Cloning
và Phật Giáo
(TRÌNH
PHÁT THANH PHẬT GIÁO
DO BAN
BIÊN TẬP THƯ VIỆN HOA SEN PHỤ TRÁCH
NỘI DUNG
BÀI PHÁT THANH SỐ 34
Thưa
quý thính giả,
Trong
tuần qua, chúng tôi nhận được
mấy câu hỏi, xin nêu ra như sau:
Hỏi:
-- Nếu Phật đã
dạy rằng, vạn vật từ Không mà
có, vậy thì tại sao linh hồn sau khi chết
lại không trở về Không, mà phải
đi lang thang từ kiếp này sang kiếp khác?
Kính thưa quý vị,
Nếu nói
rằng “vạn vật từ Không mà
có” thì cũng không đúng với
quan điểm của đạo Phật. Nhà Phật
nói rằng: “Vạn pháp trong thế giới
hiện tượng tương đối này
đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh
khởi, cái này sanh thì cái kia sanh.
Vì duyên với nhau mà sanh, cho nên khi
“cái này diệt thì cái kia
diệt”, không có tự thể độc
lập của riêng nó, mà sanh diệt tùy
thuộc lẫn nhau, chỉ huyễn hiện liên
tục, nên còn được phát biểu
là : “Vạn pháp đương thể
tức không, duyên hợp giả có”.
“Có ”nhưng không phải là
“thật có”, mà chỉ là
“huyễn hiện”, nên gọi là
“giả có”.
Nhà Phật
quan niệm rằng mỗi dòng sinh mệnh đều
từ Chân Tâm, vì một niệm vô minh
bất giác khởi vọng mà lưu xuất,
vốn là Chân Tâm (tịnh) chuyển thành
Vọng Thức (nhiễm), -- nói gọn là
Tâm và Thức – bắt đầu dòng
sinh tử, rồi từ đó hành động
tạo tác, gây nhân thọ quả thiện ác,
hình thành nghiệp lực, bị nghiệp
lực chi phối, cuốn trôi trong vòng luân
hồi sinh tử. Tâm mênh mông bằng hư
không thì Thức cũng mênh mông bằng
hư không. Có thể tạm dùng thí
dụ cụ thể, dù không đúng hẳn
nhưng sẽ giúp dễ hiểu, là ví
Tâm với biển cả, Thức với bụi
bậm rác rưởi lẫn trong nước
biển. Biển rộng mênh mông tới
đâu thì rác rưởi cũng trôi
nổi tới đó. Chân Tâm là Bản
Thể, thuộc bình diện tạm gọi là
tuyệt đối. Thức chỉ là bình
diện ô nhiễm của Tâm, còn gọi
là thức tâm sinh diệt, thuộc về thế
giới hiện tượng tương đối,
huyễn hiện theo quy luật “duyên hợp
giả có”, tính chất nó là vô
thường.
Nhà Phật
quan niệm rằng mỗi sinh vật đều do hai
thành phần tạo nên, đó là
phần tâm thức và phần vật chất,
tức là cơ thể chúng sinh. Tâm và
Vật duyên sanh trong đời sống. Tâm có
thể ví như làn sóng điện và
vật chất, thí dụ cơ thể con
người, có thể ví như chiếc máy
thu thanh.
Làn sóng
dàn trải trên không gian, máy thu thanh
vặn đúng tần số thì bắt
được tín hiệu. Khi máy cũ, hư
hỏng, không còn sử dụng được
nữa, thì mua máy mới, lại tiếp tục
vặn lên, bắt làn sóng điện,
cũng giống như một sinh vật chấm dứt
sự sống thì Thần Thức sẽ lại
nhập vào một phôi thai khác để
tiếp tục một đời sống mới, do
nghiệp lực chi phối, tới tận khi nào tu
hành cho tới cảnh mà đức Phật
mô tả khi Ngài giác ngộ là:
"Xuyên qua nhiều kiếp sống
trong vòng luân hồi, Như Lai thênh thang đi,
đi mãi.Như Lai mãi đi tìm mà
không gặp, Như Lai đi tìm người
thợ cất cái nhà này. Lặp đi
lặp lại đời sống quả thật là
phiền muộn. Này hỡi người thợ
làm nhà, Như Lai đi tìm được
ngươi. Từ đây ngươi không còn
cất nhà cho Như Lai nữa. Tất cả
sườn nhà đều gãy, Cây
đòn dong của ngươi dựng lên cũng
bị phá tan. Như Lai đã chứng nghiệm
quả Vô Sanh Bất Diệt và Như Lai
đã tận diệt mọi Ái Dục".
Cái
sườn của căn nhà tự tạo ấy
là những ô nhiễm như tham, sân, si,
ngã mạn, tà kiến, những hành
động bất thiện, vân vân. Cây
đòn dong chịu đựng cái sườn
nhà là vô minh, căn nguyên xuất
phát mọi dục vọng. Giác ngộ là
phá vỡ được cây đòn dong
vô minh bằng trí tuệ, là đã
làm sập được căn nhà.
Nếu chưa
giác ngộ mà vì một lý do nào
đó, căn nhà đổ nát, có
nghĩa là phần vật chất, tức cơ
thể của sinh vật chết đi, Thần
Thức sẽ bị cuốn hút bởi cận tử
nghiệp, là chập tư tưởng cuối
cùng, hội nhập nhân duyên quan hệ
với cha mẹ tương lai mà đầu thai,
bắt đầu một đời sống mới.
Như thế, vì chịu sự chi phối của
nghiệp báo, cho nên Thần Thức không
thể tự do “trở về Không”
được. Muốn “sinh tử tự tại”
để có thể “tùy Nguyện mà
thọ sanh” như các vị bồ tát
đầu thai vào cõi nhân gian để
hoàn thành nguyện ước cứu độ
chúng sanh, thì bản thân con người phải
tu hành cho tới “Tâm tịnh tội
tiêu”. Tội đây chính là những
điều mình đã tạo tác trong
quá khứ, chính là nghiệp báo vậy.
Đạo
Phật không cho rằng “có một linh hồn
trường tồn bất biến đi trong cõi u
minh hoặc đầu thai từ kiếp này sang
kiếp khác”, mà chỉ có cái
“Thần Thức”, bị dòng nghiệp
lực cuốn đi đầu thai vào cái
lúc chấm dứt mỗi kiếp sống, hoặc sau
khi chết một thời gian ngắn, khi nghiệp và
duyên hội đủ điều kiện để
đầu thai mà thôi.
Thưa quý thính giả,
Câu hỏi tiếp như sau:
- Nếu con người
có linh hồn, thì Phật pháp làm sao
để giải thích vấn đề cloning,
lấy cell của một người để tạo
nên một người mới, con người mới
này có xài chung một linh hồn với
người donor hay không?
Kính thưa quý vị,
Như trên
chúng tôi đã thưa rằng Phật
giáo không chấp nhận sự kiện
“có một linh hồn trường tồn bất
biến” mà mỗi sinh vật đều
đươc hình thành bởi hai nguyên tố
là phần tâm thức và phần thể
xác.
Giáo
lý của nhà Phật dạy rằng các
loài sinh vật có tới 4 cách sanh sản,
đó là:
-
Thai sanh, là sanh sản bằng bào thai,
như người và một số loài vật
-
Noãn sanh, là sanh sản bằng trứng,
như gà, vịt, chim, ... vân vân.
-
Thấp sanh, là sanh sản bằng sự
ẩm ướt, như các loại côn trùng,
mốc ... vân vân...
-
Hóa sanh, như một số loài
sâu, thí dụ con tằm hóa ra con nhộng,
rồi hóa ra con ngài mà bay đi, vân
vân.
Tất cả
những loài này đều không có ai
đem linh hồn phân phát cho mầm sống,
mà chính là Thần Thức đã hội
nhập ngay vào sinh vật để sử dụng
cái cơ thể vật chất mới
được hình thành. Cơ thể vật
chất đó sẽ là công cụ để
phần Thức sử dụng trong suốt cuộc
đời, cho đến khi cái chết xảy
đến, thì Thức sẽ từ bỏ cái
công cụ để -- nay được gọi
là Thần Thức -- gá vào một
phôi thai nào đó vừa mới thành
hình, tùy theo nghiệp lực của dòng sinh
tử và nhân duyên từ quá khứ
đối với cặp cha mẹ đưa đẩy.
Giáo lý
nhà Phật không nói đến chuyện
cloning, vì vào thời đức Phật còn
tại thế thì chuyện này chưa xảy ra.
Nhưng chiếu theo pháp Tứ Y mà đức
Phật đã dạy, có câu “Y nghĩa,
bất y ngữ”, chúng ta có thể
nương theo sự hiểu biết về Phật pháp
mà suy luận. Như vậy, để trả lời
câu hỏi của vị thính giả này,
chúng tôi có thể thưa như sau:
- Theo quan
điểm của nhà Phật thì cloning thuộc
về nhóm “thấp sanh”, vì phôi thai
không được hình thành qua sự gần
gũi của cha mẹ như là người bình
thường thuộc dạng thai sanh. Sự sống
của phôi thai là nhờ ở khoa học kỹ
thuật, kết hợp hài hòa những
điều kiện về ấm áp và ẩm
ướt, cùng với sự kích thích
khiến cho phôi thai phát triển, tương
tự cách sinh trưởng của các nhóm
côn trùng, mốc meo, vân…vân.
Cũng như ba
loại sinh khác, phôi thai do cloning này cũng
có Thần Thức của một dòng sinh
mạng, thí dụ từ một sinh vật mới
chết, nhập vào. Kể từ giây
phút đó, Thần Thức là phần
tâm linh của sinh vật mới được cloning
này. Tất cả mọi hành vi tạo tác
sau này của sinh vật đó, về mặt
tâm thức, đều không liên quan gì
tới người donor. Không có chuyện
“xài chung một linh hồn với người
dono”
Tóm lại,
chúng tôi vừa mới trình bày vấn
đề thành tố của một sinh vật,
đứng trên lập trường thuần lý,
chiếu theo quan điểm của nhà Phật,
gồm có hai phần : phần vật chất là
thể xác và phần phi vật chất là
tâm linh. Như vậy một sinh vật do cloning
cũng sẽ sinh hoạt như một người
bình thường, có phần vật chất
và phần tâm linh riêng biệt, như bất
cứ một người bình thường nào,
cũng có tâm hồn, có sự suy tư
riêng biệt.
Tuy nhiên, mục tiêu của
đạo Phật là diệt khổ, nên
trước mỗi vấn đề, người Phật
tử đều cân nhắc kỹ càng, để
tránh tạo nên nỗi đau khổ cho chúng
sinh.
Trước
mắt, chúng ta thấy một người
được sanh ra từ cloning dường như
không có gì khác với người
thường. Nhưng vì bản thân sự
kiện cloning nó đã có những sự
khác thường đối với đồng
loại sinh trưởng bình thường, cho nên
chúng ta cần tìm hiểu thêm về vấn
đề tâm sinh lý và môi trường
xã hội đối với sinh vật ra đời
một cách khác thường là cloning,
liệu sau này có vì thế mà sinh ra
điều gì đáng tiếc cho kiếp
người do cloning chăng.
Trong quá
trình cloning, người ta lấy một nhân
tố di truyền từ một tế bào của donor
đem đặt vào một trứng đã
được rút nhân tố di truyền ra.
Nếu là sinh sản theo thường lệ thì
sự kết hợp của hai nhân tố này trong
cái trứng của người đàn bà
sẽ quyết định sự giống hay khác nhau
về hình thể của đứa bé
đối với cả cha và mẹ hoặc dòng
họ của bên nội và bên ngoại, theo di
truyền. Nhưng khi cloning, nhân tố di truyền
của người mẹ trong cái trứng đã
được lấy ra, chỉ có độc
nhất một nhân tố của donor được
đặt vào trong trứng, nên phôi thai
chỉ tăng trưởng từ một nhân tố di
truyền gốc, vì thế sau này cơ thể
vật chất của nó sẽ giống y hệt
người donor.
Cơ thể
trông thì giống hệt, nhưng sự hình
thành đã không bình thường,
chúng ta cũng chưa có đủ thời gian
và dữ kiện để chứng minh rằng cơ
thể đó sẽ phát triển bình
thường. Trong khoảng thời gian gần một
trăm năm của đời người, chưa
thể biết sẽ có những biến chuyển
nào xẩy tới cho kẻ ra đời do cloning.
Đấy là nói riêng về vấn
đề cơ thể vật chất.
Về mặt tinh
thần, tuy con người đó có một
Thần Thức mang theo nghiệp lực gá vào
cơ thể để hoạt động, thì
nghiệp quá khứ là của dòng nghiệp
đó, nhưng do sự ra đời bất
thường, những va chạm trong đời sống do
mặc cảm về sự bất thường này
có thể xảy ra, sẽ gây nên đau
khổ cho người đó và nếu như
vì mặc cảm quá sâu sắc, hắn
có thể gây nên những nhân ác
mới, như những người vốn mang mặc
cảm đã gây nên nhiều tội ác
trong lịch sử của nhân loại, thí dụ
Hitler, vân vân. Từ những điều ác
mới gây ra do mặc cảm vì sự ra
đời bất thường, dòng nghiệp lực
của hắn sẽ trở thành xấu đi.
Nếu chuyện đó xảy ra thì cũng
là một điều đáng tiếc.
Ngoài ra, theo
nhận xét của những nhà xã hội
học, trẻ em mồ côi, hoặc xuất thân
từ những gia đình đổ vỡ,
thường dễ nảy sinh mặc cảm cô
đơn. Từ mặc cảm, các em có thể
phát sinh những phản ứng tiêu cực,
dù trên thực tế, mọi người chung
quanh đối xử với các em rất bình
thường. Qua suy nghĩ đó, chúng ta có
thể dự đoán về đời sống tinh
thần của một em bé cloning trong lòng xã
hội. Thí dụ có một chuyện xảy ra
trong lớp học, một em bé bình thường
có thể phát biểu một câu bất
thường, cả lớp không thấy có
gì lạ, chỉ cho là em bé đó
đang có chuyện gì không vui nên phản
ứng thế chăng. Nhưng nếu là một em
bé cloning, thì mọi người có thể
phát sinh ngay một dấu hỏi trong đầu:
“Liệu có phải vì nó là
đứa bé cloning nên mới sinh ra chuyện
này chăng?”. Lại có thể không ai
nghĩ gì, nhưng chỉ tình cờ thôi,
một tia nhìn lơ đãng của bạn trong lớp
cũng có thể khiến cho em bé cloning vốn
đã có mặc cảm, phát sinh ra những
tư tưởng tiêu cực.
Chuyện kỳ
thị chủng tộc, mầu da, vân vân,
đã xảy ra và vì thế đã
bùng nổ những cuộc đấu tranh dữ
dội, đó là vì nạn nhân là
một đám đông. Nhưng các em bé
từ cloning mà bị kỳ thị, hoặc có
cảm giác bị kỳ thị, thì nỗi
đau khổ và phản ứng chống đối
trong cô đơn sẽ có thể là rất
tệ hại và đáng thương biết
mấy. Những điều này khi xảy ra sẽ
thành nghiệp nhân mới tạo trong kiếp
này của dòng sinh mệnh, chứ không phải
là nghiệp nhân mà Thần Thức khi gá
vào sinh vật cloning đã mang theo từ kiếp
trước. Như thế là chúng ta đã
góp phần tạo nên nỗi thống khổ cho
chúng sinh.
Cloning con
người là một vấn đề quá
mới mẻ nên chúng ta cũng chưa biết
rằng khi các em bé đó lớn lên,
những vấn đề khác về cơ thể
có diễn tiến bình thường như
một người do thai sanh không. Nếu thí
dụ qua một vài thế hệ cloning, cơ thể
con người vì đã được cấu
tạo một cách bất thường, có
thể thiếu hoặc dư chất gì đó,
mà biến đổi như những trái cây được
tháp giống, tuy trông vẫn giống trái
nguyên thủy, nhưng hình thể to lớn
bội phần. Côn trùng là loài thấp
sinh vẫn bình thường sinh trưởng từ
thời cổ đại là vì chúng
“thấp sanh” một cách thiên nhiên.
Cloning là thấp sanh nhân tạo, sự kiện
khác nhau này có nảy sinh vấn đề
gì gây nên tai hại là điều các
nhà khoa học chưa thể bảo đảm
một cách chắc chắn.
Vấn đề
hiện nay đang làm nhức nhối lương
tâm của loài người là nạn
nghèo khổ, thất học, thiếu ăn, thiếu
nước, chiến tranh, vân vân, và nhất
là nạn nhân mãn, phá thai, tại
nhiều quốc gia trên thế giới, nhất
là tại Phi Châu. Nếu thay vì nghiên
cứu để sinh sản ra người do cloning,
hãy dùng khả năng khoa học để
nghiên cứu phương cách giải quyết
những vấn nạn kể trên, khiến cho
toàn thể nhân loại đều được
sống một cuộc đời đáng sống,
có lẽ còn là việc cấp thiết
hơn nhiều.
Chúng tôi
xin trích một mẩu tin của đài BBC trong
tháng 9 năm 2005:
“Ngồi trong trung tâm
nhận đồ ăn của
- Tôi vẫn cho cháu
ăn uống đầy đủ, tôi ăn gì
thì nó ăn nấy, mỗi ngày một
lần. Mới hôm qua chúng tôi đã
ăn cháo yến mạch, còn ngày hôm
trước và kể cả 3 ngày hôm
trước nữa thì chúng tôi ăn
cháo bột mì.
Em bé Mohamed Nour’s này
cũng chưa phải là những người dân
khốn khổ ở khu vực Đông
Suy dinh
dưỡng triền miên là vấn đề
lớn nhất ở những vùng như địa
phương này. Nó không thuộc loại
đói đến chết lăn ngay ra, nhưng
nó ẩn tàng trong những bữa ăn thiếu
thốn. Các cháu thiếu hầu như tất
cả các loại sinh tố và khoáng chất
cần thiết để một đứa trẻ
có thể tăng trưởng cơ thể và
tinh thần một cách bình thường. Tỷ
lệ tử vong của nạn suy dinh dưỡng
triền miên là cứ 1000 em thì có 109 em
bị chết trong tuổi ấu niên, trong khi ở
Tây Ban Nha, trong số 1000 em, chỉ có 3 em chết
non.
Các bà
mẹ không nhìn thấy sự nguy hiểm đang
rình rập các cháu bé suy dinh
dưỡng, vì sự nguy hiểm cứ lùi
lũi tiến đến một cách yên lặng.
Dù có thấy con mình gầy rạc, nhưng
nó không ốm lăn ra, thế là họ
yên chí rằng chúng khỏe mạnh rồi.
Nhưng thật ra thì đứa bé đang
mất dần sức sống và từ từ lăn xuống
huyệt mộ.
Thưa quý thính giả,
Trong một
thế giới mà sự ngu dốt, nghèo khổ,
đói khát còn tràn ngập, có
lẽ Phật tử chúng ta cũng thấy cần
dành thì giờ, tiền bạc và những
bộ óc thông minh để tìm cách
cải tiến về nhiều mặt khác, ngõ
hầu làm giảm bớt nghèo khổ, tăng
trưởng mức sống thì như thế có
lẽ lại phục vụ hữu hiệu cho loài
người hơn là chuyện cloning.
Ban Biên Tập
www.thuvienhoasen.org
(Bài
này đã được phát thanh ngày 08
tháng 10 tại Nam California và 09 tháng 10,
2005 tại Houston Texas)