của Đức Gotama, được Ngài thường nói đến như một lời nhắc nhở
tỏa sáng từ tâm từ bi vô lượng của mình cho các hàng đệ tử của
Ngài bằng những hình ảnh và rất nhiều giai thoại nằm rải rác
khắp tam tạng Kinh điển sau này. Mà hình ảnh ví dụ khá linh hoạt
và biểu cảm nhất mỗi khi chúng ta nghe qua bài Kinh Pháp cú số
58 sau:
“Như giữa đống
rác nhớp,
Quẳng bỏ trên
đường lớn,
Chỗ ấy hoa sen
nở,
Thơm sạch đẹp ý
người”.
Giai thoại nhận chân được lý vô thường biến dịch của
vạn hữu đối với Ngài không chỉ ngưng ngớt ở một nơi thật giản dị
như hoa và rác đã nói ở bốn câu Kinh Pháp cú trên thôi, mà còn
được Đức Phật viết thành một khúc nhạc du dương mang đậm nét
chân thực nhưng cũng chứa đầy sự tĩnh giác và trí huệ sáng ngời
với bốn câu Kinh Pháp cú sô 59 sau:
“Cũng vậy giữa
quần sanh,
Uế nhiễm, mù,
phàm tục,
Đệ tử bậc Chánh
Giác,
Sáng ngời với
Tuệ tri”.
Chính vì Ngài đã vào biển giác nên bất cứ một sự
tướng nào trong vũ trụ này chuyển động và sinh diệt thì không
thể thoát được sự quán chiếu một cách chân thật của Ngài được.
Nói như vậy không phải nhãn căn thanh tịnh của Phật đang bị
vướng mắt vào ngã tướng của vạn pháp mà là chỉ là một sự nương
dựa nơi sinh diệt này mà chỉ cho những ai có mắt có thể thấy
được chơn lý Thường, Lạc, Ngã và Tịnh.
Một hôm Đức Phật thấy các Thầy Tỳ Kheo đang ngồi bàn
tán một chuyện vu vơ gì đó, Ngài mới đến gần và sau khi nghe
những tranh cãi của các Thầy Tỳ Kheo xong Ngài lại hỏi rằng:
“Này các Tỳ Kheo! Các Thầy nghĩ thế nào về sắc, thọ, tưởng, hành,
thức là thường hay vô thường?
Bạch Đức Thế Tôn! Năm uẩn là vô thường.
Vậy cái gì vô thường là khổ hay lạc?
Bạch Đức Thế Tôn! Cái gì vô thường là
khổ.
Chính tại nơi đây Đức Phật đã dạy một loạt những bài
kệ để ngõ hầu làm tư lương cho cuộc sống tu hành của các đệ tử
như sau:
“Tất cả hành vô
thường
Với Tuệ quán
thấy vậy
Đau khổ được
nhàm chán
Chính con đường
thanh tịnh” (KPC số 277)
“Tất cả hành đau
khổ
Với Tuệ quán
thấy vậy
Đau khổ được
nhàm chán
Chính con đường
thanh tịnh” (KPC số 278)
“Tất cả Pháp vô
ngã
Với Tuệ quán
thấy vậy
Đau khổ được
nhàm chán
Chính con được
thanh tịnh” (KPC số 279)
Tác
giả
Nẻo Xa
|