Bác Lê Đ́nh Thám Pháp danh Tâm Minh, tự Châu Hải

Câu chuyện đầu tuần

 

Tưởng niệm Bác Tâm Minh-Lê Đ́nh Thám

 

 

Kính thưa quí ACE Áo Lam.


Bác Lê Đ́nh Thám Pháp danh Tâm Minh, tự Châu Hải. Sinh năm Đinh Dậu 1897 tại làng Đông Mỹ(Phú Mỹ), Tổng Phú Khương, Phủ Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam, mệnh chung lúc 10:30 ngày 23.4. 1969 ( nhằm mồng 7 tháng 3 năm Kỷ Dậu) tại Hà Nội, hưởng thọ 73 tuổi.

Tuy bác là người sáng lập tổ chức Gia Đ́nh Phật Tử, nhưng công việc này chỉ là một phần rất nhỏ trong công nghiệp chấn hưng Đạo Pháp nước nhà thời bấy giờ . Có những sự kiện rất đáng chú ư trong cuộc đời của bác mà các hàng huynh trưởng phải quan tâm khảo cứu và học hỏi.

1.     Về học vấn, tài năng :

Bác cùng bào huynh là Lê Đ́nh Dương thọ giáo nho học trực tiếp với thân phụ là cụ Đông Các điện Đại học sĩ sung chức Binh bộ thượng thư LÊ Đ̀NH triều vua Tự Đức. Tuy tuổi c̣n nhỏ song cả hai đều thông đạt kinh sách văn chương thi phú . Riêng bác có biệt tài ứng đối nhanh, nổi tiếng thần đồng và là một danh kỳ (cờ) hữu hạng tại quê nhà.

Lớn lên bác theo tân học(Tây học) càng thông minh xuất chúng được thầy yêu bạn mến, luôn luôn đứng đầu lớp và thường chiếm hạng ưu việt trong tất cả các kỳ thi từ cấp tiểu học cho đến đại học. Bác tốt nghiệp thủ khoa bằng cấp Đông Dương Y sĩ năm 1916 tại trường Cao đẳng Y khoa Đông Dương Hà Nội, và Y khoa Bác sĩ ngạch Pháp quốc năm 1930 tại Y khoa đại học đường Hà Nội.

Bác ra trường nhằm lúc phong trào vua Duy Tân khởi nghĩa thất bại, bào huynh bác là Lê Đ́nh Dương bị đày lên Ban-mê-thuộc, bác bị nhà cầm quyền Pháp t́nh nghi theo dơi. Trong suốt thời gian làm việc tại các bệnh viện B́nh Thuận, Sông Cầu, Qui Nhơn, Tuy Hoà ( 1916-1923) ngoài công tác chuyên môn bác thường xuyên nghiên cứu Triết học, Nho, Y, lư, số.

2. Nhân duyên quy y Phật đạo:

Năm 1926, bác là Y sĩ điều trị tại bệnh viện Hội An (Quảng Nam) trong một lần viếng chùa Tam Thai, Ngũ Hành Sơn được đọc bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng ghi trên vách chùa mà bác hướng đến sự tham cứu về Phật giáo:

 

“ Bồ Đề bổn vô thọ

Minh cảnh diệc phi đài

bổn lai vô nhất vật

xứ nhạ trần ai ”

tạm dịch:

Bồ đề vốn không cây

Gương sáng cũng không đài

trước sau không một vật

bụi bặm bám vào đâu!

Năm 1928 bác thuyên chuyển về Huế làm Y sĩ trưởng Viện Bào chế và Vi trùng học Louis Pasteur, cộng tác với bác sĩ Normet, giám đốc Y tế Trung phần phát minh ra Sérum Normet được y giới Pháp-Việt đương thời trọng vọng.

Cùng năm ấy, bác lên chùa Trúc Lâm thỉnh giáo Hoà Thượng Giác Tiên về thâm nghĩa bài kệ đọc được ở chùa Tam Thai, rồi phát tâm thọ lễ quy y, thọ Ưu-bà-tắc giới pháp danh Tâm Minh, phát nguyện trường trai cùng Thượng Toạ Thích Mật Khế nghiên cứu giáo lư, học hỏi kinh điển, tụng kinh niệm Phật.

Đây là điểm mấu chốt đă rẽ một bước ngoặt lớn lao trong cuộc đời của bác, khi nh́n thấy và đọc bài kệ Vô tướng của Lục Tổ Huệ Năng trên vách đá chùa Tam Thai mà bác tham vấn Hoà Thượng Giác Tiên để hoàn toàn dâng hiến cuộc đời trong sự nghiệp hoằng dương chánh Pháp. Không ai dám b́nh luận rằng khi đứng trước vách đá đó bác có “ hoát nhiên đại ngộ ” như trong các truyền thuyết về Thiền Lâm hay không! Tương tự như Lục tổ khi nghe người tụng câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm ” mà từ biệt mẹ già đi cầu Pháp nơi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn; bác đă t́m đến Hoà Thượng Trúc Lâm để xin nghe những lời chỉ giáo, phát tâm Quy y, thọ giới và giữ trường trai từ đó. Diễn tiến tâm linh này xảy ra rất nhanh chóng như người con đă về đến nhà để thừa kế gia tài chánh Pháp. Nên nhớ lúc đó bác đang là một bác sĩ giỏi với ḷng từ bi tế độ sinh linh một cách nhiệt thành và không ngừng tham cầu học hỏi về Y thuật Tây phương và cũng quyết tâm tinh tấn tu hành tin cần cộng với việc đào tạo Tăng tài và xây dựng được toà chánh Pháp trong tâm thức của những cư sĩ thanh niên. Sự diễn tiến của bài kệ Vô Tướng lấy Không làm tông để quán chiếu lư Bát Nhă diệu kỳ vào sự sinh hoá của vạn loại hữu vi. Thay v́ giũ sạch trần cấu nơi núi vắng rừng hoang hay những cảnh Thiền môn tĩnh mịch bác càng xăn tay tiến bước làm việc nhiều lần hơn như một vị Y vương nơi chánh Pháp- chữa lành mọi bệnh khổ của thân và tâm của chúng sanh.

Năm 1929-1932, sau 2 năm liền thọ giáo với Hoà thượng Phước Huệ ở chùa Thập Tháp, B́nh Định. Cùng với phong trào Chấn Hưng Phật Giáo Trung Hoa của Thái Hư Đại Sư, bác cùng với chư vị Hoà Thượng Phước Huệ, Giác Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết đứng ra triệu tập 18 vị đồng đạo nghiên cứu các điều lệ xin thành lập Hội An Nam Phật Học do bác làm Hội trưởng dưới sự chứng minh sáng lập của chư Tôn Hoà Thượng kể trên và đặt trụ sở đầu tiên tại chùa Trúc Lâm. Bác bắt đầu thuyết Pháp tại chùa từ Quang, giảng giải kinh luận tại tư thất cho một số tín hữu nhiệt tâm cầu đạo, quí Hoà Thượng Giải Ngạn, Sư Bà Diệu Không, Hoà Thượng Minh Châu… lúc chưa xuất gia đă tham dự những khoá này.

Năm 1933, bác phụ trách giám đốc bệnh viện bài lao Huế. Lúc này, bác là một danh y có uy tín nhất tại Cố Đô.

Về Phật sự:

-         Bác khởi công trùng tu Tổ Đ́nh Từ Đàm, Huế làm trụ sở trung ương của Giáo hội.

-         Cử hành đại lễ Phật Đản (lúc đó là mồng 8 tháng 4 âm lịch) đầu tiên vô cùng trọng thể tại chùa Diệu Đế, Huế, làm bừng lên không khí hoạt động lễ hội Phật Giáo.

-         Chủ trương xuất bản Nguyệt san Viên Âm, cơ quan ngôn luận và truyền bá giáo lư của Hội do bác làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.

-         Thiết lập cơ sở đào tạo Tăng tài cấp Trung, Tiểu học tại chùa Bảo Quốc, Huế do Hoà Thượng Thích Trí Độ làm Đốc giáo(Chư Hoà Thượng Thiện Hoà, Trí Quang, Thiện Hoa, Thiện Siêu, Thiện Minh, Trí Tịnh, Nhật Liên… đều xuất thân từ trường này); cấp Đại học tại chùa Tây Thiên do chính bác phụ trách diễn giảng về Luận học và Triết lư Đông-Tây(Chư Hoà Thượng Đôn Hậu, Trí Thủ, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể… đều xuất thân từ trường này)

-         Xúc tiến thành lập các Tỉnh hội, Chi hội, Khuôn hội khắp nơi tại Trung phần, mở đầu là các Tỉnh hội Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngăi…

Năm 1934, tuy bác bận lo hành nghề Y, việc Hội, việc báo chí, Phật học viện rất bề bộn nhưng bác không lúc nào xao lăng việc tu học và thuyết giảng Phật Pháp. Chính nhờ các phương pháp tŕnh bày, giải thích Phật Pháp một cách lớp lang, hệ thống, hợp khế lư, khế cơ mà bác đă áp dụng mà một số đông đồng học, Cựu học cũng như Tân học, b́nh dân và trí thức đă hiểu Đạo Phật mộc cách đúng đắn. Bác thật xứng đáng là một vị Pháp sư cư sĩ quán triệt các Tông, thuyết giáo vô ngại. Khéo đưa Phật Pháp ra giữa ánh sáng hoằng hoá vô cùng.

3. Bác là thầy của những bậc thầy:

Các thầy kể rằng, trước khi bác đăng đàn diễn nói kinh điển bác giữ lễ như Pháp đảnh lễ chư Tăng, bậc Chúng trung tôn trong ba ngôi Tam bảo. Cố Hoà Thượng Thiện Hoa đă tán thán công đức bác trong bộ Phật học Phổ thông, nhờ cấu trúc bài vở, hệ thống mạch lạc mà chư Hoà Thượng đă liễu nghĩa chánh Pháp một cách mau lẹ. Hoà Thượng Thiện Hoa Đă sưu tập những bài vở ấy để ra công hoàn thành bộ Phật Học Phổ Thông nhiều tập, là cây thang giáo lư mẫu mực trong công nghiệp hoằng truyền chánh Pháp của Ngài. Các bậc Nhất đại Tôn sư như Hoà Thượng Thiện Hoà,Thượng nhân Trí Quang,HT Thiện Siêu, chư thượng thủ trong Giáo Hội như HT Đôn Hậu,HT Trí Thủ…một thời từng ṭng học theo bác. Tam Tạng kinh điển ngoài việc học vấn làu thông, ngoại ngữ văn tự thấu triệt ra c̣n cần phải tự chứng, tự độ mới dung thông các Pháp để phát ra tiếng Sư Tử Hống thuyết giảng đối trước Tăng già giáo phẩm biện thuyết vô ngại.

Mùa Đông năm 1934 Hoà Thượng Giác Tiên viên tịch. Ư thức được trách nhiệm hoằng dương chánh Pháp và duy tŕ sinh hoạt Giáo Hội, nên trong lời ai điếu Hoà Thượng Bổn sư bác đă viết 2 câu đối rất chỉnh về cú pháp và huyền nghĩa để trải tâm ḿnh :

“ KIẾN TƯỚNG NGUYÊN VỌNG, KIẾN TÁNH NGUYÊN CHƠN. VIÊN GIÁC DIỆU TÂM NINH HỮU NGĂ.

CHÚC PHÁP LINH TRUYỀN, CHÚC SANH LINH ĐỘ. THỪA ĐƯƠNG DI HUẤN KHỞI VÔ NHÂN ”

Tạm dịch:

“ Tướng các Pháp nguyên vọng, tánh các Pháp vốn chơn, Niết Bàn diệu tâm là chơn Ngă. ( chỗ viết Hoà Thượng đâu có mất c̣n, xin chỉnh lại vế cuối)

Chánh Pháp cần phải truyền, Chúng sanh nên phải độ, thừa nương di huấn khởi Không tâm” (có chỗ giải thích “ Lời di huấn con nguyện gánh vác,” ở vế cuối)

Chúng ta thấy sự kiến tánh, liễu ngộ của bác rất rơ ràng lúc sinh thời và trước khi từ trần qua những cú pháp “ Vô Ngă- hữu Ngă ; Khởi không tâm; Vô thường thị Thường…” Phải chăng các vị Thiền sư thường biểu thị những hành vi bộc lộ đơn giản hay chỉ thốt lên trong vài câu chữ mà phác hoạ nên đại Đạo mênh mông!

Năm 1935, để thích ứng với nhu cầu phát triển của Giáo Hội, bảng Điều Lệ của Giáo Hội được tu chỉnh qua Quyết Nghị của Đại Hội Đồng, một Ban Tổng Trị Sự được thiết lập tại Huế trực tiếp điều hành các Tỉnh hội, và năm nào bác cũng được Đại hội tín nhiệm công cử vào chức vụ Hội trưởng hoặc Cố vấn để điều hành Phật sự chung. Cũng mùa thu năm 1935, bác dời nhà từ bệnh viện Huế đến số 31 đường Nguyễn Hoàng (dốc Bến Ngự) tiếp tục giảng kinh, viết báo, quy tụ một số thanh niên Phật tử trí thức thành lập Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục, sáng lập Gia Đ́nh Phật Hoá Phổ, tiền thân của Gia Đ́nh Phật Tử ngày nay, nhằm duy tŕ Đạo đức, xây dựng chánh tín cho đàn hậu tấn.

Ngày nay, ở Trung phần và các chùa miền Trung tại miền Nam c̣n duy tŕ h́nh thức sinh hoạt tu học theo Khuôn hội thực hiện hiệu quả những tiêu chí của Phong trào Chấn hưng đề ra như Văn hồi quy giới-đào tạo Tăng tài, giữ ǵn Thiền môn thanh tịnh và phát huy tinh thần hộ pháp-vệ đạo kiên cường trong giới cư sĩ, sinh hoạt khuôn hội c̣n giữ ǵn tinh thần đoàn kết, tương trợ, tu học, đưa con em đến với Gia Đ́nh Phật tử, bảo trợ, cố vấn cho GĐPT, và sự liên thuộc giữa Khuôn hội và GĐPT càng làm cho Phật giáo mạnh mẽ vững bền hơn.

Ngoài ra, ảnh hưởng phong trào Chấn hưng Phật Giáo Trung Hoa qua nhiều năm nghiên cứu kế hoạch và vận động phương tiện, bác quyết tâm xây dựng nền móng lâu bền cho các cơ sở đào tạo Tăng tài. Năm 1944, bác sắp xếp di chuyển các Phật Học Viện lên thiết trí tại Kim Sơn, thành lập Ṭng Lâm Kim Sơn, Huế nhưng thời cuộc không cho phép nên công tác đành tạm ngưng sau hai năm hoạt động.

Nhờ công đức của bác, tài thí và Pháp thí, chủ trương, duy tŕ, phát triển mà An Nam Phật học hội, Nguyệt san Viên Âm và các Phật học viện đă vượt khỏi mọi thăng trầm thử thách, mọi chướng ngại thế gian, gây được thanh thế lớn giữa trào lưu phục hưng Đạo Pháp, phục hưng Dân tộc, phát triển Phật Giáo nước nhà từ chỗ suy vong đến lúc hưng thịnh như ngày nay.

Một ḿnh bác gánh lo mọi việc Đời Đạo song hành trong một chơn thể - bác cũng chỉ có 24 giờ mỗi ngày như mọi người nhưng làm rất nhiều việc từ trí óc, tinh thần cho đến sự đi lại hoạt động của thể xác như con thoi không ngừng, hết ḷng phục vụ Đạo Pháp nhân quần không hề mỏi mệt và nhiệm vụ nào cũng xuất sắc chu toàn.Chính chỗ này các Huynh trưởng nên t́m hiểu và học hỏi bác đă sắp xếp công việc theo phương pháp- thời khoá như thế nào mà đa năng hiệu quả như vậy.

Năm 1945, sau cuộc đảo chính Nhật, bác được chính phủ Trần Trọng Kim mời giữ chức vụ Giám Đốc Y tế Trung Phần kiêm Giám Đốc bệnh viện Huế.

Mùa đông năm 1946, cuộc chiến bùng nổ, dân chúng Huế tản cư, bác ùng gia đ́nh cũng tản cư về nguyên quán Quảng Nam, tham gia kháng chiến chống Pháp.

Từ năm 1947-1949, bác làm Chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh kháng chiến Miền Nam Trung Bộ tại Liên Khu V và tập họp một số cựu đoàn viên Thanh niên Phật Học Đức Dục, cựu huynh trưởng Gia Đ́nh Phật Hoá Phổ, cựu Hội viên Hội Phật học cùng những người trí thức kháng chiến chống Pháp thành lập phong trào Phật Giáo và Dân Chủ Mới do chính bác chủ tŕ nghiên cứu và hướng dẫn tại Bồng Sơn, B́nh Định.

Vừa thoát qua 80 năm đô hộ của Thực dân Pháp, nay Pháp đưa quân trở lại ḥng xâm lược Việt Nam lần nữa. Trong cơn quốc biến lẽ nào Phật tử phải chịu thúc thủ trước hoạ ngoại xâm. Bác đă tham gia chính trường trong chức năng Y tế; tham gia kháng chiếntrong nhiệm vụ Chủ tịch hành chánh không ngại ngần rồi nhân đó thành lập Phong trào Phật Giáo và Dân Chủ mới. Yêu nước, thương dân, đem Đạo Phật vào đời để kinh bang, tế thế… chí nguyện ấy thể hiện đă rơ ràng trongtinh thần xuất sử của chí sĩ và tinh thần nhập thế của Đạo Phật. Cho nên, khi phát biểu “ Huynh trưởng có nên tham chính, làm chính trị không!” th́ ta phải phối hợp tinh thần tham chính của Phật tử Lư Công Uẩn, các vua Trần… và gần nhất là bác Tâm Minh- Lê Đ́nh Thám đă tham chính như thế nào cho chính xác.

Mùa Hạ năm 1949, Bác nhận được điện mời ra miền Bắc dự Hội Nghị Kháng Chiến Hành Chánh toàn quốc rồi được đề bạt làm Chủ tịch Ủy Ban Bảo Vệ Hoà B́nh Thế Giới của Việt Nam, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Ủy viên Hội Đồng Hoà B́nh Thế Giới, Phó Hội trưởng Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam tại Hà Nội và đă xuất ngoại tham gia nhiều hội nghị quan trọng về phong trào Hoà b́nh thế giới, về Phật Giáo thế giới, về Khoa học thế giới… Mặc dù việc đời đă rất chu toàn kiệt xuất nhưng bác luôn luôn xem việc Đạo là phần chính yếu và an nhiên tổ chức giảng dạy Phật Pháp, dịch thuật Kinh điển dù trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.

Riêng việc viết và dịch Kinh sách, ngoài sự hoàn thành bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm, Luận Nhân minh đă được xuất bản, những bản thảo t́m thấy c̣n có bộ Luận Đại Thừa Khởi Tín, Bát thức quy củ tụng, tập Phật học thường thức, tập Phật Tổ Tâm Kinh, tập Lịch Sử Phật Giáo…

Cuối Xuân năm Quí Dậu 1969 bác ngoạ bệnh, được đưa vào chữa trị tại Bệnh viện Thống Nhất Việt-Xô Hà Nội, bác luôn tỉnh táo vui vẻ chào hỏi mọi người đến thăm. Đặc biệt, sáng ngày mồng 7 thánh 3 âm lịch nhằm 23/4/1969) bác cho mời Hoà Thượng Đôn Hậu đến ( lúc đó Hoà Thượng bị đưa ra Bắc năm Mậu Thân 1968) và bảo hai cô Y tá đỡ bác ngồi dậy ngay ngắn rồi cho biết sức của bác rất yếu, khó qua khỏi. Cảm thông ngay, Hoà Thượng liền thuyết giảng lư Vô thường, bác nghiêm trang, yên lặng đôi mắt lim dim lắng nghe. Sau gần một giờ thuyết Pháp, Hoà Thượng dứt lời, bác liền nói: “ Vâng, tuy là vô thường cũng chính là Thường(Vô thường thị Thường) ” xong, bác chắp tay xá hư không ba lần rồi an nhiên thị tịch vào lúc 10 giờ 30 phút trong tư thế Kim cang toạ, thọ 73 tuổi.

Tết Mậu Thân 1968, trong cuộc Tổng tấn công vào Huế, Bắc quân khi rút chạy đă bắt Hoà Thượng Đôn Hậu mang đi- Hoà Thượng đă hội ngộ bác Tâm Minh nơi chùa Quán Sứ để rồi chứng kiếnvà kể lại cảnh an tường thị tịch của một vị Cư Sĩ lỗi lạc, chí thành của Phật Giáo Việt Nam. Biết trước ḿnh sẽ ra đi, cung thỉnh Hoà Thượng chứng minh thuyết giáo, ngồi trong tư thế kiết già mà thăng hoá, cảnh tượng này đă nói rất nhiều điều mà hàng hậu tấn phải giật ḿnh suy ngẫm. Bậc đại trượng phu nâng lên được, bỏ xuống được như không, như huyễn, nhưng tấm ḷng hy sinh v́ Đạo, v́ chúng sanh th́ không lay chuyển cho đến khi nhắm mắt ĺa đời với cơi tâm thanh thản an nhiên.

Quí ACE Áo Lam thân kính.

Ai có vào chùa Từ Đàm, đều thấy ngôi tượng bán thân của bác tôn trí trong một vườn hoa nhỏ để tưởng nhớ công lao đối Phật Giáo Trung phần. Thập niên 1990, tại quê nhà Đà Nẵng có con đương mang tên Lê Đ́nh Thám và tại Quận B́nh Tân, Saigon tên bác Tâm Minh cũng được đặt cho một con đường. Đó là về mặt Xă Hội hữu công. Ban Hướng Dẫn Trung Ương GĐPT Quốc nội sau ngày Đại hội thu hẹp 1995 đă chọn ngày Húy Kỵ của bác làm ngày Hiệp Kỵ chung cho GĐPT toàn quốc cho đến nay. Mới đây, Hoà Thượng Thích Hạnh Hải trụ tŕ chùa Viên Thông Quận 11, Saigon, hậu duệ của ḍng họ LÊ Đ̀NH đă về lại Quảng Nam dựng lập nên tự đường để thờ phụng bác.

Trong tim mỗi Huynh trưởng GĐPT chúng ta đang đập cùng nhịp tim đạo mạch kể từ ngày bác phó chúc cho tuổi trẻ tu hành, vệ đạo qua h́nh thức Gia đ́nh Phật Hoá Phổ- Gia Đ́nh Phật Tử đến ngày nay, nhưng để hiểu rơ về bác th́ chưa có một văn kiện sưu khảo, nghiên cứu, hội thảo nào làm sáng tỏ tài năng, Đạo hạnh và công hạnh của bác. Bởi v́ chưa hiểu rơ tinh thần vị sáng lập GĐPT mà đàn hậu tấn ngày nay đi lệch hướng theo tổn hữu ác đảng để bị chúng khống chế, điều khiển gây chia rẽ GĐPT . Sự hồi phục của GĐPT trong gọng kềm của Công An và các cấp cầm quyền Cộng sản rất ư là khó khăn, có những huynh trưởng cao niên ăn rồi phải đi làm việc với Công An mỗi ngày,năm này tháng nọ, vợ con buồn lo kêu khóc nhưng vẫn không hề nao núng, không một tiếng than van cương quyết giữ vững sự tồn sinh của tổ chức. Rồi cho đến một ngày bị đàn em của ḿnh vu khống là “ Bán đứng tổ chức”không bằng, không cớ. Hôm nay, ngày Hiệp Kỵ GĐPT VN, có hơn 350 huynh trưởng khắp các tỉnh, thị hội về mặc dù là ngày thứ hai đầu tuần rất vắng, Công an vẫn đứng phủ sân chùa như bao nhiêu năm vẫn chưa thay đổi. Các huynh trưởng cao niên vẫn cười hiền hoà, chân t́nh trong ngày hội ngộ trùng hoan.

Có lúc nào quí ACE nhớ nghĩ đến bác tâm Minh – Lê Đ́nh Thám! Để thấy ḷng ḿnh hỗ thẹn v́ chính ḿnh đă phân rẽ anh em, rối loạn huyết mạch là điều không phải, rồi một ngày đẹp trời ngồi chung lại dưới một mái chùa để thành toàn di nguyện của bác Tâm Minh.

Trân trọng,

Nhóm Áo Lam

 

( những câu chữ nghiêng là thiển ư của nhóm Áo Lam)