CÁCH CHỮA TIM TẠI MỸ HIỆN
NAY
(Theo tác phẩm Lật Ngược Bệnh Tim của tiến sĩ
Ornish)
Ni sư Trí Hải
Đây
là một phương pháp đã được kiểm chứng khoa học
qua 14 năm nghiên cứu lâm sàng của nhiều tiến sĩ
y khoa toàn cầu và lần đầu tiên được tiến sĩ
Ornish chuyên khoa bệnh tim hệ thống hóa thành
một trong những sách bán chạy nhất tại Mỹ vào
năm 1991, nhan đề “Chương trình lật ngược bệnh
tim” (Program for Reversing Heart desease). Bác
sĩ đã thử nghiệm một chương trình thay đổi toàn
diện lối sống trên những nhóm bệnh nhân có vấn
đề tim trầm trọng như thừa cholesterol, cao
huyết áp, tức ngực, nghẽn động mạch vành hạn chế
lưu lượng máu vào tim gây nên chứng kích ngất
v.v.. Chỉ sau một thời gian ngắn, hầu hết bệnh
nhân đều thấy tiến bộ khả quan, mà không cần đến
phẫu thuật và có thể giảm hoặc ngưng hẳn việc
dùng những thuốc hạ huyết áp hay cholesterol,
những y dược nguy hại nếu dùng lâu dài.
Chương trình thay đổi lối sống bao gồm nhiều
phạm vi, vì những cuộc thử nghiệm cho thấy bệnh
có nhiều nguyên nhân khác không kém quan trọng
như sau.
1.
Cách ăn uống: dùng nhiều chất béo và kích thích
như thịt mỡ, dầu
Ô liu, phó mát, trứng, v.v.
2.
Thuốc lá, rượu, các thức uống có cocaine,
caféine.
3.
Sự luyện tập quá độ.
4.
Cách đối phó những căng thẳng.
5.
Sống cô lập.
Ta
hãy lần lượt bàn đến những mục trên theo các
khảo sát của tiến sĩ Ornish, để thấy chương
trình chữa trị này rất phù hợp với lối sống của
một phật tử. Nói cách khác, người phật tử quy y
giữ năm giới không những sẽ tránh được bệnh tim
mà còn tránh được nhiều bệnh tật, và sống một
cuộc đời
cao thượng tốt đẹp.
1.
Chế độ ăn uống.
Hiện
nay ở Mỹ theo thống kê, có bốn mươi triệu người
đau bệnh tim mạch, 100 triệu người cao huyết áp,
80 triệu người có mức cholesterol cao, và hàng
năm có trên một triệu rưỡi người được đưa đến
bệnh viện cấp cứu vì những cơn suy tim. Một
trong những nguyên nhân gây bệnh là, họ ăn qưá
nhiều chất béo bổ. Những chất này tạo ra chứng
thừa cholesterol, lượng cholesterol này dần dần
chất chứa làm tắc nghẽn những động mạch vành
khiến cho lưu lượng máu vào tim giảm sút gây nên
chứng đau ngực, kích ngất, v.v.. Bác sĩ Robert
Wissler nhà bệnh lý học (pathologist) nổi tiếng
ở đại học Chicago đã đem thức ăn thường xuyên
của bệnh nhân trong bệnh viện để cho những con
khỉ ăn thì thấy sau một thời gian, chúng đều bị
chứng tắc nghẽn động mạch vành.
2.
Chất kích thích:
Nguyên nhân thứ hai gây bệnh là thuốc lá và
những chất kích thích như cocaine, cafeine.
Cocaine được xem là chất kích thích mạnh nhất
gây nên những chứng co thắt động mạch, máu đông
cục. Một số lực sĩ có hạng của thế giới chết trẻ
vì sử dụng cocaine. Cafeine cũng có tác dụng
tương tự nhưng nhẹ hơn.
3.
Vận động.
Nơi
những người bị xơ cứng động mạch, thì vận động
thể thao thực sự làm tăng trưởng nguy cơ bị máu
đóng cục hoặc động mạch co thắt trong thời gian
tập luyện. Đấy là lý do một số lực sĩ tử nạn
trong lúc thi đấu. Sự luyện tập mạnh bạo có thể
đưa đến cái chết đột ngột nơi những người ăn
nhiều chất béo, hút thuốc lá, tính tình nóng nảy
và dùng nhiều chất kích thích. Ngược lại, sự tập
luyện vừa phải và điều độ thì rất lợi lạc cho
sức khỏe.
4.
Đối phó : Cách đối phó những căng thẳng
cũng là một yếu tố gây bệnh. Người ta đã xét
nghiệm thấy rằng không những thức ăn làm tăng
cholesterol mà cả những căng thẳng và cách ta
đối phó với chúng cũng có thể làm tăng
cholesterol trong máu. Năm trăm người đua xe hơi
tại Indianapolis được thử máu trước và sau khi
đua thì thấy lượng cholesterol tăng sau cuộc
đua. Ở Mỹ, những nhân viên thuế vụ hàng năm cứ
vào ngày 15 tháng Tư thì lại tăng cholesterol,
và những sinh viên y khoa vào kỳ thi cũng vậy.
Do thế, sự chữa trị những triệu chứng vật lý
của căn bệnh mà không kể đến những nguyên nhân
căn để sâu xa thì chỉ làm lắng dịu cơn bệnh một
thời gian, rồi bệnh vẫn tái phát. Người ta chỉ
đổi bệnh này sang chứng khác mà thôi. Tiến sĩ
Ornish viết: “Thật khó đo đạc vai trò của sự
căng thẳng cảm xúc trên cơ tim, cho nên tầm quan
trọng của nó thường không được ghi nhận. Y khoa
hiện đại căn cứ trên khoa học, và những nhà khoa
học có khuynh hướng chỉ tin vào những gì có thể
đo lường và quan sát, mặc dù những gì đo lường
được chưa chắc đã là những gì quan trọng nhất.
Cholesterol và huyết áp có thể đo dễ dàng, và có
rất nhiều loại thuốc hạ cholesterol và huyết áp.
Điều này làm cho y sĩ chữa trị lẫn các công ty
dược phẩm dều có lợi. Y sĩ chỉ có việc cho toa
mua thuốc, khỏi cần giải thích dông dài về những
độc tố trong mọi loại thuốc để khuyên bệnh nhân
tự chữa bằng cách thay đổi lối sống.
Tại
Mỹ hàng năm tài khoản dùng vào việc chữa bệnh
tim là 78 tỉ Mỹ kim, lớn hơn bất cứ khoản chi
cho bệnh nào khác. Tiến sĩ y khoa Dean Ornish
viết: “Nếu tôi làm một phẫu thuật bắc cầu, công
ty bảo hiểm của bệnh nhân sẽ trả ít nhất ba mươi
ngàn Mỹ kim. Nếu tôi làm một phẫu thuật
angioplasty (cho một quả bóng nhỏ vào động mạch
tim bị nghẽn, rồi bơm lên để khai thông lưu
lượng máu), công ty bảo hiểm trả ít nhất 7.500
Mỹ kim. Nếu tôi dùng cũng thời gian ấy để dạy
cho một bệnh nhân cách ăn uống và những kỹ thuật
để đối phó những căng thẳng, công ty bảo hiểm
chỉ trả không hơn một trăm rưỡi Mỹ kim. Nếu tôi
dùng cũng thời gian ấy để dạy cho một người chưa
bệnh làm sao để giữ gìn sức khỏe, tránh bệnh
tật, thì tôi không được xu nào. Bởi vậy, ta
không ngạc nhiên khi các bác sĩ dành nhiều thì
giờ cho công việc nào được thù lao hậu hĩ, nhất
là vì ngay ở trường y, chúng tôi cũng không được
học gì nhiều về dinh dưỡng hay học cách điều
động bệnh nhân thay đổi lối sống. Chúng tôi
không được học những cách đối phó với căng thẳng
trong chính cuộc đời mình, hoặc cách dạy cho
bệnh nhân những kỹ thuật xử lý những căng thẳng
thần kinh nơi họ. Bởi thế những bác sĩ y khoa
chúng tôi thường hành nghề theo cách mình đã
được huấn luyện, và theo cách chúng tôi được trả
tiền để làm”.
“Chúng tôi những y sĩ cũng không làm những tấm
gương tốt cho lắm: Ngoài việc chúng tôi tập tảng
lờ những nhu cầu cảm xúc của bệnh nhân, không
bao giờ lắng nghe họ, chúng tôi lại còn được
huấn luyện để tách rời đời sống cảm xúc của mình
ra khỏi nghề nghiệp”. Trong các nhóm nghề nghiệp
tại Mỹ, thống kê cho biết giới y khoa bác sĩ có
tỉ số cao nhất hàng năm về nghiện ngập và ly dị,
và trung bình y khoa bác sĩ chết sớm hơn các
ngành nghề khác mười năm. Hàng năm, riêng giới
bác sĩ y khoa đã có một số lượng bác sĩ tự sát
bằng số lượng một khóa tốt nghiệp y khoa tại một
trường đại học lớn. Và đấy là chỉ mới kể những
vụ tự sát mà người ta có thể biết và thống kê.
Bởi thế thực cũng không lạ gì khi nhiều bác sĩ
không tin rằng sự lo lắng buồn sầu căng thẳng có
thể góp phần sinh bệnh.
Căng
thẳng có hai: cảm xúc tâm lý (khi gặp nguy) và
vật lý (do thời tiết thay đổi hay do vận động).
Khi gặp căng thẳng, cơ thể dối phó theo hai
cách. Trước hết, có những liên hệ trực tiếp giữa
tim và não. Cách thứ nhất là hệ thần kinh giao
cảm ở não bộ chuyền đến tim những tín hiệu làm
cho tim đập nhanh hơn, mạnh hơn, khiến những
động mạch vành co thắt lại. Thứ hai là não bộ
khiến cho những bộ phận khác như các tuyến
thượng thận (adrenal glands) tiết ra những kích
thích tố như adrenaline và cortisol, những chất
này đi qủa các mạch máu để đến tim. Hậu quả
những tín hiệu từ những kích thích tố này là:
Những cơ bắp co thắt lại, làm cho cơ thể mạnh
thêm, sẵn sàng để chiến đấu hay thoát hiểm.
Các
nội tạng tăng tốc độ làm việc dể biến đổi và tái
tạo các chất, khiến cho cơ thể có thêm năng lực
để đánh hoặc chạy. Lưu lượng máu dồn về tim
nhiều hơn.
Hơi
thở gấp, muốn cung cấp dưỡng khí nhiều hơn để
đánh hoặc chạy.
Hệ
thống tiêu hóa đóng cửa, để dồn tất cả năng lực
và máu về những cơ bắp đang sẵn sàng để chiến
đấu hoặc chạy thoát hiểm.
Tai
và mắt gia tăng khả năng nghe, thấy để dễ tự vệ
.
Muốn
bảo vệ bụng dưới khỏi bị tổn thương, cơ thể tự
nhiên tuôn ra phân, tiểu, để đỡ gánh nặng trong
khi chiến đấu hoặc thoát nguy.
Những động mạch ở tay chân đều co lại, để lỡ có
bị thương thì cũng ít mất máu. (Do đó tay chân
thường bị lạnh mỗi khi ta sợ gặp nguy.)
Máu
khởi sự đông nhanh hơn, để nếu có bị thương cũng
không mất nhiều máu.
Những cơ chế nói trên đã giúp cho cơ thể sống
sót sau những tai biến rõ rệt, những căng thẳng
quyết liệt và đoản kỳ. Nhưng sự căng thẳng cảm
xúc của con người hiện nay có tính cách kinh
niên thầm lặng. Con người mỗi ngày bị nhiều cơn
căng thẳng, họ phải phản ứng lại những căng
thẳng ấy theo cơ chế nói trên, song khi căng
thẳng qua đi, họ không thể trở lại bình thường
cho đến khi gặp căng thẳng mới. Đấy là nguyên do
bệnh tim phát triển trong đời sống hiện nay,
nhất là tại các nước tân tiến.
5.
Lối sống cô lập chỉ biết có mình:
Bệnh
tim dễ dàng phát triển tại các nước giàu có cũng
chính vì yếu tố càng giàu, người ta càng cô độc
và cố chấp bản ngã.
Tiến
sĩ Y Khoa Meyer Friedman và Ray Rosenman mô tả
một hội chứng họ gọi là “lối hành xử loại A” mà
họ cho là nguyên nhân gây bệnh tim. Đấy là kiểu
cư xử của người hay thù hận, cố chấp bản ngã,
nóng nảy, luôn luôn vội vàng. Những người thuộc
hạng này thường bị ám ảnh phải đạt đến những mục
tiêu mơ hồ và rất cần được người khác công nhận,
nôn nóng tiến thủ. Họ có khuynh hướng làm một
lúc nhiều công việc như vừa nói chuyện vừa di
chuyển thật nhanh, v.v. Lúc đầu, những cuộc khảo
sát cho thấy lối hành xử thuộc loại A có quan hệ
đến bệnh tim; nhưng về sau những khảo cứu rốt
ráo hơn đã không làm nổi bật được mối tương quan
ấy.
Những bằng chứng mới đây cho thấy tại sao trong
những người có lối hành xử loại A có người bệnh
người không. Bác sĩ Larry Scherwitz ở đại học
California, Redford Williams ở đại học Duke và
những người khác chứng minh rằng vài yếu tố
trong lối hành xử loại A có liên quan đến bệnh
tim, trong khi những yếu tố khác thì không. Đặc
biệt, những yếu tố độc hại nhất của bệnh tim là
chấp ngã, hận thù và bi quan yếm thế.
Bác sĩ Scherwitz, BS Lynda Powell và những
người khác khám phá rằng người bệnh nào thường
sử dụng những đại từ “tôi” “của tôi” “cho tôi”
... trong cuộc đàm thoại thông thường, thực sự
báo trước một cơn suy tim sẽ tái diễn. Một người
càng dùng nhiều tiếng ấy bao nhiêu thì dễ chết
vì bệnh tim bấy nhiêu.
Trong một khảo cứu khác, bác sĩ Scherwitz phân
tích những cuộc. phỏng vấn được thu băng của 13
ngàn người trải qua chín năm nghiên cứu, và khám
phá ra rằng những người tự nói về mình nhiều thì
về sau phát triển bệnh tim thường xuyên hơn
những người khác. Nơi những người cuối cùng phải
chết vì cơn suy tim lại càng có mức độ chấp ngã
lớn hơn nhiều.
Tại
sao sự thể lại ra như vậy? Dĩ nhiên, việc dùng
những đại từ nói trên “tôi, nhờ tôi, của tôi,
cho tôi...” tự nó không có gì tai hại. Nhưng khổ
nỗi
là lời nói của chúng ta phản ảnh nhân sinh quan
của ta. Khi ta cảm thấy bị cô lập với mọi người,
thì ta tập trung nhiều hơn vào chính mình – “Tôi
cần điều này, tôi muốn điều nọ”.
Những khảo sát ấy đưa chúng ta tiến thêm một
bước quan trọng đúng hướng, nhưng nó còn nêu lên
những vấn đề căn để hơn, đó là: Tại sao chúng ta
chấp ngã? Tại sao ta bi quan yếm thế? Tại sao
ta thù hằn? Có chăng một nguyên nhân căn để hơn
cho những cảm xúc ấy, những cảm xúc đã đưa đến
bệnh tim và các chứng bệnh khác?
Tôi tin là có, tiến sĩ Ornish khẳng định. “Nhờ
sống mỗi lần một tháng với bệnh nhân trong hai
cuộc khảo sát trước, và bốn năm sống gần gũi các
bệnh nhân một cách thường xuyên trong cuộc khảo
sát thứ ba, tôi đã có được nhiều cơ hội đặc biệt
để tìm hiểu. Chúng tôi sống tập thể biệt lập
trong một tuần để những người tham dự học những
điều căn bản trong chương trình chữa bệnh. Rồi
sau đó mỗi tuần chúng tôi lại họp hai lần, mỗi
lần bốn tiếng, trong đó có một tiếng với BS Jim
Billings, tiến sĩ y khoa về môn tâm lý học lâm
sàng, BS Shirley Brown, Mary Dale Scheller cán
sự xã hội, và tôi. Giờ này được gọi là “sự nâng
đỡ của tập thể”
Bởi thế chúng tôi khởi sự biết nhau khá rõ, và
tôi luôn luôn được học hỏi. Lúc đầu tôi chỉ xem
những nhóm nâng đỡ này như một cách để điều động
bệnh nhân duy trì những khía cạnh khác của
chương trình mà tôi xem là quan trọng hơn, như
chế độ ăn chay, luyện cách xử lý những căng
thẳng, bỏ hút thuốc lá, vân vân. Dần dà, tôi bắt
đầu nhận ra rằng chính sự nâng đỡ của tập thể
này là một trong những lối chữa bệnh có hiệu lực
hơn cả, vì nó đánh vào cái mà tôi khởi sự tin là
nguyên nhân căn để khiến ta cảm thấy căng thẳng,
khiến ta bị những chứng bệnh như đau tim: nguyên
nhân ấy chính là mặc cảm bị cô lập.
Tóm
lại, bất cứ gì gây ra cảm giác cô độc đều đưa
đến căng thẳng, và thường đưa đến những chứng
bệnh như đau tim. Ngược lại, bất cứ gì đưa đến
tình thân ái chân thực, đến cảm giác mình có
tương quan với mọi người, thì đều có thể chữa
lành trong ý nghĩa sâu xa nhất của danh từ ấy,
nghĩa là ráp lại, làm cho nguyên lành. Khả năng
thương yêu từ lâu đã được xem là chìa khóa của
sức khỏe cảm xúc; bây giờ tôi còn tin rằng nó có
quan hệ mật thiết đến sức khỏe của trái tim ta.
Có hai kỹ thuật tổng quát để tạo sự thân tình:
theo chiều ngang, là phát triển những tương quan
giữa mình với người khác; và theo chiều dọc, là
phát triển những tương quan giữa mình với những
phần cao thượng hơn của chính mình. Sự thân tình
theo chiều ngang được thực hiện nhờ tham gia các
nhóm nâng đỡ, phát triển khả năng truyền thông,
học sự tha thứ, phát triển cảm giác tin cậy,
thực hành hạnh vị tha, v.v.. , Còn cầu nguyện
và thiền quán là hai cách để có được quan hệ
thân tình theo chiều dọc. Gia nhập câu lạc bộ,
nhà thờ, giáo đường Hồi giáo v.v. giúp giảm nguy
cơ chết sớm và che chở người ta khỏi bệnh tim,
ngay cả ở những người cao huyết áp. Trong thời
gian chín năm khảo sát, những bệnh nhân giảm
quan hệ xã hội đã cho thấy dễ chết vì bệnh tim
nhiều hơn. Trong một khảo sát của bác sĩ Jay
Kaplan, những con khỉ bị cắt đứt liên lạc với
đồng loại đã phát triển bệnh nghẽn động mạch
vành gấp hai lần những con khỉ không bị căng
thẳng, mặc dù mức cholesterol và huyết áp của
chúng giống nhau. Tại đại học Houston, tiến sĩ
Robert Nerem nghiên cứu một bầy thỏ có di truyền
tính giống nhau, chúng được cho ăn thật nhiều
chất béo. Những nhà nghiên cứu chờ đợi tất cả
chúng đều bị nghẽn động mạch nhưng sau một thời
gian, họ không thể hiểu tại sao những con thỏ ở
chuồng trên lại bị nghẽn nhiều hơn những con ở
dưới. Hóa ra rằng, chuyên viên cho thỏ ăn vốn là
một người thấp, mỗi khi đem thức ăn vào cô
thường chơi với những con thỏ ở các chuồng dưới
thấp vì cô có thể với tới được trong khi những
con thỏ ở các chuồng phía trên cao mà cô điều
dưỡng không với tới thì bị bỏ rơi, cô lập. Các
nhà khoa học lặp lại cuộc khảo sát và thấy rằng
những con thỏ thường xuyên được vuốt ve, được
nói chuyện với, đã chứng tỏ giảm được trên 60
phần trăm chứng xơ cứng động mạch so với những
con thỏ không được lưu ý, trong khi chúng có di
truyền tính tương tự, được cho ăn giống nhau,
lượng cholesterol của chúng giống nhau, nhịp tim
đập và huyết áp giống nhau. Tiến sĩ Ornish đi
tìm ngọn nguồn bệnh tim bằng một loạt những câu
hỏi:
–
Cái gì đầu tiên làm phát sinh bệnh tim? Đó là
cách phản ứng của người ta trước những căng
thẳng, như giận dữ, thù hiềm, oán hận. Đó là
tình
trạng ôm khư khư một mối hận như được nói trong
kinh Pháp cú: “Nó đánh tôi, mắng tôi–Nó cướp tôi
hại tôi– Ai ôm hiềm hận ấy–Hận thù không thể
nguôi”.
– Vì sao có phản ứng “hận thù khôn nguôi” đó?
Vì quá đặt nặng bản ngã, xem cái tôi vô cùng
quan trọng.
– Vì
sao có thái độ xem mình là quan trọng (hay nói
theo danh từ Phật là “chấp ngã”)? Vì người ta
tưởng mình tách biệt với mọi người, mọi sự vật
khác với “ta”. Tư tưởng này phát sinh một vòng
lẩn quẩn như sau: Khi tách biệt với mọi người,
ta tập trung vào bản ngã, tự cô lập. Tự cô lập
đưa đến mặc cảm bị bỏ rơi. Mặc cảm bị bỏ rơi
sinh ra cảm giác cô đơn. Cảm giác cô đơn sinh ra
đau khổ, bi quan yếm thế. Bi quan yếm thế đưa
đến một trong hai loại phản ứng đều dễ sinh bệnh:
hoặc bị căng thẳng kinh niên vì luôn luôn sợ hãi,
nghi ky, đề phòng, nghĩ tất cả đều có thể hại
mình (tình trạng những người đã từng ở tù hoặc
bị tập trung cải tạo); hai là sống bất cẩn (một
kiểu tự tử chậm) bằng nhiều cách, như làm việc
quá sức, uống rượu, chích á phiện, hút thuốc lá...
Những thứ này tạm thời làm lắng dịu cơn đau khổ,
nhưng sau đó cảm giác cô độc lại càng tăng, làm
cho người ta rơi vào một vòng lẩn quẩn.
Mặc cảm cô độc còn phát sinh do lòng tự ái đặt
sai chỗ. Khi ta đặt giá trị con người của mình
vào hậu quả một sự cố nào đó (như đoạt giải vô
địch bóng cầu quốc tế), vào lối hành xử của một
người nào đó (như được họ hoan nghênh), thì ta
đã cho sự cố ấy hay con người ấy cái quyền năng
trên cuộc đời mình, có thể đem lại hạnh phúc hay
đau khổ cho mình, và cuối cùng có thể làm cho
mình sống hoặc chết. Trong cuộc khảo sát của
tiến sĩ Ornish, đã xảy ra một bi kịch chứng minh
điều này. Sam là một bệnh nhân tham gia chương
trình thay đổi lối sống, sau mười tháng anh đã
tiến bộ rất khả quan về nhiều phương diện vật ìý.
Nhưng trong những cuộc thảo luận nhóm hàng tuần
để tạo tình thân thiết giữa con người dể đánh
tan cảm giác cô lập, anh ta không bao giờ phát
biểu và thường tránh tham dự, tránh tiếp xúc.
Anh lại là người háo thắng, luôn luôn vượt chỉ
tiêu những cuộc luyện tập mà chương trình đề ra,
để chứng tỏ bệnh mình đã bình phục. Một lần, sau
một trận đấu đua thuyền với những chiếc thuyền
trên máy vi tính, anh tuyên bố thắng cuộc và
chết liền sau đó vì một cơn kích ngất. Khi giải
phẫu tử thi anh, bác sĩ tìm thấy một cục máu
đông trong một động mạch vành, và một động mạch
vành khác của anh bị co lại, phát sinh chứng nội
xuất huyết. Cảm xúc căng thẳng của anh lại do
phản ứng của anh trước trò chơi điện tử mà anh
xem như trận đấu một mất một còn; và rủi thay,
sự tình đã xảy ra đúng như vậy đối với Sam. Sau
đó bác sĩ lại biết thêm, sở dĩ Sam tránh tiếp
xúc mọi người là vì anh có một bí ẩn muốn giấu
kín. Anh đã tuyên bố khi mới tham gia chương
trình rằng anh là một cầu thủ quốc tế, trong khi
kỳ thực anh chưa từng tham gia trận đấu nào. Anh
không muốn mọi người khám phá điều bí mật đó.
Sam đã sai hai lần: tự đặt cho mình một giá
trị tưởng tượng (cầu thủ quốc tế); và tưởng rằng
mọi người chỉ công nhận anh nếu anh là cầu thủ
quốc tế.
Tóm lại, căng thẳng không chỉ do việc ta làm
mà còn do cách phản ứng của ta trước công việc
ấy. Cách phản ứng của ta lại tùy thuộc thái độ
sống của ta. Nếu ta xem mình là một cái gì biệt
lập với xã hội thay vì là một phần từ của xã
hội, thì chúng ta dễ cảm thấy bị căng thẳng kinh
niên. Sự căng thẳng thường xuyên này lại có thể
đưa đến bệnh tim vừa do hậu quả trực tiếp của nó
trên quả tim, vừa do những mẫu mực sống tự hủy
của người ta phát sinh từ mặc cảm bị cô lập. Như
vậy, bất cứ gì giúp con người vượt qua mặc cảm
cô đơn đều có thể chữa lành bệnh.
Sự
thay đổi toàn diện lối sống mà tiến sĩ Ornish đề
ra bao gồm những điểm như sau:
1.
Ăn chay hoàn toàn.
2.
Tuyệt đối tránh thuốc lá, rượu, café, á phiện.
3.
Tập thể dục đều đặn theo các thế thể dục yoga
hay dưỡng sinh.
4.
Giúp đỡ mọi người và dược sự nâng đỡ của tập
thể. Sư mở lòng ra với mọi người, thương yêu kẻ
khác là một cách để chữa lành trái tim và tâm
hồn. Sự cầu nguyện cũng cho thấy mối tương quan
giữa những con người đồng thời đại, bất kể theo
tôn giáo nào.
5.
Thiền định và quán tường để tiếp xúc với phần
cao siêu sâu xa của bản ngã. Sự quán tưởng thân
thể lành mạnh giúp rất nhiều cho sự chữa lành
thực sự, như kinh Pháp cú nói: “Ý dẫn đầu, ý tạo
tác tất cả” .Sự cô lập của con người – nguyên
nhân gây bệnh – xảy ra ở ba phương diện: cô lập
với chính mình, với người khác và với một năng
lực cao siêu bất kể đó là Phật, Chúa, hay sinh
thái vũ trụ. Một thử nghiệm của tiến sĩ Ornish
cho thấy khi con bệnh bắt liên lạc được với phần
thâm sâu nhất của chính mình thì có thể chữa
lành bệnh. Tiến sĩ Ornish viết:
“Khi
chúng ta khởi sự có can đảm nhìn vào những khía
cạnh đáng sợ trong chính ta, thì có thể xảy đến
những điều kỳ diệu”.
Sau
đây là một ví dụ: John Cardozo một bệnh nhân
tham dự chương trình chữa trị, lần đầu tiên cố
làm pháp quán tưởng thụ động trước một nhóm
chúng tôi. Sau đây là cuộc nói chuyện giữa bác
sĩ Ornish và bệnh nhân trong tư thế tập trung
quán tưởng, gần như bị thôi miên:
§
John: Bây giờ tôi đang bị nghẽn, như có một cảm
xúc thật mạnh ở trong cổ họng, nhưng tôi không
biết đó là cái gì.
§
–
Bác sĩ: Được. Hãy nhắm mắt lại và đưa tâm bạn
đến nơi cổ họng. Nếu cảm xúc ấy phát ra tiếng
được, thì đó là tiếng gì? Có tiếng gì muốn thoát
ra không?
§
John: Nó giống như tiếng sấm.
§
BS:
Bạn có thể phát lại tiếng ấy không?
§
John: Tôi có thể mô tả. Đó là một tiếng sấm vang
dội rất thâm trầm.
– BS: Hãy ở lại với cảm giác ấy. Hãy để cho nó
tràn ngập trong bạn. [ngừng một lát] Bạn nghe gì?
– John: Tôi nghe một tiếng reng.
– BS: Có lớn không?
– John: Lớn.
– BS: Bây giờ, hãy ở lại với tiếng ấy một lát. [ngừng]
Bây giờ, cái gì xảy đến?
– John: Nó đang tràn ngập người tôi..
– BS: Hãy để toàn thân bạn tràn ngập âm thanh ấy.
Hãy cho tôi biết có hình ảnh nào xuất hiện trong
tâm bạn hay không, hay nó vẫn là một âm thanh.
– John: Nó là một âm thanh ngân nga.
– BS: Bạn nghe nó từ đâu? Bạn cảm thấy nó đến từ
đâu?
– John: Tôi cảm thấy nó ở đây (chỉ vào bụng dưới)
và đây (chỉ vào cổ họng).
– BS: Được. Bây giờ cái gì xảy ra?
– John: âm thanh dưới bụng đang đi lên tới lồng
ngực tôi và nối liền lại.
– BS: Nó giống như thế nào?
– John: Như một cái đai.
– BS: Được. Cứ ở lại với cảm giác ấy một phút. (ngừng).
Bây giờ bạn cảm thấy thế nào?
– John: Chặt cứng.
– BS: Được. Bạn có thể quán tưửng trái tim bạn
bây giờ ra sao không?
– John: Nó rất nhỏ và bị vây kín.
– BS: Vây kín trong cái đai ấy?
– John: Vâng.
– BS: Và chính cái đai phát ra âm thanh?
– John: Phải.
– BS: Nó giống gì?
– John: Giống bê tông.
– BS: Xin bạn hãy mô tả nó càng chi tiết càng
hay, dùng nhiều cảm quan càng tốt.
– John: Nó hình tròn, như một bức tường chắn
ngang rất chắc chắn bằng đá hoa cương.
– BS: Không cần nói lớn, hãy hỏi thầm bức tường
ấy hay cái đai ấy hay bất cứ tên gì bạn muốn gọi,
hãy hỏi xem nó có tên gì hay không, hay có tiếng
nói gì không, hay nó có thể tự giới thiệu cho
bạn biết nó là cái gì, bằng một cách nào đó. Nó
sẽ phát ngôn lặng lẽ mà rõ ràng, hoặc nó sẽ
không nói gì cả.
– John: Nó nói nó là một cái tủ két.
– BS: Được.
– John: Bây giờ nó đang nói tên của nó là tủ két.
– BS: Hãy hỏi tủ két ấy, nó làm nhiệm vụ gì, có
mục đích gì.
– John: Che chở tôi.
– BS: Che chở bạn khỏi cái gì?
– John: Khỏi bị lố bịch.
– BS: Rồi. Hãy nhận chân điều ấy và cám ơn tủ
két đã che chở bạn khỏi bị lố bịch. [ngưng]. Bây
giờ nó có nói gì để đáp lại khi bạn cám ơn nó
không?
– John: Nó không nói, nhưng nó hài lòng.
– BS: Hãy hỏi xem nó cờn che chở bạn khỏi cái gì
nữa?
– John: Không.
– BS: Khi bạn nói “lố bịch”, hình ảnh gì khởi
lên trong bạn?
– John: Bị cười nhạo lúc tôi còn bé.
– BS: Hình ảnh nào nổi bật nhất đang hiện ra,
giai đoạn nào bạn cảm thấy bị lố bịch?
– John: Tôi thường cảm thấy vậy luôn.
– BS: Bạn có thể nghĩ đến một ví dụ nào đó hiện
lên trong trí, khi bạn nghe hai tiếng “lố bịch”?
– John: Vâng, đó là vào năm tôi chừng 11 tuổi
tôi bị người ta cười vì ném banh tuyết không
giống nhừ một đứa con trai ném, mà giống con gái.
– BS: Hãy hình dung cảnh tượng ấy một cách chi
tiết. Điều ấy làm bạn có cảm tưởng như thế nào?
– John : Như thể là tôi muốn trái đất nẻ ra nuốt
tôi xuống và tôi sẽ biến mất trên đời.
– BS: Hãy ở lại với cảm giác đó, dù nó khó chịu
thật. Bây giờ bạn thấy ra sao?
– John: Như thể tôi đang nấp sau tủ két, nó che
chở tôi.
– BS: Hãy cám ơn nó đã che chở cho bạn khi bạn
cần che chở. Nhưng hãy hỏi xem nó có thể trở
thành trong suốt, mở ra, để bạn không còn ngăn
cách với trái tim của bạn hay không?
– John: Nó nói "được".
– BS: Vậy bây giờ bạn thấy gì? Sau lưng nó có
những gì?
– John: Rất nhiều gương mặt.
– BS: Bạn có nhận ra người nào không?
– John: Có. Mọi người trong nhóm tối nay.
– BS: Bạn có thấy trái tim bạn ở đâu không?
– John: Tôi không thấy rõ lắm.
– BS: Vậy bạn thấy gì?
– John: Tôi vẫn thấy nó bị một bức tường vây kín.
– BS: Hãy hỏi bức tường đang vây kín tim bạn,
mục đích nó là gì?
– John: Gần như nó đang giữ một cái gì cho khỏi
tuôn ra, hơn là sợ một cái gì ở ngoài vào.
– BS: Được. Hãy hỏi bức tường, nó đang giữ cái
gì trong ấy?
– John: [ngưng] Nước mắt. Sợ bị lố bịch.
– BS: Hỏi bức tường có thể mở ra, để cho nước
mắt bạn tuôn ra không? Nó có thể đóng lại nếu
việc ấy quá đau đớn. Rồi cám ơn nó lần nữa vì đã
che chở bạn.
– John: Được. [Anh ta khởi sự khóc rưng rức. Một
lát sau, anh mỉm cười.]
– BS: John, Bây giờ bạn cảm thấy thế nào?
– John: Dễ chịu hơn nhiều lắm, và an ổn hơn.
– BS: Hãy thưởng thức niềm vui ấy trong chốc lát
Bây giờ, bạn còn nghe tiếng sấm không?
– John: Không.
– BS: Còn có cảm giác tắt nghẽn ở cổ họng không?
– John: Không.
– BS: Bây giờ, hãy mở mắt ra. Bạn còn muốn nói
gì nữa không?
– John: Tim tôi cảm thấy được cởi mở hơn nhiều.
– BS: Tôi đoán rằng nếu bạn chịu khó tự hỏi lòng
mình nhiều lần, bạn sẽ khám phá nhiều hơn nữa.
Thật cần rất nhiều can đảm để làm điều bạn đã
làm trước một nhóm người. Đấy là điều khó làm
nhất, và cũng chữa lành một cách sâu xa nhất.
Để kết luận, ta có thể nói phương pháp bác sĩ
Ornish dùng để chữa tim rất gần với cách luyện
tâm trong đạo Phật. Nó không những giúp chữa
lành trái tim vật lý mà còn chữa lành tâm bệnh
chấp ngã trầm trọng nơi con người. Ảnh hưởng của
nó thật sâu xa, bằng chứng là hiện nay có rất
nhiều người Mỹ trẻ tuổi ăn chay, hành thiền, bỏ
thuốc lá và các thứ nghiện ngập khác./.
Source: tongiao.com