Thöa baïn,

Cái thiêng tôn giáo

23/06/2006

Source: Đến Từ Trái Tim

 

Xem h́nh

 

Ư tưởng về sự thiêng liêng đă xuất hiện khá sớm trong bước chuyển từ con người động vật thành con người xă hội. Ư tưởng ấy là sản phẩm của đời sống xă hội, khi nhu cầu gắn kết các thành viên của cộng đồng đ̣i hỏi một đức tín về nguồn gốc thánh thần và ư nghĩa cao quư của cuộc sống con người.

Sự thiêng liêng trước hết là đặc tính của thế giới tự nhiên bao quanh con người. Đó là sự thiêng liêng của nguồn ánh sáng mặt trời, của nguồn nước, của chiếc ŕu hay cây lúa, nghĩa là những ǵ cụ thể và thiết thực, bảo lănh cho sự sống. Những năng lượng thiêng của một con sông, dù là sông Nin hay sông Hằng của một ngọn núi, dù là núi Olympe hay núi Tản Viên cũng chỉ đủ phát sáng cho từng nhóm cư dân ở những vùng lănh thổ riêng biệt. Khi nhu cầu liên kết cộng đồng càng mở rộng, người ta cần đến một nguồn thiêng toàn năng và bao quát hơn. Giống như những vệ tinh viễn thông thời hiện đại, biên độ phủ sóng tỷ lệ thuận vơi khoảng cách bay xa, lên cao khỏi mặt đất, ư tưởng về sự thiêng liêng cũng phát triển từ đặc tính của thế giới tự nhiên hữu h́nh đến ư niệm về một bản thể siêu nhiên vô h́nh là biểu tượng cao nhất là Đức Chúa trời hiện hữu khắp thế gian và chi phối mọi giống loài. Sự vận động của từ “Sacré" trong ngôn ngữ phương Tây cũng thề hiện quá tŕnh h́nh thành khái niệm “thiêng” một khái niệm cốt lơi của tư duy tôn giáo.

Từ "Saere" t́m thấy trên tảng đá xanh “Lapis Niger” tại Rome gần Comitium, trước Khải Hoàn Môn của hoàng đế La Mă Septime Sévere. Đó là vùng mộ Romulus, vị vua đầu tiên của Rome, thiết lập nên thành Rôme vào năm 753 trước Công nguyên.

“Sacré" có gốc là từ “Sakros” từ này về sau chi phối toàn bộ hệ thống thuật ngữ về cái thiêng trong ngôn ngừ gốc Latin. "Sakros" có quan hệ với từ "Sakan" tiếng Đức, "Saklai" (tiếng của tộc người Hittite ở thế kỷ 13-14 trước Công nguyên) và từ “Hagios" tiếng Hy Lạp. Sự phát triển nghĩa cửa nhóm từ gốc "Sak" và gốc "Hag" phản ánh quá tŕnh h́nh thành quan niệm về sư thiêng liêng của các dân tộc thuộc ngữ hệ Ấn, Âu. Không đi sâu vào những vấn đề ngôn ngữ học lịch sử nhưng ở đây chúng ta có thể rút ra một vài nhận xét cần thiết.

Trước hết, quan niệm về sự thiêng liêng liên quan đến những hiện tượng cơ bản của thế giới tự nhiên, cấu trúc cơ bản của sự vật, không gian và thời gian. Mặt khác là ḷng tôn kính trộn lẫn với cảm giác sợ hăi trạng thái t́nh cảm mà con người ch́m đắm ngay từ khi ban đầu giao cảm với thế giới tự nhiên, với tư cách là một chủ thể tâm lí hữu thức, từ sự thiêng liêng của vạn vật hữu linh đến sự thiêng liêng như một bản thể siêu nhiên toàn năng và vĩnh hằng. Trong tiếng Hittite, ngôn ngữ cổ thời Đế chế, tương ứng với khái niệm “Chúa" là khái niệm về sự khôn ngoan, về trí thông minh, sự toàn thiện tri thức và tâm hồn liên quan đến khái niệm ánh sáng. Cụm “Saklai" là một thể từ vừa có một nghĩa thông tục là "thói quen" vừa có một nghĩa thiêng liêng là "nghi lễ", sự dâng hiến của con người dành cho đấng tối thượng, sự trong sạch tuyệt đối, sức mạnh tràn trề, đầy ắp quyền lực và hiệu quả. Từ đây dẫn đến hai thái độ sóng đôi của con người đối với cái thiêng:

Thứ nhất, là sự tôn kính và biết ơn. Với đối tượng được tôn kính và biết ơn là cụ thể th́ hành vi đền ơn đáp nghĩa cũng cụ thể và thiết thực. Đây là chuyện của đời thường. Chúng ta xây dựng nhà t́nh nghĩa, phụng dưỡng tuổi già, tặng quà cho những người mẹ anh hùng, nhừng người có công với cách mạng. Chúng ta cũng lại có những hành vi ứng xử cụ thể, thích hợp để bày tỏ ḷng tôn kính và biết ơn đối với các nhà giáo, các thầy thuốc "lương y như từ mẫu”. Nhưng đối với những ǵ trở nên xa cách, trừu tượng hư ảo, người ta cần đến những nghi lễ có tính chất tượng trưng “lễ bạc ḷng thành". Chẳng hạn, đó là thờ cúng tổ tiên, các vị gia thần, rồi đến các vị cao hơn, xa hơn... Đối tượng được tôn thờ, chịu ơn càng cụ thể, gần gũi th́ t́nh cảm càng sâu sắc, hành vi ứng xử càng thiết thực. Về phương diện này con người có xu hướng hiện thực hóa cái thiêng. Phân tích xu hướng nhân thần hóa, lịch sử hóa các vị thần tự nhiên trong tín ngưỡng của người Việt sẽ làm sáng tỏ nhận xét này. Từ đó dẫn đến một hệ quả quan trọng là khi đối với cái thiêng, thái độ tôn kính, biết ơn chiếm ưu thế th́ hành vi ứng xử mang đậm chất nhân văn h́nh thành những phong tục giầu sắc thái văn hóa tộc người. Kho tàng folklore của nhân loại là cứ liệu đầy sức thuyết phục.

Thứ hai, là thái độ sợ hăi trước sức mạnh đầy bí ẩn. Sự sợ hăi nào cũng đ̣i hỏi con người phải t́m giải đáp chế ngự, triệt tiêu hay né tránh, nghĩa là một thái độ chủ động chống trả trực tiếp. Nhưng sợ rắn độc, sợ chó đại khác hẳn với sợ ma quỷ. Trái với ḷng tôn kính và biết ơn, sự sợ hăi càng gia tăng khi đối tượng càng mù mờ bí ẩn. Cái thiêng càng trừu tượng siêu h́nh bao nhiêu, quyền năng chế ngự con người của nó càng lớn bấy nhiêu. Hệ quả tất yếu của giải đáp chế ngự là hành vi phù phép, dẫn đến những hủ tục mê tín dị đoan.

Khi cái thiêng đặt con người vào một h́nh thế nước đôi, vừa tôn kính hàm ơn, lại vừa sợ hăi th́ con người không tránh khỏi hành vi ứng xử mang tính chất thụ động. Người ta cầu khấn và chỉ c̣n biết khấn nguyện mà thôi bởi không thể triệt tiêu hoặc né tránh. Đây là nét đặc trưng của hành vi tôn giáo. Cần phải nhận xét rằng trong thái độ của người b́nh dân đối với cái thiện tôn giáo th́ sự sợ hăi chiếm ưu thế, nó quy định tính chất thụ động của hành vi ứng xử. Gia dĩ sự ám ảnh của quỷ dữ, mặc cảm tội lỗi và sự trừng phạt nặng nề hơn rất nhiều so với chút, hy vọng chập chờn về điềm lành và cơi cực lạc. V́ vậy con người cầu khẩn sự ban ơn, làm phúc nhưng chủ yếu là cầu khẩn sự che chở, sự tha thứ. Ở đây cái thiêng càng siêu nhiên, trừu tượng quyền năng của nó lại càng vô biên. Từ đó dẫn đến ranh giới tuyệt đối giữa cái thiêng và cái tục.

Các nhà sử học, dân tộc học và xă hội học nghiên cứu về tôn giáo hàng thế kỷ nay đă quan tâm đến “cái thiêng". Đề cập đến hiện tượng trung tâm này của các học thuyết tôn giáo trên nhiều khía cạnh. Trường phái xă hội học của Durkheim và Mauss đă đặt cái thiêng vào nguồn gốc xă hội, xem đó là một phạm trù tập hợp có nguồn gốc từ xă hội. Nó đối lập với cái phàm tục. Nó là một dạng sức mạnh tập thể có từ xă hội, được thêm vào hiện thực để trở thành một nhân tố chủ chốt trong cơ cấu xă hội. Durkheim viết: “Tất cả các tín ngưỡng tôn giáo đă được biết tới, dù đơn giản hay phức tạp đều có cùng một tính chất chung: Chúng giả định một sự phân loại về các sự vật hiện thực hay tâm tưởng mà con người h́nh dung được thành hai loại đối lập nhau, nói chung được gọi bằng những từ ngữ khác nhau, thể hiện khá chính xác ở hai từ “cái thế tục” (Frofane) và "cái thiêng liêng" (Sacré). Sự phân chia thế giới thành hai lĩnh vực: lĩnh vực này bao gồm tất cả những thế tục, là nét khu biệt của tư duy tôn giáo tín ngưỡng, huyền thoại, chuyện ma quỷ,truyền thuyết. là những biểu tượng hay hệ thống biểu tượng thể hiện bản chất của các sự vật thiêng liêng, các tính năng và quyền năng được gán cho chúng, lịch sử của chúng, các quan hệ của chúng với nhau hoặc với các sự vật thế tục…”(1)

Giữa cái thế tục và cái thiêng là mối qua hệ không đồng cấp. Cái thiêng và những ǵ đặc biệt, đầy quyển năng và phẩm chất cao cả trong khi thế giới phàm tục và bản thân con người tự coi ḿnh chiếm một vi trí thấp hơn và phụ thuộc vào các sự vật thiêng. Hơn nữa, giữa hai thế giới là một. ranh giới tuyệt đối bởi tính không đồn chất giữa chúng. Trong lịch sử tư duy của loài người chúng ta biết đến nhưng cặp phạm trù phản ánh hai mặt đối lập trong tính thống nhất biện chứng của các sự vật, hiện tượng mà trong quá tŕnh vận động của chúng có thể chuyển hóa lẫn nhau. Đó là sự đối lập giữa cái thiện và cái ác của hiện tượng đạo đức sự đối lập giữa cái đẹp và cái xấu của hiện tượng thẩm mỹ. Nhưng sự đối lập giữa cái thiêng và cái tục hoàn toàn khác. Đó là hai thế giới khác nhau về chất, không cố sự chuyển hóa qua lại trong quá tŕnh vận động, tinh lực của cái này không phải là tinh lực của cái kia. Dukheim. E viết: "Tùy theo mỗi tôn giáo, sự đối lập ấy được nhận thức một cách khác nhau. Ở tôn giáo này, để tách riêng hai loại sự vật ấy chỉ cần khu trú chúng vào những khu vực khác nhau trong vũ trụ vật chất, ở tôn giáo kia, những sự vật này được đưa vào một môi trường ư tưởng và siêu việt. C̣n thế giới vật chất th́ để cho những sự vật khác chiếm làm sở hữu. Nhưng nếu như h́nh thức tương phản có khác nhau, th́ sự tương phản là phổ biến”.

Trong tư duy con người khái niệm về cái thiêng ở một nơi và mọi lúc đều tách khỏi khái niệm về cái thế tục. Giữa chúng có một khoảng chân không lôgíc, bác bỏ mọi sự lẫn lộn hay là sự tiếp xúc giữa các sự vật tương ứng với hai khái niệm đó. Một sự vật thiêng liêng trước hết là cái mà trong quan hệ với nó, con người phàm tục phải chấp nhận một ranh giới tuyệt đối, được quy định bằng những cấm kỵ nghiêm ngặt. Những kiêng kỵ ấy đặt quan hệ giữa chúng thông qua những thao tác đặc biệt có tính ước lệ cao, đồng thời toàn thân cái thế tục cũng mất đi những tính chất riêng của nó, để tự trở thành thiêng liêng ớ một mức độ nhất định. Nếu không như thế sẽ không thực hiện được sự giao tiếp giữa cái thế tục và cái thiêng liêng. Đó là cách thức mà một cái b́nh vôi trở thành "ông b́nh vôi", một pho tượng gỗ trở thành ông Phật. Đó là tâm thế mà những người hành sự tế lễ phải nhập cuộc, là trạng huống nháp thần của người lên đồng. Ông b́nh vôi, ông Phật có những phẩm chất, những quyền năng mà tất cả những cái b́nh vôi, những pho tượng trước đó không thể có. Cũng như ông đồng, bà cốt không phải là sự biến hóa bất kỳ một người phàm tục nào cũng có thể trở thành, những phẩm chất thiêng liêng không phải đă nẩy sinh, đă phát triển từ những mầm mống có sẵn ở cái thế tục. Đây là sự hóa kiếp của cái này và sự sinh thành của cái kia. Chính v́ vậy mà những đấu ấn của cái thế tục càng mờ nhạt, càng hóa trang biến đói, lạ hóa bao nhiêu cũng gần với cái thiêng liêng bấy nhiêu. Trong t́nh huống thần nhập, ông đồng là một sinh linh khác, tuyệt đối khác biệt với bản thân người lên đồng. Anh ta phải ra khỏi thế giới trần tục để thuộc về thế giới thiêng liêng. Giao tiếp với đồng hoàn toàn khác giao tiếp với người lên đồng. Đó là ranh giới tuyệt đối giữa một bên là cái thiêng liêng, những sự vật có những cấm đoán bảo vệ và cô lập, một bên là những sự vật thế tục bị áp dụng những cấm đoán ấy và phải cách xa những sự vật thiêng liêng, không thể có sự chung chạ hay gần gũi thân mật trái với trạng thái tách rời nhau của những khái niệm này trong ư thức. Chính ư thức về sự tách biệt hoàn toàn giữa hai thế giới ấy mà con người được khuyến khích rút ra khỏi thế giới trần tục để sống một cuộc sống dành cho tôn giáo. Từ đó mà cả lối sống tu sĩ, một lối sống phải tạo ra môi trường bất b́nh thường, khác hẳn với cuộc sống thế gian, dẫn đến lối sống khổ hạnh thần bí nhằm mục đích tước bỏ khỏi con người tất cả những ǵ gắn bó với thế giới trần tục. Lối sống ấy đ̣i hỏi từ cách ăn uống, trang phục, đi lại, sinh hoạt, môi trường sống phải được kiểm soát bằng hàng loạt kiêng kỵ nhằm chối bỏ những nhu cầu tự nhiên trần tục. Có như vậy, h́nh ảnh những tu sĩ sống biệt lập chay tịnh trong các thánh đường hay tu viện, những nhà sư khổ hạnh tọa thiền trong các ngôi chùa vắng lặng, biệt lập với thế giới bên ngoài mới tạo ra được ấn tượng đáng tin cậy về sứ mạng trung giới, thông dịch giữa cái trần tục và cái thiêng liêng.

Các hiện tượng tôn giáo được sắp xếp hoàn toàn tự nhiên thành hai phạm trù căn bản: Tín ngưỡng và nghi lễ. Cái thiêng là cất lơi của tín ngưỡng. Thiếu nó không thể có tín ngưỡng. Những từ tín ngưỡng đến tôn giáo c̣n một khoảng cách khá xa tùy thuộc vào thái độ cửa con người ứng xử với cái thiêng. Một sự vật, hiện tượng trong đời sống tín ngưỡng sở dĩ thiêng liêng không phải là v́ những thuộc tính vật chất của nó mà là ở giá trị biểu trưng của nó. Nghi lễ là cách thức thực bành của con người không phải giao tiếp với cái sự vật hiện tượng cụ thể kia, mà là hành vi giao tiếp với cái thiêng liêng tiềm ẩn mà nó là biểu tượng.

Trong đời sống thường ngày, con người đă sáng tạo ra hàng loạt các hành vi ứng xử phù hợp với từng đối tượng giao tiếp, từng địa điểm không gian, thời gian và t́nh huống khác nhau, từ cách thức giản dị mộc mạc giữa những người b́nh dân đến cách thức thời thượng hoa mỹ của giới quư tộc nơi cung đ́nh, từ cách thức thân thiết và kính trọng trong quan hệ thầy tṛ, cha con đến cách thức quan phương lịch lăm trong quan hệ với đồng sự và khách khứa… Nhưng không có một cách thức ứng xử nào trong số ấy được sử dụng trong quan hệ với cái thiêng liêng. Ở đây con người phải tạo ra một khuôn mẫu hành vi khác, một hệ thống ngôn ngữ khác phù hợp với đối tượng giao tiếp là cái thiêng liêng.

Đó chính là nghi lễ với chức năng giao tiếp đặc biệt, chức năng thông dịch giữa cái trần tục và cái thiêng liêng đồng thời cũng xác định ranh giới tách biệt giữa chúng. Có một khoảng cách từ tín ngưỡng đến tôn giáo th́ cũng có một khoảng cách như vậy từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể hơn và thực tế hơn đến trừu tượng hơn và hư tưởng hơn của phong tục tín ngưỡng đến lễ nghi tôn giáo. Chỗ khác nhau đó xuất phát từ sự khác nhau trong quan niệm về cái thiêng liêng.

webmaster (Theo Hồ Liêm )