Câu chuyện đầu tuần
Tưởng niệm Bác Tâm Minh-Lê
Đ́nh Thám
Kính thưa quí ACE Áo Lam.

Bác Lê Đ́nh Thám Pháp
danh Tâm Minh, tự Châu Hải. Sinh năm Đinh Dậu 1897 tại làng Đông
Mỹ(Phú Mỹ), Tổng Phú Khương, Phủ
Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam, mệnh chung lúc 10:30 ngày
23.4. 1969 ( nhằm mồng 7 tháng 3 năm
Kỷ Dậu) tại Hà Nội, hưởng thọ 73 tuổi.
Tuy bác là người sáng lập tổ chức
Gia Đ́nh Phật Tử, nhưng công việc này chỉ là
một phần rất nhỏ trong công nghiệp chấn hưng
Đạo Pháp nước nhà thời bấy giờ
. Có những sự kiện rất đáng
chú ư trong cuộc đời của bác mà các hàng huynh trưởng
phải quan tâm khảo cứu và học hỏi.
1. Về học vấn, tài năng :
Bác cùng bào huynh là Lê Đ́nh Dương thọ
giáo nho học trực tiếp với thân phụ là cụ Đông Các điện Đại
học sĩ sung chức Binh bộ thượng thư LÊ
Đ̀NH triều vua Tự Đức. Tuy tuổi c̣n
nhỏ song cả hai
đều thông đạt kinh sách văn chương thi phú
. Riêng bác có biệt tài ứng đối nhanh,
nổi tiếng thần đồng và là một danh kỳ
(cờ) hữu hạng tại quê nhà.
Lớn lên bác theo tân học(Tây
học) càng thông minh xuất chúng được thầy yêu
bạn mến, luôn luôn đứng đầu lớp và
thường chiếm hạng ưu việt trong tất
cả các kỳ thi từ cấp tiểu học cho
đến đại học. Bác tốt nghiệp thủ
khoa bằng cấp Đông Dương Y sĩ năm 1916
tại trường Cao đẳng Y khoa Đông
Dương Hà Nội, và Y khoa Bác sĩ ngạch Pháp quốc
năm 1930 tại Y khoa đại học đường
Hà Nội.
Bác ra trường nhằm lúc phong trào vua
Duy Tân khởi nghĩa thất bại, bào huynh bác là Lê
Đ́nh Dương bị đày lên Ban-mê-thuộc, bác
bị nhà cầm quyền Pháp t́nh nghi theo dơi. Trong suốt
thời gian làm việc tại các bệnh viện B́nh
Thuận, Sông Cầu, Qui Nhơn, Tuy Hoà ( 1916-1923) ngoài công tác
chuyên môn bác thường xuyên nghiên cứu Triết học,
Nho, Y, lư, số.
2. Nhân duyên quy y
Phật đạo:
Năm 1926, bác là Y sĩ
điều trị tại bệnh viện Hội An
(Quảng Nam) trong một lần viếng chùa Tam Thai, Ngũ
Hành Sơn được đọc bài kệ của
Lục Tổ Huệ Năng ghi trên vách chùa mà bác
hướng đến sự tham cứu về Phật
giáo:
“ Bồ Đề bổn vô thọ
Minh cảnh diệc phi đài
bổn lai vô nhất vật
hà xứ nhạ trần ai ”
tạm dịch:
Bồ đề vốn không cây
Gương sáng cũng không đài
trước sau không một vật
bụi bặm bám vào đâu!
Năm
1928 bác thuyên chuyển về Huế làm Y sĩ trưởng
Viện Bào chế và Vi trùng học Louis Pasteur, cộng tác
với bác sĩ Normet, giám đốc Y tế Trung phần
phát minh ra Sérum Normet được y giới Pháp-Việt
đương thời trọng vọng.
Cùng năm ấy, bác lên
chùa Trúc Lâm thỉnh giáo Hoà Thượng Giác Tiên về thâm
nghĩa bài kệ đọc được ở chùa Tam
Thai, rồi phát tâm thọ lễ quy y, thọ Ưu-bà-tắc
giới pháp danh Tâm Minh, phát nguyện trường trai cùng
Thượng Toạ Thích Mật Khế nghiên cứu giáo lư,
học hỏi kinh điển, tụng kinh niệm Phật.
Đây là điểm mấu chốt đă
rẽ một bước ngoặt lớn lao trong cuộc
đời của bác, khi nh́n thấy và đọc bài
kệ Vô tướng của Lục Tổ Huệ Năng
trên vách đá chùa Tam Thai mà bác tham vấn Hoà Thượng
Giác Tiên để hoàn toàn dâng hiến cuộc đời
trong sự nghiệp hoằng dương chánh Pháp. Không ai
dám b́nh luận rằng khi đứng trước vách
đá đó bác có “ hoát nhiên đại ngộ ” như trong
các truyền thuyết về Thiền Lâm hay không!
Tương tự như Lục tổ khi nghe người
tụng câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm ” mà
từ biệt mẹ già đi cầu Pháp nơi Ngũ
Tổ Hoằng Nhẫn; bác đă t́m đến Hoà
Thượng Trúc Lâm để xin nghe những lời
chỉ giáo, phát tâm Quy y, thọ giới và giữ trường
trai từ đó. Diễn tiến tâm linh này xảy ra
rất nhanh chóng như người con đă về
đến nhà để thừa kế gia tài chánh Pháp. Nên
nhớ lúc đó bác đang là một bác sĩ giỏi
với ḷng từ bi tế độ sinh linh một cách
nhiệt thành và không ngừng tham cầu học hỏi
về Y thuật Tây phương và cũng quyết tâm tinh
tấn tu hành tin cần cộng với việc đào
tạo Tăng tài và xây dựng được toà chánh Pháp
trong tâm thức của những cư sĩ thanh niên. Sự
diễn tiến của bài kệ Vô Tướng lấy
Không làm tông để quán chiếu lư Bát Nhă diệu kỳ
vào sự sinh hoá của vạn loại hữu vi. Thay v́
giũ sạch trần cấu nơi núi vắng rừng
hoang hay những cảnh Thiền môn tĩnh mịch bác càng
xăn tay tiến bước làm việc nhiều lần
hơn như một vị Y vương nơi chánh Pháp-
chữa lành mọi bệnh khổ của thân và tâm của
chúng sanh.
Năm 1929-1932, sau 2
năm liền thọ giáo với Hoà thượng
Phước Huệ ở chùa Thập Tháp, B́nh Định. Cùng
với phong trào Chấn Hưng Phật Giáo Trung Hoa của
Thái Hư Đại Sư, bác cùng với chư vị Hoà
Thượng Phước Huệ, Giác Tiên, Giác Nhiên, Tịnh
Hạnh, Tịnh Khiết đứng ra triệu tập 18
vị đồng đạo nghiên cứu các điều
lệ xin thành lập Hội An Nam Phật Học do bác làm
Hội trưởng dưới sự chứng minh sáng
lập của chư Tôn Hoà Thượng kể trên và
đặt trụ sở đầu tiên tại chùa Trúc Lâm. Bác bắt đầu thuyết Pháp tại
chùa từ Quang, giảng giải kinh luận tại tư
thất cho một số tín hữu nhiệt tâm cầu đạo,
quí Hoà Thượng Giải Ngạn, Sư Bà Diệu Không,
Hoà Thượng Minh Châu… lúc chưa xuất gia đă tham dự
những khoá này.
Năm 1933, bác phụ trách giám đốc
bệnh viện bài lao Huế. Lúc này, bác là một danh y có uy tín nhất tại Cố
Đô.
Về Phật sự:
-
Bác khởi công
trùng tu Tổ Đ́nh Từ Đàm, Huế làm trụ sở
trung ương của Giáo hội.
-
Cử hành đại
lễ Phật Đản (lúc đó là mồng 8 tháng 4 âm lịch)
đầu tiên vô cùng trọng thể tại chùa Diệu Đế,
Huế, làm bừng lên không khí hoạt động lễ hội
Phật Giáo.
-
Chủ trương
xuất bản Nguyệt san Viên Âm, cơ quan ngôn luận và
truyền bá giáo lư của Hội do bác làm chủ nhiệm kiêm
chủ bút.
-
Thiết lập
cơ sở đào tạo Tăng tài cấp Trung, Tiểu học
tại chùa Bảo Quốc, Huế
do Hoà Thượng Thích Trí Độ làm Đốc giáo(Chư
Hoà Thượng Thiện Hoà, Trí Quang, Thiện Hoa, Thiện
Siêu, Thiện Minh, Trí Tịnh, Nhật Liên… đều xuất
thân từ trường này); cấp Đại học tại
chùa Tây Thiên do chính bác phụ trách diễn giảng về Luận
học và Triết lư Đông-Tây(Chư Hoà Thượng Đôn
Hậu, Trí Thủ, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật
Thể… đều xuất thân từ trường này)
-
Xúc tiến thành
lập các Tỉnh hội, Chi hội, Khuôn hội khắp nơi
tại Trung phần, mở đầu là các Tỉnh hội
Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngăi…
Năm 1934, tuy bác bận lo
hành nghề Y, việc Hội, việc báo chí, Phật học
viện rất bề bộn nhưng bác không lúc nào xao lăng
việc tu học và thuyết giảng Phật Pháp. Chính nhờ các phương pháp tŕnh bày,
giải thích Phật Pháp một cách lớp lang, hệ thống,
hợp khế lư, khế cơ mà bác đă áp dụng mà một
số đông đồng học, Cựu học cũng như
Tân học, b́nh dân và trí thức đă hiểu Đạo Phật
mộc cách đúng đắn. Bác thật xứng
đáng là một vị Pháp sư cư sĩ quán triệt các
Tông, thuyết giáo vô ngại. Khéo đưa Phật Pháp
ra giữa ánh sáng hoằng hoá vô cùng.
3. Bác là thầy của những bậc
thầy:
Các
thầy kể rằng, trước khi bác đăng
đàn diễn nói kinh điển bác giữ lễ như
Pháp đảnh lễ chư Tăng,
bậc Chúng trung tôn trong ba ngôi Tam bảo. Cố Hoà
Thượng Thiện Hoa đă tán thán công đức bác
trong bộ Phật học Phổ thông, nhờ cấu trúc
bài vở, hệ thống mạch lạc mà chư Hoà
Thượng đă liễu
nghĩa chánh Pháp một cách mau lẹ. Hoà Thượng
Thiện Hoa Đă sưu tập những bài vở ấy
để ra công hoàn thành bộ Phật Học Phổ Thông
nhiều tập, là cây thang giáo lư mẫu mực trong công
nghiệp hoằng truyền chánh Pháp của Ngài. Các bậc
Nhất đại Tôn sư như Hoà Thượng Thiện
Hoà,Thượng nhân Trí Quang,HT Thiện Siêu, chư thượng
thủ trong Giáo Hội như HT Đôn Hậu,HT Trí Thủ…một
thời từng ṭng học theo bác. Tam Tạng kinh điển
ngoài việc học vấn làu thông, ngoại ngữ văn
tự thấu triệt ra c̣n cần phải tự chứng,
tự độ mới dung thông các Pháp để phát ra tiếng
Sư Tử Hống thuyết giảng đối trước
Tăng già giáo phẩm biện thuyết vô ngại.
Mùa Đông năm 1934 Hoà Thượng
Giác Tiên viên tịch. Ư thức
được trách nhiệm hoằng dương chánh Pháp và
duy tŕ sinh hoạt Giáo Hội, nên trong lời ai điếu
Hoà Thượng Bổn sư bác đă viết 2 câu đối rất chỉnh
về cú pháp và huyền nghĩa để trải tâm ḿnh :
“ KIẾN TƯỚNG NGUYÊN VỌNG, KIẾN TÁNH
NGUYÊN CHƠN. VIÊN GIÁC DIỆU TÂM NINH HỮU NGĂ.
CHÚC PHÁP LINH TRUYỀN, CHÚC SANH LINH ĐỘ.
THỪA ĐƯƠNG DI HUẤN KHỞI VÔ NHÂN
”
Tạm dịch:
“ Tướng các Pháp nguyên vọng, tánh các Pháp vốn chơn, Niết Bàn diệu tâm là chơn Ngă. (có chỗ viết Hoà Thượng đâu có mất c̣n, xin chỉnh lại vế cuối)
Chánh Pháp cần phải truyền, Chúng
sanh nên phải độ, thừa nương di huấn khởi
Không tâm” (có chỗ giải thích “ Lời
di huấn con nguyện gánh vác,” ở vế cuối)
Chúng ta
thấy sự kiến tánh, liễu ngộ của bác rất rơ ràng
lúc sinh thời và trước khi từ trần qua những
cú pháp “ Vô Ngă- hữu Ngă ; Khởi không tâm; Vô thường
thị Thường…” Phải chăng các vị Thiền
sư thường biểu thị những hành vi bộc lộ đơn giản hay chỉ
thốt lên trong vài câu chữ mà phác hoạ nên đại
Đạo mênh mông!
Năm 1935, để thích ứng với
nhu cầu phát triển của Giáo Hội, bảng Điều
Lệ của Giáo Hội được tu chỉnh qua Quyết
Nghị của Đại Hội Đồng, một Ban Tổng
Trị Sự được thiết lập tại Huế
trực tiếp điều hành các Tỉnh hội, và năm
nào bác cũng được Đại hội tín nhiệm
công cử vào chức vụ Hội trưởng hoặc Cố
vấn để điều hành Phật sự chung. Cũng
mùa thu năm 1935, bác dời nhà từ bệnh viện Huế
đến số 31 đường Nguyễn Hoàng (dốc
Bến Ngự) tiếp tục giảng kinh, viết báo, quy
tụ một số thanh niên Phật tử trí thức thành
lập Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục, sáng
lập Gia Đ́nh Phật Hoá Phổ, tiền thân của Gia
Đ́nh Phật Tử ngày nay, nhằm duy tŕ Đạo đức,
xây dựng chánh tín cho đàn hậu tấn.
Ngày nay,
ở Trung phần và các chùa miền Trung tại miền Nam
c̣n duy tŕ h́nh thức sinh hoạt tu học theo Khuôn hội thực
hiện hiệu quả những tiêu chí của Phong trào Chấn
hưng đề ra như Văn hồi quy giới-đào tạo
Tăng tài, giữ ǵn Thiền môn thanh tịnh và phát huy tinh
thần hộ pháp-vệ đạo kiên cường trong giới
cư sĩ, sinh hoạt khuôn hội c̣n giữ ǵn tinh thần
đoàn kết, tương trợ, tu học, đưa con
em đến với Gia Đ́nh Phật tử, bảo trợ,
cố vấn cho GĐPT, và sự liên thuộc giữa Khuôn
hội và GĐPT càng làm cho Phật giáo mạnh mẽ vững
bền hơn.
Ngoài ra, ảnh hưởng phong trào Chấn
hưng Phật Giáo Trung Hoa qua nhiều năm nghiên cứu kế
hoạch và vận động phương tiện, bác quyết
tâm xây dựng nền móng lâu bền cho các cơ sở đào
tạo Tăng tài. Năm 1944, bác sắp xếp di chuyển
các Phật Học Viện lên thiết trí tại Kim Sơn,
thành lập Ṭng Lâm Kim Sơn, Huế nhưng thời cuộc
không cho phép nên công tác đành tạm ngưng sau hai năm hoạt
động.
Nhờ công đức của bác, tài thí và
Pháp thí, chủ trương, duy tŕ, phát triển mà An Nam Phật
học hội, Nguyệt san Viên Âm và các Phật học viện
đă vượt khỏi mọi thăng trầm thử thách,
mọi chướng ngại thế gian, gây được
thanh thế lớn giữa trào lưu phục hưng Đạo
Pháp, phục hưng Dân tộc, phát triển Phật Giáo nước
nhà từ chỗ suy vong đến lúc hưng thịnh như
ngày nay.
Một ḿnh bác gánh lo mọi việc Đời
Đạo song hành trong một chơn thể - bác cũng
chỉ có 24 giờ mỗi ngày như mọi người nhưng
làm rất nhiều việc từ trí óc, tinh thần cho đến
sự đi lại hoạt động của thể xác
như con thoi không ngừng, hết ḷng phục vụ Đạo
Pháp nhân quần không hề mỏi mệt và nhiệm vụ
nào cũng xuất sắc chu toàn.Chính chỗ này các Huynh trưởng
nên t́m hiểu và học hỏi bác đă sắp xếp công
việc theo phương pháp- thời khoá như thế nào mà
đa năng hiệu quả như vậy.
Năm 1945, sau cuộc đảo chính Nhật,
bác được chính phủ Trần Trọng Kim mời
giữ chức vụ Giám Đốc Y tế Trung Phần
kiêm Giám Đốc bệnh viện Huế.
Mùa đông năm 1946, cuộc
chiến bùng nổ, dân chúng Huế tản cư, bác ùng gia đ́nh
cũng tản cư về nguyên quán Quảng
Từ năm 1947-1949, bác làm Chủ tịch
Ủy Ban Hành Chánh kháng chiến Miền Nam Trung Bộ tại
Liên Khu V và tập họp một số cựu đoàn viên
Thanh niên Phật Học Đức Dục, cựu huynh trưởng
Gia Đ́nh Phật Hoá Phổ, cựu Hội viên Hội Phật
học cùng những người trí thức kháng chiến chống
Pháp thành lập phong trào Phật Giáo và Dân Chủ Mới do
chính bác chủ tŕ nghiên cứu và hướng dẫn tại
Bồng Sơn, B́nh Định.
Vừa thoát qua 80 năm đô hộ của Thực dân
Pháp, nay Pháp đưa quân trở lại ḥng xâm lược Việt
Mùa Hạ năm 1949, Bác nhận được
điện mời ra miền Bắc dự Hội Nghị
Kháng Chiến Hành Chánh toàn quốc rồi được đề
bạt làm Chủ tịch Ủy Ban Bảo Vệ Hoà B́nh Thế
Giới của Việt Nam, Ủy viên Đoàn Chủ tịch
Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Ủy
viên Hội Đồng Hoà B́nh Thế Giới, Phó Hội trưởng
Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam tại Hà Nội
và đă xuất ngoại tham gia nhiều hội nghị
quan trọng về phong trào Hoà b́nh thế giới, về Phật
Giáo thế giới, về Khoa học thế giới… Mặc
dù việc đời đă rất chu toàn kiệt xuất
nhưng bác luôn luôn xem việc Đạo là phần chính yếu
và an nhiên tổ chức giảng dạy Phật Pháp, dịch
thuật Kinh điển dù trong những hoàn cảnh khó khăn
nhất.
Riêng việc viết và dịch Kinh sách,
ngoài sự hoàn thành bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm, Luận
Nhân minh đă được xuất bản, những bản
thảo t́m thấy c̣n có bộ Luận Đại Thừa
Khởi Tín, Bát thức quy củ tụng, tập Phật học
thường thức, tập Phật Tổ Tâm Kinh, tập
Lịch Sử Phật Giáo…
Cuối Xuân năm Quí Dậu 1969 bác ngoạ
bệnh, được đưa vào chữa trị tại
Bệnh viện Thống Nhất
Việt-Xô Hà Nội, bác luôn tỉnh táo vui vẻ chào hỏi
mọi người đến thăm. Đặc biệt,
sáng ngày mồng 7 thánh 3 âm lịch nhằm 23/4/1969) bác cho mời
Hoà Thượng Đôn Hậu đến ( lúc đó Hoà Thượng
bị đưa ra Bắc năm Mậu Thân 1968) và bảo
hai cô Y tá đỡ bác ngồi
dậy ngay ngắn rồi cho biết sức của bác rất
yếu, khó qua khỏi. Cảm thông ngay, Hoà Thượng
liền thuyết giảng lư Vô thường, bác nghiêm trang,
yên lặng đôi mắt lim dim lắng nghe. Sau gần
một giờ thuyết Pháp, Hoà Thượng dứt lời,
bác liền nói: “ Vâng, tuy là vô thường cũng chính là Thường(Vô
thường thị Thường) ” xong, bác chắp tay xá hư
không ba lần rồi an nhiên thị tịch vào lúc 10 giờ
30 phút trong tư thế Kim cang toạ, thọ 73 tuổi.
Tết
Mậu Thân 1968, trong cuộc Tổng tấn công vào Huế, Bắc quân khi
rút chạy đă bắt Hoà Thượng Đôn Hậu mang đi-
Hoà Thượng đă hội ngộ bác Tâm Minh nơi chùa Quán
Sứ để rồi chứng kiếnvà kể lại cảnh
an tường thị tịch của một vị Cư Sĩ
lỗi lạc, chí thành của Phật Giáo Việt Nam. Biết
trước ḿnh sẽ ra đi, cung thỉnh Hoà Thượng
chứng minh thuyết giáo, ngồi trong tư thế kiết
già mà thăng hoá, cảnh tượng này đă nói rất
nhiều điều mà hàng hậu tấn phải giật ḿnh
suy ngẫm. Bậc đại trượng phu nâng lên được,
bỏ xuống được như không, như huyễn,
nhưng tấm ḷng hy sinh v́ Đạo, v́ chúng sanh th́ không lay chuyển cho đến khi nhắm mắt
ĺa đời với cơi tâm thanh thản an nhiên.
Quí ACE Áo
Lam thân kính.
Ai có vào chùa
Từ Đàm, đều thấy ngôi tượng bán thân của
bác tôn trí trong một vườn hoa nhỏ để tưởng
nhớ công lao đối Phật Giáo
Trung phần. Thập niên 1990, tại quê nhà Đà Nẵng có
con đương mang tên Lê Đ́nh Thám và tại Quận B́nh
Tân,
Trong tim mỗi
Huynh trưởng GĐPT chúng ta đang đập cùng nhịp
tim đạo mạch kể từ ngày bác phó chúc cho tuổi
trẻ tu hành, vệ đạo qua h́nh thức Gia đ́nh Phật
Hoá Phổ- Gia Đ́nh Phật Tử đến ngày nay, nhưng
để hiểu rơ về bác th́ chưa có một văn kiện
sưu khảo, nghiên cứu, hội thảo nào làm sáng tỏ
tài năng, Đạo hạnh và công hạnh của bác. Bởi
v́ chưa hiểu rơ tinh thần vị sáng lập GĐPT mà
đàn hậu tấn ngày nay đi lệch hướng theo
tổn hữu ác đảng để bị chúng khống
chế, điều khiển gây chia rẽ GĐPT
. Sự hồi phục của GĐPT trong gọng kềm
của Công An và các cấp cầm quyền Cộng sản rất
ư là khó khăn, có những huynh trưởng cao niên ăn
rồi phải đi làm việc với Công An mỗi ngày,năm này tháng nọ, vợ con buồn lo kêu
khóc nhưng vẫn không hề nao núng, không một tiếng
than van cương quyết giữ vững sự tồn
sinh của tổ chức. Rồi cho đến một ngày
bị đàn em của ḿnh vu khống là “ Bán
đứng tổ chức”không bằng, không cớ. Hôm nay,
ngày Hiệp Kỵ GĐPT VN, có hơn 350 huynh trưởng
khắp các tỉnh, thị hội về mặc dù là ngày thứ
hai đầu tuần rất vắng, Công an vẫn đứng
phủ sân chùa như bao nhiêu năm vẫn chưa thay đổi.
Các huynh trưởng cao niên vẫn cười hiền hoà,
chân t́nh trong ngày hội ngộ trùng hoan.
Có lúc nào quí
ACE nhớ nghĩ đến bác tâm Minh – Lê Đ́nh Thám! Để
thấy ḷng ḿnh hỗ thẹn v́ chính ḿnh đă phân rẽ
anh em, rối loạn huyết mạch là điều không phải,
rồi một ngày đẹp trời ngồi chung lại dưới một mái chùa để
thành toàn di nguyện của bác Tâm Minh.
Trân trọng,
Nhóm Áo Lam
(
những câu chữ nghiêng là thiển ư của nhóm
Áo Lam)