Lưu ư:
V́ là một người có biết chút ít về Mật giáo, và đang tu tập. Cho nên, khi thấy những tài liệu liên quan đến Tông Mật, chúng tôi thường tài liệu và đưa bài lên Trang nhà. Những tài liệu nầy cần được nghiên cứu và chỉ để nghiên cứu, v́ sự tu tập phải được những nhà Du Già Sư truyền và hướng dẫn.
Tuần tự, chúng tôi sẽ cố gắng đưa ra một Tiểu Luận về đề tài nầy để được rơ ràng hơn. Kính mong quí vị Cao minh vui ḷng v́ Đạo Pháp mà chỉ giáo thêm cũng như đóng góp bài để có sự đồng nhất và chính xác hơn.
Kính bái
Cư sĩ Liên Hoa
Trong Phật giáo và Ấn Độ giáo, Ấn (zh. 印; mudrā, bo. phyag rgya ཕྱག་རྒྱ་) là một dấu hiệu thân thể.
Trong tranh tượng, các Đức Phật thường được tŕnh bày với một kiểu tay đặc biệt, vừa là một cử chỉ tự nhiên, vừa là một dấu hiệu của tính chất Phật (Phật tính). Trong Đại thừa, các Thủ ấn chỉ các ấn nơi tay, đều tương ứng với các ư nghĩa đặc biệt, đối lập với Khế ấn là những tư thế khác như cầm ngọc, tọa thiền... Đặc biệt, trong các tông phái như Thiên Thai tông, Kim cương thừa, các ấn này thường đi đôi với Man-tra. Ngoài ra, các ấn này giúp hành giả chứng được các cấp tâm thức nội tại, bằng cách giữ vững những vị trí thân thể nhất định và tạo mối liên hệ giữa hành giả với các vị Phật hoặc Đạo sư trong lúc hành tŕ một Thành tựu pháp (sa. sādhana).
Có 10 ấn quan trọng nhất.
Hai bàn tay trong ấn thiền của tượng Phật A Di Đà tại Kotokuin, Nhật Bản
Trong ấn này, lưng bàn tay mặt để trên ḷng bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau. Hai bàn tay để trên ḷng, ngang bụng. Bàn tay mặt phía trên tượng trưng cho tâm thức giác ngộ, bàn tay trái phía dưới tượng trưng thế giới hiện tượng. Ấn quyết này biểu lộ sự giác ngộ đă vượt lên thế giới hiện tượng, nó cũng biểu lộ tâm thức giác ngộ đă vượt qua tâm thức phân biệt, trong đó Luân hồi hay Niết-bàn chỉ là một.
Ấn thiền có một dạng khác, trong đó các ngón
tay giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út của hai bàn tay
nằm lên nhau, ngón cái và ngón trỏ mỗi tay tạo thành
hai ṿng tṛn chạm nhau, hai ṿng tṛn đó biểu
tượng thế giới chân như và thế giới
hiện tượng. Ấn này hay được tạo
h́nh nơi tranh tượng của Phật A-di-đà và hay
được gọi là Ấn thiền A-di-đà.
Trong Thiền tông, thiền giả lại
để bàn tay trái trên bàn tay mặt lúc tọa thiền.
Điều này thể hiện thân trái (tĩnh) nằm trên
thân phải (động), nhằm chỉ rơ thái độ
trầm lắng của Thiền tông.
Ấn giáo hóa
Khi làm ấn này, tay mặt chỉ lên, tay trái chỉ
xuống, hai ḷng bàn tay chỉ tới trước. Trong
mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau, làm ṿng tṛn. Bàn
tai mặt đưa ngang vai, bàn tay trái ngang bụng. Trong
một dạng khác của ấn giáo hóa, ḷng bàn tay trái
hướng lên, để ngang bụng, tay mặt ngang vai,
ngón tay trỏ và tay cái làm h́nh tṛn. Trong một dạng khác
th́ ngón trỏ và ngón út duỗi thẳng, ngón giữa và
đeo nhẫn co lại. Ḷng bàn tay trái hướng lên, tay
mặt hướng xuống. Người ta hay bắt
gặp ấn giáo hóa nơi tranh tượng Phật A-di-đà,
có khi nơi Phật Đại
Nhật (sa. mahāvairocana).
Maitreya (Phật Di Lặc) cho thấy ấn chuyển pháp luân
Với ấn chuyển pháp luân, tay trái hướng vào
thân, tay mặt hướng ra. Trong mỗi tay, ngón trỏ và
ngón cái chạm nhau thành ṿng tṛn, hai ṿng tṛn đó chạm
nhau. Người ta hay thấy ấn chuyển pháp luân
nơi tranh tượng của Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, Phật Đại
Nhật và Phật Di-lặc.
Trong ấn xúc địa, tay trái hướng lên, đặt ngang bụng, tay mặt chỉ xuống, lưng tay mặt xoay tới trước. Đó là ấn quyết mà đức Thích Ca gọi thổ địa chứng minh ḿnh đạt Phật quả và cũng là dấu hiệu của sự không lay chuyển, v́ vậy Phật Bất Động (Akṣobhya) cũng hay được tŕnh bày với ấn này.
Trong ấn này, tay mặt với các ngón tay duỗi ra chỉ về phía trước, ngang tầm vai. Đây là ấn quyết mà Phật Thích Ca sử dụng ngay sau khi đắc đạo. Phật Bất Không Thành Tựu (sa. amoghasiddhi) cũng hay được tŕnh bày với ấn này.
Ấn thí nguyện cũng được gọi là Dữ nguyện ấn hay Thí dữ ấn. Thí nguyện là cho phép được toại nguyện, ḷng tay mặt hướng về phía trước, bàn tay chỉ xuống. Nếu ở tượng Phật Thích Ca là đó biểu hiện gọi trời (xem ấn xúc địa) chứng minh Phật quả. Phật Bảo Sinh (sa. ratnasambhava) cũng hay được diễn tả với ấn quyết này. Trong một dạng khác, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau thành ṿng tṛn. Ấn vô úy và ấn thí nguyện hay được tŕnh bày chung trong một tranh tượng. Thường tay mặt bắt ấn vô úy, tay trái ấn thí nguyện. Tượng đứng của các vị Phật hay có hai ấn này.
Khi thực hiện ấn này, hai bàn tay chắp ngang ngực, hai ngón trỏ duỗi thẳng chạm vào nhau, như mũi nhọn của một Kim cương chử. Các ngón khác lồng vào nhau, hai ngón cái chạm nhau hay để lên nhau. Tranh tượng của Phật Đại Nhật hay được tŕnh bày với ấn này.
Ấn này đ̣i hỏi ngón tay trỏ của bàn tay mặt được năm ngón kia của tay trái nắm lấy. Ấn này người ta hay thấy nơi Phật Đại Nhật. Trong Mật tông có nhiều cách giải thích ấn này, nhưng nói chung một ngón tay chỉ rơ sự nhất thể của vạn sự và năm ngón kia chỉ tướng trạng vô cùng của thế giới hiện tượng.
Với ấn này, hai bàn tay chắp trước ngực, được sử dụng để tán thán, ca ngợi, và cũng là cử chỉ chào hỏi thông thường tại Ấn Độ. Với dạng ấn, hai bàn tay chắp lại chỉ Chân như. Trong các tranh tượng, Phật và các vị Bồ Tát không bao giờ được tŕnh bày với ấn này v́ trong Ba thế giới, không có ai vượt ngoài trí huệ của chư vị và v́ vậy, chư vị không cần phải tán thán ai cả.
Ấn kim cương hiệp chưởng
Khi làm ấn này, đầu ngón tay của hai bàn tay chắp vào nhau. Ấn này là biểu hiện của tín tâm bất động, vững