|
|
Bùi Giáng, thi sĩ kỳ dị
Source: Quảng Đức.com
--- o0o ---
Người viết sách với tốc độ kinh
hồn
Bùi Giáng là một con người gây kinh
ngạc cho bất kỳ ai quan tâm đến ông. Làm thơ,
dịch tiểu thuyết của các tác gia danh tiếng trên
thế giới, viết sách nghiên cứu triết học
đông tây kim cổ với những kiến thức vô cùng
uyên bác… nhưng Bùi Giáng đồng thời lại c̣n
chạy nhảy la hét ngoài đường trong bộ
dạng của những con người mà ta quen gọi là
điên.
Cuộc đời Bùi Giáng v́ vậy luôn
được bao phủ bởi vô số những giai
thoại ly kỳ, những thông tin hư hư thực
thực. Trước nay, có khá nhiều bài viết về
ông nhưng đều rất tản mạn, hầu hết
chỉ là những bài lẻ tẻ đăng báo hoặc
bài của nhiều người viết trong các tuyển
tập hoặc đặc san kỷ niệm Bùi Giáng.
Dựa trên những tài liệu có được và
những tác phẩm của ông, chúng tôi cố gắng cung
cấp cho bạn đọc những thông tin tương
đối có hệ thống về diện mạo của
con người tài năng thuộc hạng siêu phàm nhưng
rất kỳ dị này.
Từ năm 1962 trở đi, Bùi Giáng liên
tục cho ra đời nhiều đầu sách. Mỗi
năm đều đều vài ba cuốn. Càng về sau
càng nhiều hơn. Nói về số lượng, th́ ông là
một tác giả có tác phẩm in ra đứng vào hàng
kỷ lục ở miền
Một nhà văn gần gũi với Bùi
Giáng trước năm 1975 kể lại chuyện viết
sách của ông như sau: "Tôi chỉ kể tới Bùi
Giáng, bởi suốt thời kỳ đó, có thể nói,
thầy Thanh Tuệ (Giám đốc Nhà xuất bản An
Tiêm lúc đó) v́ một tấm ḷng liên tài đặc
biệt, chỉ mê thích thơ văn Bùi Giáng, đă dành
trọn phương tiện cho ưu tiên xuất bản
tác phẩm của Bùi Giáng trước mọi tác giả
khác. Và giai đoạn có thể đặt tên là giai
đoạn Bùi Giáng này, An Tiêm đă in đêm in ngày, in
mệt nghỉ, v́ những năm tháng đó chính là
những năm tháng đánh dấu cho thời kỳ sáng tác
kỳ diệu sung măn nhất của Bùi Giáng, cơi văn cơi
thơ Bùi Giáng bấy giờ ào ạt vỡ bờ, bát ngát
trường giang, mênh mông châu thổ, Bùi Giáng bấy
giờ mỗi tuần viết cả ngàn trang khiến chúng
tôi bàng hoàng khiếp đảm".
Nhà văn này kể tiếp: "Vậy mà
mỗi lần gặp thi sĩ hồi đó, cảm
tưởng bao giờ cũng giữ được là
đă gặp một Bùi Giáng rất nhàn rỗi, rất rong
chơi. Bước chân vào nhà thầy Thanh Tuệ, chúng tôi
đă thấy Bùi Giáng ngồi đó trước,
tươi cười, ung dung trong cái phong thái của
một con người nhàn nhă nhất thế giới,
chẳng có một dấu vết nhỏ nào của một
người viết đang gió táp mưa rơi với ngàn
ngàn trang sách". Ai cũng lấy làm ngạc nhiên và cố
gắng t́m hiểu nhưng không thể nào hiểu nổi.
Chưa bao giờ những người gần gũi Bùi
Giáng bắt gặp ông đang ngồi viết sách. Vắn
tắt là Bùi Giáng chẳng làm ǵ hết, chẳng ai một
lần nh́n thấy Bùi Giáng đang làm ǵ hết. Thầy
Thanh Tuệ cũng chỉ lắc đầu cười:
"Tôi cũng lấy làm kỳ. Ảnh lang thang suốt
ngày, chẳng thấy lúc nào ngồi viết hết. La cà
hết nơi này đến nơi khác, uống rượu
say ngất rồi về lầu lăn ra sàn ngủ,
nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Đêm cũng không
thức, chỗ nằm tối thẳm. Nhưng ảnh
viết tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng th́
ảnh ngừng. C̣n nói ảnh đem bản thảo
tới th́ nói buổi sáng buổi chiều ảnh đă
tới ném bịch xuống cả năm, bảy trăm
trang. Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có th́
giờ đọc. Điều kỳ lạ là thể
loại trước tác nào ảnh cũng có ngay sách, dễ
dàng và nhanh vô tả. Từ thơ đến văn. Từ
một cuốn tiểu luận về Camus đến
một cuốn tiểu luận về Nguyễn Du. Từ
dịch thuật tiểu thuyết tới phê b́nh triết
học. Tất cả như đùa như chơi
vậy".
Có người ngạc nhiên quá, t́m cách
rủ Bùi Giáng tới quán uống rượu để t́m
hiểu. Nhưng chỉ tốn rượu đăi Bùi Giáng
chứ chẳng khai thác được chút thông tin nào.
Vặn hỏi măi ông cũng không giải thích điều
ǵ. Bùi Giáng chỉ cười cười, đốt
điếu thuốc, cầm lấy ly rượu và nói
"vui thôi mà" trước sự ngơ ngẩn của
người hỏi chuyện. Trước sau ông không
hề giải thích bất cứ thắc mắc nào. Nhà
văn kể trên nói tiếp: "Chừng như ông không có
ǵ giải thích, sự thành h́nh một tác phẩm nơi Bùi
Giáng cuối cùng vẫn là một bí ẩn hoàn toàn trong cái
vùn vụt, cái bất tuyệt thao thao, cái chớp mắt
đă là của nó. Ừ, vui, ba chữ "vui thôi mà" là
câu trả lời mơ hồ nghịch ngợm duy nhất
của Bùi Giáng trước mọi sự t́m hiểu".
Bài thơ lạ lùng của anh chăn ḅ
Bùi Giáng sinh ngày 17/12/1926 tại làng Thanh Châu
thuộc xă Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng
Bùi Giáng là con thứ 2 của ông Bùi Thuyên
với bà Huỳnh Thị Kiền nhưng là con thứ 5
nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài G̣n, ông
được gọi theo cách gọi miền
Mặc dù là người gặp may mắn
trên đường học vấn nhưng Bùi Giáng luôn luôn
phá ngang. Bùi Giáng từng viết rằng ông không có ư
định học để lấy bằng cấp. Ông Bùi
Văn Vịnh, một người em ruột cùng cha cùng
mẹ khác của Bùi Giáng cho biết, sau khi học xong
bậc tiểu học ở Trường Bảo An tại
huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, Bùi Giáng
được gia đ́nh cho ra Huế tiếp tục
học ở Trường Trung học Thuận Hóa. Năm
1945, khi đang học lớp Đệ Tứ th́ thời
thế thay đổi. Đại chiến thế giới
thứ hai nổ ra, Nhật hất cẳng Pháp, rồi Cách
mạng Tháng Tám thành công. Nhưng sau đó ông cũng kịp
đậu bằng Thành Chung. Rồi Bùi Giáng lên
đường đi theo kháng chiến. Năm 1950, khi có
kỳ thi tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ
chức, Bùi Giáng dự thi và đậu Tú tài 2 văn
chương, rồi lên đường ra Liên khu IV, tới
Hà Tĩnh, để tiếp tục vào học đại
học. Từ Quảng
Bỏ học trở về nhà, ông theo chân
đàn ḅ rong ruổi khắp các vùng đồi núi. Sau này ông
có sáng tác bài thơ Nỗi ḷng Tô Vũ in trong tập Mưa
nguồn để kỷ niệm cho khoảng thời gian
này. Một số tài liệu cho rằng Bùi Giáng đă có
nhiều năm chăn dê nhưng thực ra ông chỉ
trải qua 2 năm chăn ḅ, từ 1950 đến 1952 trên
vùng rừng núi Trung Phước. Có lẽ đây là quăng
đời lăng mạn nhất của ông. Và ông đă
gọi quăng thời gian này là 15 năm chăn dê, như Tô
Vũ ngày xưa. Nhớ lại những tháng ngày này, ông
viết: "Tôi bỏ học, chẳng biết chi sách
vở. Chạy về quê làm thằng chăn ḅ. Bao nhiêu
thơ làm ra, tôi âm thầm tặng hết cho chuồn
chuồn châu chấu!".
Bài thơ Nỗi ḷng Tô Vũ dài đến
60 câu, được nhiều người thích đọc.
Bài thơ với những lời thơ hết sức
thiết tha, đằm thắm, ông dành cho những nàng
thơ đặc biệt của ông là những con ḅ,
đọc lên nghe rất thú vị. Trong bài thơ, ông xưng
anh với những con ḅ mà ông đă biến chúng thành dê cho
giống chuyện Tô Vũ ngày xưa và gọi chúng là em:
"Chiều hôm nay bên chó vàng chễm chện/Anh lặng
nghe em bé hé bên sườn đồi". Ông tặng các
nàng thơ của ông những chiếc ṿng bằng mây mà ông
tự đan đủ màu sắc như người ta
tặng kỷ vật cho người ḿnh yêu: "Này em
Đen chiếc ṿng vàng tươi lắm/Này em Vàng chiếc
trắng há mờ đâu/Này em Trắng chiếc hồng càng
lóng lánh/Này đây em Hoa Cà hỡi! Chiếc nâu".
Mỗi nàng dê một chiếc ṿng, ông tự tay đeo vào
cổ các nàng và thủ thỉ: "Ngẩng đầu
lên! Dê ơi anh thong thả/Đeo ṿng vào em nghển cổ
cong xinh/Ngẩng đầu lên! Đây ḷng anh vàng
đá/Gửi gắm vào ṿng mây nhuộm tơ duyên". Tặng
xong kỷ vật cho các nàng dê rồi ông mới thề
thốt: "Và giờ đây một lời thề
đă thốt/Ngh́n thu sau đồi núi chứng cho ta/Cao
lời ca bê hê em cùng thốt/Ḥa cùng lời anh nghẹn
nỗi thiết tha".
Lấy dê, thực chất là ḅ, làm nàng
thơ quả là một chuyện xưa nay chưa có ai làm.
Nhưng đáng kinh ngạc hơn nữa là ông so sánh
chuyện đeo ṿng mây cho dê với việc trao ṿng cầu
hôn cho vị hôn thê của ḿnh: "Ngẩng đầu
lên nh́n anh mờ mắt lệ/Từ lần đầu ṿng
ngọc tuổi hai mươi/Trao người em trăm
năm lời ước thệ/Đây lần đầu
cảm động nhất mà thôi". Trong lần
xuất bản đầu tiên của tập Mưa
nguồn, Bùi Giáng c̣n ghi chú rơ ư khổ thơ này là, ngày
xưa khi ông cưới vợ, th́ cái giây phút đeo
chiếc ṿng đính hôn kỳ diệu ấy không làm ông xúc
động bằng bây giờ đeo ṿng mây cho dê! Thật
là một cảm xúc khác người. Sau này chúng ta sẽ
thấy, thứ cảm xúc này không phải do ông cố
nặn ra cho thành bài thơ lạ mà đó là những ǵ
diễn ra thực tế trong tâm trí ông.
Nỗi ḷng Tô Vũ là một bài thơ
độc đáo bởi đối tượng cảm xúc
của tác giả không phải là cảnh đẹp, là
người thơ mà là những con dê. Bài thơ không
giống ai đó có những đoạn thơ đẹp
lạ lùng: "Em nhớ hay không hồn hoa dại
cỏ/Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya/Vàng cao gót
nai đầu buông hăi sợ/Gió cây rung trút lá mộng tan
ĺa"...
Chuyện ly kỳ của ông thầy giáo cuồng si
nàng Kiều
Hai năm chăn ḅ có lẽ cũng quá
đủ để nhà thi sĩ thả hồn ḿnh rong
ruổi theo những dặm đường du mục.
Những ấn tượng sâu đậm trong thời
kỳ này đă được Bùi Giáng tái hiện trong
một số bài thơ mà ông sáng tác sau này.
Ngoài bài thơ độc đáo Nỗi ḷng
Tô Vũ, c̣n có bài Anh lùa ḅ vào đồi sim trái chín. Tuy không
hay bằng Nỗi ḷng Tô Vũ nhưng bài thơ này cũng
thể hiện một t́nh yêu thiên nhiên đắm say và mănh
liệt của Bùi Giáng: “Anh nằm xuống để
nh́n lên cho thỏa/Anh thấy ḷng mở rộng đón
trời xanh/Ch́m ngây ngất vào trong đôi mắt lả/Anh
lim dim cho chết lịm hồn ḿnh", "Cây lá bốn
bên song song từng lứa/Sánh đôi nhau như ứa
lệ ngàn ngàn/Hạnh phúc trời với đất mang
mang/Với ḅ giữa rừng hoang đương gặm
cỏ/Với người ngó ngất ngây đương
nằm đó/Không biết trời đất có ngó ḿnh
không". Quả thật là một tâm hồn quá khoáng
đạt.
Tháng 5 năm 1952, Bùi Giáng bỏ lại sau
lưng những đàn ḅ cùng "hồn hoa dại
cỏ" trên những đồi sim trái chín để ra
Huế thi lấy bằng tú tài tương đương.
Bằng tú tài trước đây do Liên khu V thuộc Chính
phủ Kháng chiến cấp, đổi lại để
vào Sài G̣n là khu vực đang thuộc vùng địch
tạm chiếm ghi danh theo học Đại học Văn
khoa. Nhưng một lần nữa ông cũng quyết
định bỏ học khi đọc danh sách các giáo
sư giảng dạy ở Đại học Văn khoa v́
thấy không "tâm phục khẩu phục". Theo tác
giả Thụy Khuê th́ đây là lần cuối cùng ông bận
tâm với chuyện học hành. Sau sự cố này, Bùi Giáng
không bao giờ đi học nữa.
Sau khi kết thúc chuyện học hành, Bùi
Giáng chuyên tâm vào việc nghiên cứu, viết sách và sáng tác
thơ văn. Từ năm 1957, ông lần lượt cho ra
đời một loạt sách giới thiệu về
văn học Việt
Câu chuyện sau đây do một tác giả
thuật lại trong một đặc san về Bùi Giáng,
không nói rơ là ḿnh chứng kiến hay giai thoại. Chuyện
kể rằng, một lần nọ Bùi Giáng giảng
Kiều cho các em học sinh, đến đoạn Từ Hải
bị chết đứng giữa trận tiền, ông
cảm thấy uất ức quá. Ông không chịu nổi
việc một người anh hùng như Từ Hải mà
phải bỏ thân nơi chiến trường v́ bị
mắc lừa. Từ bức xúc thái quá dẫn đến
kích động thần kinh nên Bùi Giáng la hét dữ dội.
Càng căm tức Hồ Tôn Hiến bao nhiêu th́ ông càng la hét
bấy nhiêu. Rồi ông khóc tức tưởi, đập
bàn đá ghế, gục đầu thổn thức trên bàn
giáo viên. Hết hét lại khóc, hết khóc lại hét.
Học sinh lúc đầu c̣n ngạc nhiên
thích thú nh́n ông thầy ḿnh thể hiện cảm xúc,
nhưng sau thấy ông làm quá th́ đâm ra sợ hăi. Bởi
trước mặt chúng đang là một ông thầy
đạo mạo bỗng nhiên trở thành một con người
không c̣n biết ǵ đến chung quanh, chỉ la hét than khóc
như cha chết mẹ chết. Quả thật Bùi Giáng
đă biến tiết dạy của ḿnh thành đám ma
của Từ Hải, khiến từ học sinh cho
đến ban giám hiệu phải một phen hết
hồn. Sau sự cố "đám ma Từ Hải"
đó, nhà trường đành phải mời thầy
nghỉ dạy v́ không dám để thầy làm các em học
sinh phải thêm một phen hoảng hồn bạt vía
nữa.
Cung Tích Biền cũng kể một câu
chuyện tương tự nhưng kỳ dị hơn
nữa. Theo Cung Tích Biền th́ đây chỉ là một giai
thoại, tuy nhiên căn cứ vào những ǵ xảy ra
với Bùi Giáng trước nay th́ chúng ta có thể tin
được đó là câu chuyện có thật. Câu
chuyện xảy ra vào khoảng đầu thập niên sáu
mươi. Bùi Giáng đi dạy môn Việt văn cho
một trường trung học ở một vùng tỉnh
lỵ nọ. Hiển nhiên dạy Việt văn th́
phải đến lúc ông đụng đến Truyện
Kiều và Nguyễn Du. Và chuyện ǵ đến phải
đến. Trong một giờ Việt văn, khi giảng
đến đoạn nàng Kiều phải bán ḿnh chuộc
cha để hồng trần lưu lạc, Bùi Giáng đă
bật khóc ̣a, khóc tức tưởi, khóc nức nở ngay
giữa lớp học. Có lẽ nước mắt cũng
không làm ông nguôi bớt nỗi cảm thương
người con gái tài hoa bạc mệnh Thúy Kiều. V́
thế ông vừa khóc vừa nhảy phóc qua cửa sổ
lớp học, chạy bộ ra bến xe rồi đón xe
đ̣ về Sài G̣n tức th́. Học tṛ nam nữ trong
lớp th́ cứ ngồi chờ măi, tưởng thầy
đi rửa mặt cho sạch nước mắt
để dạy tiếp hoặc đi đâu đó
một lát rồi sẽ trở lại, bởi v́ trên bàn
thầy vẫn c̣n sách vở, bao thuốc lá. Nhưng
hết tiết học cũng không thấy thầy trở
lại. Ngày hôm sau cũng không thấy thầy trở
lại. Cả tuần sau thầy cũng không quay lại.
Bởi v́ thầy đă quyết định bỏ lớp
bỏ trường, bỏ luôn cả vùng đất
tỉnh lỵ ấy đến nhiều năm sau. Hỏi
thầy nguyên nhân v́ sao th́ thầy ngậm ngùi nói
"mần răng mà trở lại nơi em Kiều đă
một lần hy sinh cho cái tṛ chơi nhân gian kỳ ảo
chỗ liên tồn" ấy.
Cuộc đấu tranh bảo vệ nàng Kiều và t́nh
yêu loài vật
Đến Sài G̣n được ít lâu, Bùi
Giáng bắt tay vào việc viết sách. Nhưng những
cuốn sách đầu tiên Bùi Giáng viết ra, v́ chưa có
"thương hiệu" nên dĩ nhiên chưa có nhà
xuất bản nào chịu bỏ tiền ra in, do vậy ông
phải tự lo.
Nhưng với một người vừa
chân ướt chân ráo đi lập nghiệp như ông, làm
sao có tiền để in sách. V́ vậy, ông phải xoay
xở bằng nhiều cách. Một số người cho
rằng Bùi Giáng đă nhờ người bà con đang làm
ăn phát đạt lúc đó là bác sĩ Bùi Kiến Tín cho
mượn tiền để in sách. Nhưng những
người thân cận với Bùi Giáng cho biết ông đă
về quê bán tất cả ruộng vườn
được thừa hưởng ở Quảng
Khởi đầu, Bùi Giáng tập trung vào
việc nghiên cứu Truyện Kiều. Đây là tác phẩm
đă gây ấn tượng mạnh mẽ với ông trong
thời kỳ c̣n học trung học. Năm Bùi Giáng
mười sáu tuổi, đọc những cuốn sách
của Nguyễn Bách Khoa, ông đă cảm thấy bức
xúc v́ những lời Nguyễn Bách Khoa đả phá
Truyện Kiều quá nặng nề.
Lúc đó, không khí tranh luận về
Truyện Kiều khá sôi nổi. Bùi Giáng đă hăng hái
bước vào cuộc. Cuốn Một vài nhận xét
về Truyện Kiều và Truyện Phan Trần do Tân
Việt xuất bản vào năm 1957 có những bài viết
rất hay về Truyện Kiều. Cùng với một vài
tác giả khác, ông chống lại những quan điểm
cho rằng Truyện Kiều là một tác phẩm phản
đạo đức, không mang tính nhân bản. Ông bênh
vực quyết liệt cho nàng Kiều. Lúc này, tác giả
Nguyễn Sĩ Tế vừa tái bản tập sách Luận
đề về Nguyễn Du, trong đó phê phán nhân vật
Kiều nhu nhược, lẩn thẩn, ham mê vật
chất... Bùi Giáng bèn "ra tay nghĩa hiệp" bênh
vực giai nhân. Ông đối thoại thẳng thắn
với Nguyễn Sĩ Tế, cho rằng Nguyễn Sĩ
Tế hẹp ḥi trong cách nghĩ: "Sao ở mọi
chốn khác ông Tế tỏ ra chu đáo là thế, mà riêng
đây, ông nỡ cứ hẹp ḥi. Mười năm
trước ông Nguyễn Bách Khoa từng lớn tiếng:
hoàn cảnh xă hội chi phối con người. Nhưng
khi đem cái nguyên tắc ấy áp dụng trong việc phê
phán nhân vật, bao lần ông đă không chịu xét cái
cảnh ngộ nào đă trực tiếp chi phối tâm
trạng con người nào"..., rằng: "Ông tàn
nhẫn quá. Mà chúng tôi tự lượng sức ḿnh không
đủ để bênh vực cho giai nhân. Chúng tôi đành
quay mặt đi, không dám thấy, và chỉ xin phép yếu
ớt khẽ kêu lên một tiếng xuưt xoa một đôi
bận mà thôi - những bận nào mũi dao của ông
tỏ ra tàn bạo quá". Với một giọng văn
lúc thiết tha trầm lắng, lúc sôi nổi mạnh
mẽ, Bùi Giáng góp phần làm cho người đọc
cảm thương nàng Kiều hơn.
Những cuốn sách đầu tiên của
Bùi Giáng có lẽ bán chạy nên các nhà xuất bản bắt
đầu chú ư đến ông. Những cuốn sau, Bùi Giáng
không cần phải bỏ tiền ra in nữa mà ông giao
bản thảo cho các nhà xuất bản in để
lấy tiền. Từ lúc đó trở đi, Bùi Giáng
kiếm được kha khá nhờ những khoản
nhuận bút. Vừa dạy học vừa viết sách,
nếu khéo thu xếp như Nguyễn Hiến Lê, hẳn ông
đă tạo dựng được cơ ngơi.
Thế nhưng Bùi Giáng hầu như không
giữ lại cho riêng ḿnh được cái ǵ. Một
phần lớn khoản tiền nhuận bút ông đem tiêu
pha rất lung tung, trong đó dành khá nhiều cho việc mua
chó và khỉ về nuôi. Những người thần
tượng hóa Bùi Giáng tỏ ra rất đắc ư với
những việc làm khác người đó của ông.
Vào những năm về sau, khoảng
gần cuối thập niên sáu mươi, ông in
được nhiều sách, tiền nhuận bút cũng
nhiều, ông càng tiêu tiền một cách kỳ cục
hơn. Nhiều người kể có lúc thấy đàn chó
của ông lên đến mấy chục con. Phạm
Mạnh Hiên cho biết: "Hồi đó, sách của Bùi
Giáng thường in ở nhà xuất bản An Tiêm, mỗi
lần thầy Thanh Tuệ đưa tiền nhuận bút,
tôi phải đi với anh Bùi Giáng. Lại lên
đường ngao du nhờ cái bộ vó thư sinh hiền
lành của tôi mà nhiều lần mấy cái khách sạn
ở Chợ Lớn đă để cho chúng tôi cùng vào trú
ngụ, bởi bên cạnh tôi có cái ông trung niên kỳ
dị, ăn mặc cổ quái chẳng giống ai, lại
dẫn theo cả đàn chó hay vài ba chú khỉ
nhỏ"... "Ngày đó hễ có tiền là anh Giáng ra
ngay khu chợ Bến Chương Dương mua cả
bầy chó, cả bầy khỉ". Cái thú đi giang
hồ đă làm cho Bùi Giáng “nướng” hết những
khoản nhuận bút vừa nhận. Có lần say ngất
ngưởng, sáng tỉnh dậy, thấy ḿnh đang
nằm ở vỉa hè.
Một người quen khác của Bùi Giáng
kể: "Hơn 25 năm trước, tôi thấy ông nuôi
một đàn chó nhỏ, đi đâu cũng dẫn theo làm
chúng sủa vang các hẻm đường, có lúc ông cho
hết vào bao bố và vác trên vai làm chúng cũng muốn
ngất ngư, ngộp thở, kêu hục hục trong bao.
Có lần ông để quên đàn chó ở nhà bà Bé Kư cả
tuần lễ làm bà Bé Kư phải nuôi ăn và chăm sóc
rất mệt, hở tay ra là chúng sủa vang nhà không ai
chịu nổi". Khoảng năm 1974, một
người em ruột của Bùi Giáng mua được
ngôi nhà ở Thị Nghè và mời ông về ở. Ông
đến, dắt theo cả đàn vừa chó vừa
khỉ khiến hàng xóm hết sức kinh ngạc.
Văn chương Bùi Giáng trong những cuốn sách
đầu tiên
Nhiều độc giả từng
biết đến một thứ văn dị
thường của Bùi Giáng. Dị thường nhưng
hồn nhiên trong trẻo, có lẽ đó là đặc
điểm trong văn chương ông. Nhưng đă có
thời văn chương ông chỉ hồn nhiên trong
trẻo thôi, không có chút dị thường nào.
Hăy đọc một số tác phẩm
đầu tiên của Bùi Giáng th́ biết, trước
hết là những cuốn ông viết ra trong thời kỳ
mới đến Sài G̣n. Chúng được đặt
tựa một cách khiêm nhường, chẳng hạn
Một vài nhận xét về..., xuất bản trong
khoảng thời gian từ 1957 đến 1959. Những
cuốn sách này được viết ra nhằm phục
vụ cho học sinh trung học. Trong sách có kèm theo những
đề bài tập làm văn cho học sinh luyện
tập, nội dung liên quan đến các tác phẩm cổ
điển của văn học Việt Nam như
Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm... Trên
thực tế, đây là những cuốn sách thuộc
thể loại giới thiệu tác giả tác phẩm, người
lớn cũng có thể đọc và t́m thấy nhiều
điều thú vị. Ở đây không có những ngôn
ngữ kỳ dị mà ta thường gặp đầy rẫy
trong những tác phẩm sau này của ông.
Hăy đọc một đoạn văn Bùi
Giáng mở đầu phần bài viết về Lục Vân
Tiên: "Lục Vân Tiên. Không một cuốn truyện nào
đă làm xúc động tuổi nhỏ của chúng ta
nhiều bằng tác phẩm của cụ Đồ
Chiểu. Ngày tôi c̣n nhỏ, tôi được người
vú già kể cho nghe. Kể đi kể lại măi, và tôi
cứ đ̣i kể lại cho nghe hoài. Dường như
mỗi lần nghe lại, lại thấy mới măi ra.
Từ đó h́nh ảnh nhân vật Lục Vân Tiên cứ ám
ảnh tôi luôn"... "Thế rồi ngày nay tôi lại
nói chuyện Lục Vân Tiên với bà con nghe. Tất nhiên là
nói sẽ dở lắm. V́ tôi không làm sao có được
cái giọng của người vú già là một lẽ. Cái
giọng trịnh trọng, chậm răi, cảm động,
lạ lùng, sau khi đằng hắng đủ ba lần,
rồi mới bắt đầu: Trước đèn xem
chuyện Tây Minh. Bao giờ cũng vậy, trước khi
lựa lời kể lại, bà chậm răi cao giọng ngâm
mấy lời thơ đầu của cụ Đồ
Chiểu. Và từ đó, cái câu Ai ơi lẳng lặng mà
nghe măi măi trong tâm tư tôi sẽ c̣n vang một âm vang
huyền hoặc".
Đọc những đoạn văn
đó ta có thể mường tượng ra ông là một
người lịch thiệp, tóc tai, áo quần tươm
tất, quá khác biệt với những ǵ mà ta thường
hiểu về một thứ ngôn ngữ Bùi Giáng cà riềng
cà tỏi được viết ra bởi một tác
giả râu ria xồm xoàm, áo quần kỳ dị. Văn
chương của ông lúc bấy giờ đẹp lung
linh, không hề có những ngôn từ "lai rai theo
điệu du côn" như ông tự nhận sau này.
Chưa hết, hăy đọc tiếp
một đoạn văn trong cuốn sách viết về
Chinh phụ ngâm: "Rồi những buổi sáng, những
buổi chiều, có sương, có khói, có cánh nhạn ở
cuối ngàn, có mây hồng vây ải lạnh, người
sẽ trở gót ra lại bên đầu cầu, nh́n
lại làn nước trong như lọc, kể lể
những ǵ với nước suối, tỉ tê những ǵ
Ngàn dâu xanh ngày kia che khuất bóng chàng, ngày nào sẽ trả
lại cho ta bóng chàng về giữa những hàng cờ bay
phấp phới?".
Không chỉ bóng bẩy và hoa mỹ, ng̣i bút
Bùi Giáng lúc này c̣n thể hiện sự sắc sảo, tinh
tế lạ thường khi phân tích tác phẩm. Hăy
đọc thêm một đoạn này nữa trong cuốn
sách viết về Truyện Kiều: "Kiều đă
sống một cuộc sống giống chúng ta. Nàng đă
đau khổ. Như mọi chúng ta thôi. Nhiều hơn
một số, và ít hơn một số. Nàng tỏ ra có
thiện chí ít nhiều, và nhiều lần tội lỗi.
Đời nàng tầm thường là h́nh ảnh kiếp
người tầm thường. Nhưng khi kể lại
đời nàng cho ta nghe, Nguyễn Du đă có một
giọng điệu nhặt, khoan, trầm, bổng thế
nào, và đă làm sáng ngời bài học luân lư. Chúng ta cảm
động. Khi lặng nghe Nguyễn Du chậm răi giọng
lời, chúng ta thấy bên kia câu chuyện tầm
thường, giữa cuộc sống tối tăm,
một kiếp người đương vùng vẫy.
Trong tâm khảm ta, từ nay h́nh ảnh ấy sẽ in sâu,
rơ nét, đậm màu"... "Giá trị luân lư của
Đoạn trường tân thanh không do những hành
động vụn vặt của Kiều, mà do lời
thuật chuyện của thi nhân, lời đây không
phải là lời văn, mà là giọng nói của một
tấm ḷng. Lời nói mang nặng biết mấy tâm tư
tâm linh của người dân Việt hội tụ lại
ở đây, một lần duy nhất, trong sáng hơn ca
dao, thâm thúy hơn tôn giáo, diễm tuyệt hơn văn
chương, v́ cái giọng năo nùng của một kiếp
sống dở dang trong ḷng đau thương của
thế kỷ".
Tuy nhiên, những áng văn tài hoa ngời
sáng đó đă lùi dần để nhường chỗ
cho một loại văn chương khác hẳn - một
thứ văn chương vừa tài hoa vừa kỳ
dị, tài hoa hơn và ngày càng kỳ dị hơn.
Nỗi ám ảnh Nguyễn Du và Heidegger
Tiếp theo những cuốn sách giới
thiệu các tác giả cổ điển Việt
Đầu tiên là cuốn Tư
tưởng hiện đại in năm 1960, đề
cập đến Gabriel Marcel, Karl Jaspers, Albert Camus, Simone
Weil, Paul Claudel, Saint Exupéry, Jean Paul Sartre, André Malraux. Cuốn
sách này thể hiện một kiến thức uyên bác
của tác giả, tuy Truyện Kiều thứ
thiệt, thơ giả Kiều do tác giả sáng tác, thơ
Tản Đà, thơ của nhiều nhà thơ khác
được đưa vào đây không ít.
Năm 1963, bộ sách 2 tập dày ngót ngàn
trang Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại ra
đời. Đây là một cuốn sách vừa uyên thâm
vừa kỳ lạ. Hăy đọc một đoạn
văn ở phần Lời tựa: "Đă là con người
quay chong chóng trên quả địa cầu tṛn, có một ai
không cảm thấy ḿnh là lá cỏ lá rêu mù sương lá
lách, lau cồn ĺa kim dứt cải…Vậy phải biết
nhắm hai con mắt lại để làm một cái giây leo
như Tố-Như leo khắp ḿnh mẩy Hoa Thi
Đường Thi không chừa một chỗ".
Người đọc có cảm giác
như ông nhảy phóc vào trong tư tưởng của
triết gia này và… quậy. Xin hăy đọc đoạn
văn sau đây nằm trong chương Martin Heidegger và
vấn đề hữu thể: "Người yêu ta
xấu với người / Yêu nhau th́ lại bằng
mười phụ nhau / Nỗi niềm tưởng
tới mà đau / Hàng rào giun dế gặm sâu cẳng gà /
Con ơi học lấy nghề cha / Một đêm ăn
trộm bằng ba năm làm. Tại sao một đêm ăn
trộm bằng ba năm làm? Bằng ba năm hay bằng
hai? Bằng hai hay bằng bốn? Một đêm mà bằng
bốn năm kia ư? / Nhiều quá? – Mấy th́ vừa? –
Hai năm? Ít quá? – Vừa bằng là ấy ấy ấy
chính lààà BAAA. Và ta xin trở lại với nguyên ư của
nguyên t́nh nguyên mộng lụy CA DAO LÀ MUÔN NĂM NGÀN
ĐỜI VẠN ĐẠI NƯỚC VIỆT LÀ
SƯƠNG TUYẾT KIỀU ĐẠM IN PHA: Con ơi!
Nhớ lấy lời cha. Một đêm ăn trộm
bằng ba năm làm. – Vâng. Con nhớ lời cha. Tại sao
nhớ? – V́ con có nghe. – Tại sao nghe? – V́ con có thấy. –
Thấy ǵ? – Thấy rơ ràng lù lù trước mặt là… - Là
ǵ? Là: Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm. – Ai
ăn trộm? – Sartre ăn trộm áo quần của
Heidegger – Áo quần đẹp mới hay không? Đẹp
mới vô ngần. Nhưng… Nhưng sao? Nhưng than ôi!
Tại sao lại xảy ra cái chuyện này là cái nỗi nông
kỳ bí… - Kỳ bí như thế nào? Cái nỗi nông nông
nỗi ǵ? – Thưa rằng áo quần của Heidegger
vốn của Heidegger th́ vốn của Heidegger mặc áo
Heidegger coi ra rỡ ràng thật đẹp là Heidegger rỡ
ràng quắc thước là hùng dũng Heidegger rạng
vẻ cân đai Heidegger râu hùm mày ngài Heidegger hàm én đồ
sộ cả cười hàm én Heidegger có nh́n đêm tế
ngộ trông mặt là Heidegger trông mặt cả cười
với Kiều và Thúy và Tố và Như và Nguyễn Du là
ấy chính Heidegger đúng điệu thiên tài vùng vẫy
trong bấy nhiêu niên đáng lẽ từ thiên thu làm nên kinh
thiên động địa nếu gặp người
từ lâu tri kỷ là đúng điệu tri kỷ của
Heidegger…". Đoạn văn kiểu như vậy dài
ngót cả mấy chục trang sách. Đọc nó người
ta thấy như bước vào một mê hồn trận.
Trong hai tập sách dày hơn một ngàn
trang này có rất nhiều đoạn văn như thế.
Không ai có thể biên tập được những
cuốn sách này. Bùi Giáng cũng biết điều đó nên
trong phần mở đầu một chương của
cuốn Tư tưởng hiện đại, Bùi Giáng
viết: "Bài này trước kia chúng tôi đăng ở
tạp chí MAI, kư tên chung với ông Hoàng Minh Tuynh. Ông Tuynh
đă có nhă ư muốn bày tỏ niềm thông cảm
đối với tôi là một kẻ xưa nay vốn
chịu nhiều những hững hờ của độc
giả. Bùi Giáng, đó là một danh từ có âm hưởng
lăng nhăng, không gây được tin tưởng. Ông
Tuynh đă chịu khó bỏ giúp tôi những đoạn nào
tôi viết quá trớn theo điệu du côn của Sartre và
loại hẳn những tiếng bê bối lai rai là
những tiếng tôi quen dùng". Bùi Giáng đă cám ơn
người biên tập cho ông trong phần mở
đầu đó. Có lẽ đây là người duy nhất
biên tập văn Bùi Giáng, và nhờ đó cuốn sách này
trở nên gọn gàng, ta có thể hiểu được
một số nội dung mà Bùi Giáng đưa ra. Nhưng
bởi v́ ông Tuynh là đồng tác giả. C̣n nếu biên
tập viên th́ không thể làm được như ông Tuynh.
Có một số người Bùi Giáng
nhắc lại măi trong những trang viết của ḿnh
như là một nỗi ám ảnh. H́nh bóng họ đă
ăn sâu vào tiềm thức ông do những ấn
tượng mạnh mẽ lúc ban đầu. Khi bệnh
t́nh bộc phát, những h́nh bóng đó sẽ xuất
hiện trở lại trong văn thơ ông theo những
cách khác nhau. Trên lĩnh vực tri thức, đại thi hào
Nguyễn Du và triết gia người Đức Martin Heidegger
được ông lặp lại nhiều nhất.
Khi bước vào con đường nghiên
cứu, Bùi Giáng quan tâm đến Nguyễn Du đầu
tiên cùng với một số tác giả cổ điển
khác. Chúng ta nhớ lại, cuốn Một vài nhận xét
về Truyện Kiều và Truyện Phan Trần
được ông viết vào năm 1957 thật sáng trong
mạch lạc. Kể từ đó, thiên tài Nguyễn Du
bắt dầu "nhập hồn" Bùi Giáng. Ước
tính có đến cả ngàn lần Bùi Giáng nhắc tên
Nguyễn Du. Trong thơ, trong văn, trong giới thiệu
tư tưởng và triết học, thậm chí cả
trong những bản dịch tiểu thuyết nước
ngoài… đâu đâu ta cũng bắt gặp h́nh bóng
Nguyễn Du. Bùi Giáng c̣n sáng tác nhiều bài thơ về
Nguyễn Du. Một số bài thơ khác không liên quan, th́ ông
lại đề tặng Nguyễn Du.
Tuy nhiên, không phải như thế là Bùi
Giáng sẽ dành những câu chữ hay ho nhất để
viết về "cố nhân" của ḿnh. Ngược
lại, phần lớn những bài thơ viết về
Nguyễn Du đều rất cà rỡn. Ta hăy đọc
vài đoạn thơ Bùi Giáng viết về Nguyễn Du.
Đây là một đoạn trong bài Nhớ ông:
"Nhớ hoài ông Nguyễn ông Du / Ông Như ông Tố
Điếu Đồ biển Nam / Hồng Sơn Liệp
Hộ hội đàm / Hồng Sơn sơn nguyệt minh
quang một ḿnh". Hoặc một đoạn khác trong bài
Tố Như nhớ quê: "Tôi nay lăo nhược
hơn ông / Tôi ngoài bảy chục thong dong một
mười / Ông chưa tới tuổi sáu mươi / Ĺa
đời lúc mới tuổi ngoài năm lăm".
Đó là trong thơ. V́ thơ th́ không
phải lúc nào cũng đưa được một
người nào đó vào măi nên sự xuất hiện
của Nguyễn Du cũng có giới hạn. Nhưng trong
văn xuôi th́ Bùi Giáng liên tục đưa Nguyễn Du vào.
Đi sâu vào các trang sách của Bùi Giáng, ta thấy Nguyễn
Du xuất hiện dày đặc. Khen thơ Hồ
Dzếnh, Bùi Giáng viết: "Cũng may cho ông Nguyễn Du
sinh ra ở thế kỷ trước. Nếu sinh ra
đồng thời với Hồ Dzếnh, ắt ông Nguyễn
Du không c̣n chịu viết Đoạn Trường Tân Thanh
làm ǵ". Viết về một câu chuyện không đâu vào
đâu, Bùi Giáng cũng lại nói về Nguyễn Du:
"Lại cũng như ông Nguyễn Du ham có hơn ba
trăm năm sau có kẻ khóc ḿnh. Có một mẫu thân Phùng
Khánh cho con bú trong hiện tại đă đủ rồi, hà
tất phải dỗ con nín khóc ba trăm năm sau".
Viết về Albert Camus, Bùi Giáng cũng không quên Nguyễn
Du: "Rồi những điều Nguyễn Du nói với
ma, th́ quỷ lại tưởng là nói với quỷ.
Những điều Nguyễn Du nói với quỷ, th́
thần thánh lại tưởng là nói với thánh thần.
Những ngộ giải chạy tràn lan. Quỷ không hài ḷng
về Nguyễn Du, thần thánh bực bội v́ Nguyễn
Du". Trong những cuốn sách như Mùa thu trong thi ca, Thi
ca tư tưởng, Đường đi trong rừng…
cứ một đôi trang là ta bắt gặp h́nh ảnh
Nguyễn Du hiện lên qua cái lăng kính hài hước
của Bùi Giáng: "Nguyễn Du không kinh hoàng nhảy lui.
Cũng không bị tẩu hỏa nhập ma, vùng vẫy rú
lên một tiếng như Zarathustra also sprach. Ông điềm
nhiên làm Nam Hải Điếu Đồ. Kẻ câu ấy
câu cái ǵ tại Nam Hải?"… "Và đó cũng là duyên
do kỳ dị thiên biến vạn hóa đă khiến
Nguyễn Du mở một trận Ẩn Tàng kỳ bí
cổ kim bằng cách: cả hư không đặt
để nên lời, cả nỗi đêm khép mở
nỗi ngày riêng chung của song trùng tịch hạp
thượng thừa huyền môn tâm pháp – Nguyễn Du
đều đem gán vào môi miệng Bạc Bà Tú Bà"…
Bùi Giáng c̣n có cái thú làm thơ giả
Kiều để kư tên chung Bùi Giáng – Nguyễn Du hoặc
Bùi Giáng – Tố Như. Đó là những đoạn lục
bát chen vào giữa những đoạn văn xuôi, có tí chút
"chất Kiều". Trong cuốn Martin Heidegger và tư
tưởng hiện đại có nhiều đoạn
giả Kiều rất dài. Những câu giả Kiều
ấy có khi sai cả vần sáu tám.
Cùng với Nguyễn Du là Heidegger. Ông này
cũng xuất hiện rất nhiều trong các trang
viết của Bùi Giáng, không kém ǵ Nguyễn Du. Không rơ
triết gia người Đức này "nhập
hồn" Bùi Giáng lúc nào mà đến năm 1963, khi Bùi
Giáng viết bộ sách hai tập Martin Hedegger và tư
tưởng hiện đại th́ đă thấy ông bị
"tẩu hỏa nhập ma" bởi triết gia này
rồi. Bùi Giáng đă viết đến năm sáu cuốn
sách liên quan đến Heidegger. Nhưng như thế
vẫn chưa thỏa măn, ông lại đưa triết gia
này vào trong rất nhiều cuốn sách khác. Tuy nhiên khác
với Nguyễn Du, Bùi Giáng ít dám "sờ cằm vuốt
râu" Heidegger, dù đôi lúc cũng cà rỡn kiểu
như: "Ông Cụ Già Nua Nước Đức
Heidegger", "Heidegger Đức Quốc Nua Già".
Người ta có cảm giác Heidegger được ông kính
nể như một người thầy c̣n Nguyễn Du th́
ông mến yêu như một người ông vậy…
Vị trí hai người đẹp Kim Cương và
Marilyn Monroe trong ḷng Bùi Giáng
Bùi Giáng yêu cũng thật lạ lùng. Trong
ḷng ông có rất nhiều người đẹp, nữ
nghệ sĩ Kim Cương và diễn viên điện
ảnh Mỹ Marilyn Monroe chiếm một vị trí
đặc biệt. Đối với hai người này,
Bùi Giáng mạnh dạn nói năng mà không hề e ngại
điều ǵ. Bởi trong tâm thức ông, họ là hiện
thân của cái đẹp nhân gian.
Hiện có rất nhiều giai thoại
về chuyện Bùi Giáng mê Kim Cương, nhưng có lẽ
ta cũng không cần t́m hiểu rằng chúng thật
giả bao nhiêu phần trăm, bởi điều đó
không mấy quan trọng. V́ như trường hợp
Marilyn Monroe, một người ở tận bên kia
đại dương mà vẫn nhập vào hồn ông
được, huống ǵ là Kim Cương tài sắc
ở ngay tại Việt
Kim Cương là đối tượng
số một của Bùi Giáng. H́nh bóng của người
đẹp này dường như thường trú trong vô
thức của ông chứ không phải thỉnh thoảng
mới hiện ra như một số người khác. Bùi
Giáng đă dùng mọi cách biểu đạt kỳ quái
nhất để nói về Kim Cương. Bài thơ sau
đây hẳn sẽ làm cho một số độc giả
nữ cảm thấy "kỳ kỳ" nhưng đồng
thời nó cũng cho thấy sự ám ảnh kinh khủng
của người đẹp Kim Cương đối
với ông. Đó là bài Cô Kim Cương ơi, in trong
tập Sa mạc phát tiết, nguyên văn như sau:
"Nếu ngày sau tôi chết đi, mà cô không thể
giỏ cho một giọt nước mắt/Th́ cô có
thể giỏ cho một giọt nước tiểu
cũng được/(Nhớ giỏ ngay trên nấm
mồ)/Ở dưới suối vàng tôi sẽ ngậm
cười mà đón nhận/(Ngậm cười chín
suối hăy c̣n thơm lây)". Thật là một bài thơ
không thể nào tưởng tượng nổi.
Nhưng không chỉ có vậy. Trong cuốn
sách Con đường ngă ba, Bùi Giáng c̣n bị ám ảnh
dữ dội hơn nhiều. Suốt mấy trang liền,
ông nhắc đi nhắc lại "lời đề
nghị" ở trên: "Cô Kim Cương hăy đi
tiểu trên nấm mồ tại hạ. Thiên tài buổi
Hoàng Hôn thốt một lời như thế. Nhưng Vũ
Lâm Xuân của Thệ Đa Lâm vẫn không thể trùng sinh
trên đống xương tơi tả của
ḿnh..."... "Cô Kim Cương hăy đi tiểu trên
nấm mồ tại hạ. Đó quyết nhiên là lời
rốt ráo tối hậu. Không cách ǵ nói khác. Nấm mồ
tại hạ. Không thể đổi tiếng đó ra làm
một tiếng nào khác. Hăy đi tiểu. Có thể nào
đổi tiếng đi tiểu ra làm một tiếng khác..."...
"Cô Kim Cương hăy đi tiểu trên nấm mồ
tại hạ vẫn vĩnh viễn là ngôn ngữ tuyệt
trù bất tận thi nhiên. V́ chỉ nói như vậy th́ ngàn
vạn năm sau riêng h́nh ảnh cô Kim Cương sẽ
vĩnh viễn đi về Trong Tháng Ba Lễ Hội
để giải oan cho Tượng Vương hồi
xứ Hoa Nghiêm Kinh..."... "Cô Kim Cương hăy đi
tiểu trên nấm mồ tại hạ là sự vụ
cần yếu ban sơ cho cuộc tối sơ đi
về hủy thân giữa trần thổ. Cô Kim Cương
vén xiêm đi tiểu xong rồi, th́ từ nấm mồ
của trần thổ hủy thân đó sẽ nảy
nở ra cuộc đầu thai nơi núi đá...".
Cứ một ư như vậy mà Bùi Giáng nói dông nói dài măi.
Nhưng sau đó, cách khoảng mấy trang, Bùi Giáng lại
đổi ư, không muốn giữ lời đề nghị
trên nữa: "Hỡi mẫu thân Kim Cương! Mẫu
thân hăy dừng cuộc đi tiểu trong một thời
gian để suy ngẫm trở lại xem có thể
tạo ra một vũ trụ khác để đi
tiểu".
Chúng ta không cần quan tâm đến ư
nghĩa của từng câu chữ. Nhưng chúng mang cái ư
nghĩa tổng quát, đó là sự ứng xử của vô
thức đối với từng khái niệm. Ở
đây là sự ứng xử với cái đẹp khác
giới tính của thi sĩ trong trạng thái tâm thần
không b́nh thường.
Theo sau Kim Cương, Marilyn Monroe cũng
được Bùi Giáng mê cuồng. Ông đă sáng tác một
số bài thơ về người đẹp này. Ta hăy
đọc bài Trời khóc Marilyn để xem Bùi Giáng
viết về người đẹp này như thế nào:
"Trời xanh úp mặt nghe tin/Thôi rồi! Em Má Ri Lyn
đi rồi/Từ đây ta bỏ ngai trời/Thu thời
gian đập tơi bời càn khôn/Giữa hư vô nếu
em c̣n/Nhớ ta em gửi cái hồn cho ta/Úp môi ôm mặt khóc
̣a/Cồn lê lên miệng là ba bốn lần".
Đó là bài thơ ông in trong tập Hoa lá
cồn, xuất bản năm 1963. Sau đó trong phần
Mưa nguồn ḥa âm, ông lại viết một bài thơ
với cái tựa cũ là Trời khóc Marilyn. Bài thơ có
mấy chục câu bắt đầu từ chữ
luống, một loạt câu khác bắt đầu từ
chữ một. Bài thơ này có một số câu chữ
đi vượt quá giới hạn "đố tục
giảng thanh", không thể trích dẫn vào đây
được. Nhưng nó cho thấy rơ cái cách mà Bùi Giáng
tŕnh bày về cái đẹp trần tục theo cảm
hứng của ông.
Có lẽ nói măi cũng không hết
được chuyện Bùi Giáng làm thơ về những
người đẹp. Cho nên ta hăy đọc mấy câu
thơ mà ông "phân loại đánh giá người
đẹp" trong bài Quốc sắc Việt
Những người phụ nữ đẹp thoát
trần
Không chỉ có Kim Cương và Marilyn Monroe,
Bùi Giáng c̣n say đắm nhiều phụ nữ khác. Mỗi
người một vẻ, họ hiện ra trong nhiều
màu sắc kỳ bí khác nhau. Đó không phải là những
nàng thơ theo nghĩa thông thường mà là hiện thân
của cái đẹp.
Một cách vô thức, Bùi Giáng phân biệt
họ theo những tiêu chí khác nhau. Những người
đầu tiên có thể kể đến là Hoàng hậu Nam
Phương và ni cô Trí Hải. Khác với nghệ sĩ Kim
Cương và cô đào rực lửa người Mỹ
Monroe Marilyn là hiện thân của cái đẹp nhân gian
trần tục, hai người này thuộc về thế
giới của cái đẹp thoát trần.
Một ngày nọ, Bùi Giáng nhận
được một phong b́ gửi đến, trên có dán
con tem in h́nh Nam Phương Hoàng hậu. Sự kiện
nhỏ nhoi ấy lập tức gây xúc động lớn
với ông. Từ lúc đó, Hoàng hậu Nam Phương
trở thành một h́nh bóng ám ảnh ông. Bà bắt
đầu xuất hiện trong các trang viết của thi
sĩ. Trong cuốn Mùa thu trong thi ca Bùi Giáng viết:
"Suốt bao năm dài tại hạ làm thơ, chung quy
chỉ v́ cái màu xuân xanh bất tuyệt ban sơ của
Dương Hoàng Hậu. Màu xuân ấy đă một lần
tái sinh cách đây ba mươi năm trong h́nh hài máu me Nam
Phương Hoàng hậu. Tại hạ yêu Dương Quư
Phi bao nhiêu th́ cũng yêu Nam Phương Hoàng Hậu bấy
nhiêu".
Mặc dù Bùi Giáng luôn tôn kính Nam
Phương, nhưng ông cũng hài hước, cà rỡn,
lan man trên h́nh ảnh của bà cũng bởi tính của ông
như vậy. Tuy nhiên, Bùi Giáng cố gắng giữ
"chuẩn mực", không bao giờ đi quá đà. Một
đôi khi ngẫu hứng quá th́ ông cũng chỉ viết
như thế này: "Chiêm bao anh thấy Hoàng hậu Nam
Phương dắt tay Marilyn Kim Cương nương
tử tới gơ cửa xin vào thăm viếng anh th́ anh
bảo rằng anh đang bận viết lá thư cho em nên
không thể nào đón tiếp Hoàng hậu được
th́ cảm phiền Hoàng hậu hăy lui gót chờ qua ngày mai
anh sẽ ân cần chiếu cố".
Bùi Giáng cũng có sáng tác một đôi bài
thơ về Nam Phương. Trong bài Chiêm bao Nam
Phương Hoàng hậu, dù là một bài thơ thuộc vào
thể "điên loạn", nhưng ông vẫn
đủ "tỉnh táo" để ng̣i bút không
chệch qua chỗ thiếu đứng đắn: "Kê
bô tí xí đêm đà/Ki ba ri xí i à xán da/Xă dan xoàng xĩnh giang
hà/Ồ mô pha cố cồ ri xa ́/Tử t́ mỉm tí t́
ti/Miệng vàng hợp nhất nhu ḿ nhị biên/Ra sông
ngồi ngó diện tiền/Ngần sương sái diện
uy quyền nữ vương".
Bên cạnh Hoàng hậu Nam Phương, ni
cô Trí Hải xuất hiện trong các trang sách Bùi Giáng một
cách khá dày. Bà là một người có tŕnh độ uyên
thâm, tác giả của một số đầu sách. Có lúc
Bùi Giáng gọi bà là Trí Hải ni cô, có lúc gọi là mẫu
thân Phùng Khánh. Bùi Giáng làm rất nhiều bài thơ về bà.
Có thể kể tên một số bài như Mẹ Phùng Khánh,
Kính tặng Phùng mẫu thân, Mẹ Phùng Thăng Khánh, Phùng
Khánh Mẫu Thân...
Rất nhiều người thắc
mắc v́ sao Bùi Giáng gọi người này là mẹ, là
mẫu thân. Bùi Giáng cũng từng "giải thích"
chuyện đó trong Thi ca tư tưởng như sau:
"Phùng Khánh vốn là bà mẹ Việt
Có lẽ Bùi Giáng đă t́m thấy nơi
người nữ tu này điều ǵ đó gần gũi
với h́nh bóng người mẹ xa xưa của ông,
hoặc là tấm ḷng nhân ái của bà làm ông cảm
động, hoặc là trí tuệ mẫn tiệp của bà
khiến ông nể phục... V́ một trong những lư do nào
đó mà ta không thể đoan chắc được, thi
sĩ bật ra tiếng gọi mẹ trong vô thức
một cách da diết. Những bài thơ của ông v́
thế đọc lên thấy vừa tức cười
vừa tội nghiệp: "Mẹ c̣n nhớ nữa con
chăng/Mẫu thân Phùng Khánh con hằng chẳng quên/Tuy
đôi phen chết nếp nền/Cung vang lừng bậc
điệu đền bù xoang/Mẹ về ngơ vắng
vườn hoang/Thừa thiên sông lạnh kéo sang khu
rừng"..."Mẹ nh́n con nữa c̣n chăng/Mẹ
đi đứng gót mẹ hằng hằng qua/Lúc vui
buồn mẹ nhớ nhà/Quận châu xứ sở con đà
lăng quên/Phùng thăng mẹ chớ xui nên/Từng cơn
điên dại khôn đền cho con"... "Nghe tin con
chết giữa đường/Mẫu thân Phùng Khánh càng
thương con nhiều/Con bèn tái điệp giấn
liều/Chết thêm một trận hoang liêu song trùng/Mẹ
càng bất tuyệt nhớ nhung/Ngày đêm mẹ khóc vô cùng
v́ con"... "Con thương Phùng Khánh vô ngần/Phùng
thăng thân mẫu cũng gần như nhiên/Nguyệt
rừng lộng lẫy man nhiên/Trăng ngàn thơ dại
ngậm nghiêng nghiêng vành"...
Những câu thơ này, dù không
được b́nh thường, nhưng nó lại gieo vào
ḷng người đọc một nỗi niềm man mác.
Phải chăng trong tiếng gọi mẹ thiêng liêng
ấy là một sự cô độc tận sâu thẳm
hồn người ? Nhưng Bùi Giáng là như vậy. Trong
suy tư, trong cảm xúc, trong cuộc đời... ông lúc
nào cũng hồn nhiên như con trẻ.
Một năng lực phi thường của kẻ
suốt ngày rong chơi
Con người rong chơi suốt ngày này
đă để lại cho đời một khối
lượng tác phẩm đáng kinh ngạc. Tổng số
sách Bùi Giáng viết hoặc dịch đă được in
lên tới trên dưới 70 cuốn. Làm sao ông có thể
tạo ra một khối lượng tác phẩm đồ
sộ như vậy trong khi không ai thấy ông làm việc
cả? Do Bùi Giáng viết với tốc độ quá nhanh
chăng? Quả là như vậy thật. Câu chuyện do
một nhà văn gần gũi với Bùi Giáng trước
năm 1975 kể sau đây quả là kỳ lạ.
Nhà văn này cho biết, khi một tạp
chí văn học thực hiện số chuyên đề
về Bùi Giáng vào năm 1973, ông được phân công
giới thiệu những bài thơ mới nhất mà Bùi Giáng
sáng tác. Những bài vở khác của số tạp chí
đó đă được những người khác
thực hiện xong, chỉ c̣n chờ đợi những
bài thơ của Bùi Giáng thôi. Nhưng Bùi Giáng sống rày
đây mai đó, không có một địa chỉ nào cố
định, biết ông ở nơi đâu mà t́m. Thật là
nan giải. Đang loay hoay chưa biết kiếm t́m ở
đâu th́ thi sĩ bất ngờ ghé vào ṭa soạn.
Trước mắt mọi người là một bộ da
bọc xương trong quần áo rộng thùng th́nh, một
mái tóc dài đạo sĩ rối như tổ quạ,
một cái túi vải cộng với một cây gậy. Nhà
văn mỉm cười kéo Bùi Giáng ra trước ṭa
soạn chụp chung một tấm h́nh làm kỷ niệm
rồi mới hỏi xin ông những bài thơ mới
nhất. Bùi Giáng gật đầu đồng ư liền.
Tưởng rằng Bùi Giáng sẽ lấy
những bài thơ đă chép sẵn ở túi vải ra
hoặc nếu không có sẵn th́ ông nói để chờ ông
về nhà lấy đem tới liền hoặc là ông sẽ
khất hôm sau đem thơ đến. Nhưng tất
cả mọi dự đoán đều không đúng. Bùi Giáng
chỉ hỏi mượn ṭa soạn một cây bút, xin
một xấp giấy và một... chai bia. Xong rồi ông
bắt đầu ngồi xuống bàn. Và ông viết. Không
phải là ông ngồi nhớ để chép lại những
bài thơ làm từ hôm qua hôm kia hoặc tuần
trước, mà là ông ngồi để sáng tác thơ ngay
tại chỗ.
Bấy giờ mọi người mới
kinh ngạc nh́n nét bút, trong tay ông "thoăn thoắt, vùn
vụt, nhanh không thể tả", và những câu thơ
lần lượt hiện ra trên giấy mà theo lời nhà
văn trên là "như thơ không thể từ
đầu, từ tim chảy xuống, xa quá, lâu quá, mà ngay
từ ngọn bút, từ đầu ngón tay thôi". Chai bia
c̣n sủi bọt th́ Bùi Giáng c̣n ngồi viết không
ngừng. Thơ cũng tuôn ra không ngừng trên những
trang giấy. Nét chữ cũng nắn nót chỉn chu
chứ không phải gạch đi xóa lại. Sau khi
chứng kiến "gă phù thủy" Bùi Giáng sáng tác
thơ ngay tại chỗ, nhiều người trong ṭa
soạn bấy giờ mới hiểu được
một phần bí ẩn của con người ông. Một
người khác chứng kiến chuyện này tâm sự:
"Lần đó, tôi đă thấy, đă hiểu tại
sao Bùi Giáng cứ cánh bướm rong chơi, cứ phiêu
bồng lăng du mà vẫn có ngay ngh́n câu một buổi.
Đúng là ngủ ra thơ, thở ra thơ, uống la-de,
hút thuốc lá ra thơ".
Sau khi sáng tác đủ đơn
đặt hàng của ṭa soạn, Bùi Giáng uống cạn
chai bia, cười và lặp lại ba tiếng cửa
miệng "vui thôi mà", rồi đứng lên đi
thẳng. Bùi Giáng ra khỏi ṭa soạn mà mọi
người vẫn c̣n ngồi ngẩn ra đó, ai nấy
đều chưa hết bàng hoàng kinh ngạc.
Quá tŕnh tư duy và lao động sáng
tạo trong con người Bùi Giáng như thế nào? Ông
đă h́nh thành những tứ thơ ra sao? V́ sao ông có
thể tuôn ra được những câu thơ mà không
cần suy nghĩ? Đó là những câu hỏi mà rất nhiều
người ṭ ṃ muốn biết nhưng có lẽ không ai
t́m hiểu được. Ông Huỳnh Ngọc Chiến,
một người quen biết với Bùi Giáng kể,
một lần nọ có mấy người bạn
Quảng Nam cùng ngồi uống cà phê với Bùi Giáng,
một người rất ái mộ Bùi Giáng ṭ ṃ hỏi ông
thường làm thơ như thế nào, th́ Bùi Giáng
cười và nói: "Qua làm thơ cũng giống như
em là kỹ sư mà làm toán lớp ba rứa thôi". Theo ông
Huỳnh Ngọc Chiến th́ lúc đó Bùi Giáng trả
lời rất thành thật, chẳng có một chút biểu
hiện cao ngạo nào cả. V́ thế có thể tin lời
Bùi Giáng rằng với ông, làm thơ là một công việc
dễ dàng, đơn giản như ta làm toán cộng toán
trừ, đặt bút vào là làm chứ không cần phải
suy nghĩ.
Chính nhờ khả năng viết nhanh
đó mà Bùi Giáng đă cho ra đời một khối
lượng tác phẩm đồ sộ như trên. Giai
đoạn ra sách nhiều nhất của Bùi Giáng là
khoảng từ năm 1964 đến năm 1970. Riêng
năm 1969 Bùi Giáng cho ra đời đến mười
cuốn sách. Cũng trong những năm này có những
người đứng ra thành lập nhà xuất bản
với mục đích chủ yếu để in tác
phẩm của Bùi Giáng.
Bùi Giáng có phải là một người điên không?
Từ trước đến nay có rất
nhiều người đặt câu hỏi: Bùi Giáng có
phải là một người bị mắc bệnh
điên hay không? Cũng đă có rất nhiều bài viết
về Bùi Giáng đề cập đến vấn
đề này, trong đó một số tác giả khẳng
định Bùi Giáng là người điên trong khi một
số khác lại nói ngược lại.
Trong một bài viết, tác giả Trần
Đới khẳng định: "Một sự thực
là Bùi Giáng chưa bao giờ điên. Cũng như anh
chẳng bao giờ giả điên. Càng chưa bao giờ Bùi
Giáng bất măn trước bất cứ thời thế
nào. Bởi lẽ dễ hiểu là Bùi Giáng chẳng sống
theo thời thế, mà chỉ biết sống từ cơi
văn nghệ lúy túy càn khôn của anh. Thời kỳ
của Bùi Giáng bộc phát ra bên ngoài mà chúng ta gọi là
điên, ấy là thời kỳ tỉnh lại và hưng
phấn cùng độ của người nghệ sĩ. Tất
cả lẽ chân thiện mỹ của nghệ thuật
thi ca từ nhiều đời nhiều kiếp
đều dồn về lúc đó... Bây giờ người
thi sĩ này chỉ c̣n một cách duy nhất để sáng
tác nguồn cảm hứng kia là sống".
Một người khác, ông Nhất Thanh,
th́ viết như thế này: "Ồ, chẳng có ngôn
từ nào thích hợp với Bùi Giáng cả. Ông chỉ là
một ông già b́nh thường nhất, dễ thương
nhất. Nếu có điên chăng, có lẽ là tất
cả chúng ta".
Bùi Giáng hiển nhiên cũng biết
việc nhiều người tranh căi nhau rằng ông có
điên hay là không điên. Ông đă tự viết về ḿnh
như sau: "Nó điên? Vâng nhưng điên một cách vui
vẻ. Bạ đâu gọi đó là mẫu thân bát ngát
của con. Người ta bảo rằng nó không điên. Có
kẻ bảo rằng nó giả vờ điên. Muốn
biết nó điên hay không điên, hay giả vờ điên,
th́ trước hết phải đáp vào câu hỏi: Sao gọi
là điên? Nhưng mà? Nhưng mà đó là một câu hỏi
chưa hề có một lời giải đáp dưới
gầm trời và suốt xưa nay vậy".
Đọc đoạn đó của ông
người ta thấy hơi bối rối. Vậy th́ Bùi
Giáng là người như thế nào? Ông là một
người điên hay là một người b́nh thường?
Nhưng có một sự thật không thể chối căi: Bùi
Giáng đă từng là bệnh nhân của bệnh viện tâm
thần hẳn hoi. Năm 1969 là năm ông in được
nhiều tác phẩm nhất nhưng cũng là năm mà ông
vấp phải cú sốc lớn thứ hai trong đời.
Bùi Giáng bị hỏa hoạn thiêu cháy hết toàn bộ sách
vở quư hiếm, một số tranh và đặc biệt
nhiều bản thảo hoàn chỉnh mà ông rất tâm
đắc. Con người hồn nhiên của Bùi Giáng có
lẽ không bị sốc v́ chuyện này, nhưng sau đó
người thân của ông phải đưa ông vào Bệnh
viện Tâm thần Biên Ḥa để chữa trị. Cung
Tích Biền kể: "Khoảng đầu thập niên 70
có lẽ người ta đưa ông vào nhà thương
điên Biên Ḥa chữa cái bệnh đứng ngă ba nh́n ra ngă
bảy. Từ nhà thương điên trở ra, bữa
gặp nhau thấy ông rất tỉnh. Bèn hỏi một câu
thường t́nh: "Nhà thương Biên Ḥa trị cái
tẩu hỏa hay nhỉ!". Ông trả lời tỉnh
queo: "Chữa trị quái ǵ đâu. Chẳng là ở ngoài
ḿnh thấy ḿnh điên số một, khi vô nhà thương
điên mới hiểu ra ḿnh là đồ bỏ, điên
nhí, điên tiểu thủ công nghiệp; trong nhà
thương điên nhiều cha điên thượng
thừa, điên vĩ đại hơn ḿnh nhiều. Do
vậy mà ḿnh tự động thôi điên".
Nghe Bùi Giáng nói như thế, hẳn
người ta cảm thấy ngờ ngợ rằng
những việc làm không giống ai của ông là do ông
muốn thế chứ chẳng phải do bệnh tật
ǵ gây ra. Nhà văn Đào Hiếu viết: "Cũng có
thể hiểu Bùi Giáng như thế này: Ông coi đời
là hữu hạn, là phi lư, là chốn lưu đày, là cơi phù
du là cái mớ ḅng bong vớ vẩn...".
Chung quanh vấn đề Bùi Giáng, có hai
điều cần nêu ra sau đây. Một là, không phải
chỉ có ḿnh Bùi Giáng vừa có những biểu hiện tâm
thần vừa làm thơ viết văn. Có rất nhiều
bệnh nhân của các bệnh viện tâm thần là nhà
văn, nhà thơ, họa sĩ... Họ có thể vẽ
tranh, sáng tác văn thơ ngay trong thời gian điều
trị bệnh. Có điều họ không có sẵn cái
gốc tài năng xuất chúng như Bùi Giáng nên không trở
thành hiện tượng đặc biệt mà thôi.
Hai là, những hành vi khác người
của Bùi Giáng đă được các nhà chuyên môn xác
định có nguyên nhân bệnh lư hẳn hoi chứ không
phải là vấn đề tư tưởng hay nhân sinh
quan ǵ cả. Có điều, v́ ta thấy cái điên của
ông cũng hơi khác người nên cảm thấy ngờ
ngợ. Nhưng dần dần ta sẽ được rơ
hơn khi xem xét đến các vấn đề khác. Cần
biết rằng, không riêng ǵ Bùi Giáng mà nhiều bệnh nhân
tâm thần khác, tiếp xúc với họ đôi khi ta
cũng dễ nhầm lẫn v́ thấy họ có vẻ
thật thật giả giả, nửa điên nửa
tỉnh. Cho nên chúng ta không thể kết luận
được về t́nh trạng của họ mà phải
là các nhà chuyên môn.
Không ai biết Bùi Giáng, đọc Bùi Giáng
mà không yêu mến ông. Đó là sự thật. Gọi ông là
người tỉnh cũng được, điên cũng
được, dù là tỉnh hay điên ông cũng đă
để lại cho đời những vần thơ mênh
mang trác tuyệt. Ông mở ra một thế giới thi ca
cao vời, ảo diệu. Nói như một người từng
gần gũi với ông: "Nhiều người bảo
ông chỉ là một thằng điên. Tôi chỉ muốn
nghĩ thầm cho tôi là nếu có được thêm ít
người điên như Bùi Giáng, thơ ca ta c̣n
được lạ lùng được kỳ ảo
biết bao nhiêu". Quả đúng như vậy !
Năm 1970, Bùi Giáng được các bác
sĩ ở Bệnh viện Tâm thần Biên Ḥa cho xuất
viện. Ngay trong năm đó, ông đă in hai cuốn sách là Biển
Đông xe cát và Mùa thu trong thi ca. Qua năm 1971 ông in Ngày
tháng ngao du. Lúc này ông cũng đă bắt đầu ngao
du thực sự trên khắp những nẻo
đường Sài thành chứ không chỉ ngao du trong các
trang sách.
Phạm Xuân Đài một người
gần gũi với Bùi Giáng kể: "Bây giờ anh ít làm
thơ lắm, c̣n các cơn điên th́ viếng anh gần
như định kỳ. Những lúc ấy anh đi
nhiều nơi, nhưng thường xuất hiện vùng
chợ Trương Minh Giảng, chỗ Đại học
Vạn Hạnh là nơi ngày xưa anh từng trú ngụ,
đứng giữa đường vung tay điều
khiển xe cộ, cử chỉ rất linh động,
đặc biệt đôi mắt sáng quắc bừng
bừng. Anh đang thể hiện một năng lực
nào đấy đang đầy ắp trong người
anh. Có khi anh múa may trong một lớp áo ḷe loẹt,
động tác mạnh mẽ chính xác gần như múa vơ,
miệng ḥ hét như đang nạt nộ với một
đối tượng vô h́nh đang hiện diện ngay
trước mặt ḿnh. Đêm khuya một hai giờ sáng
người ta nghe thấy một người đi
vừa tranh luận với chính ḿnh, lời lẽ khó
hiểu, th́ ai nấy đều biết đó là Bùi
Giáng".
Năm 1972 ông in khá nhiều sách: Đường
đi trong rừng, Lời cố quận, Lễ hội
tháng ba, Con đường ngă ba - Bước đi của
tư tưởng. Năm 1973 in Bài ca quần
đảo, Hoàng tử Bé. Năm 1974 in Mùi hương
xuân sắc.
Khi không làm ǵ, ông lại ngao du nhiều
hơn. Một người quen biết khác với Bùi Giáng,
ông Nguyễn Văn Thức kể lại như sau: "Có
một lần gặp một người bạn,
người bạn đó đă nói với tôi: Bùi Giáng
dạo này điên lắm. Tôi bán tín bán nghi tự hỏi
không biết có thật không”. Nhưng một hôm, Nguyễn
Văn Thức đă tận mắt chứng kiến
những ǵ xảy ra trước mắt ḿnh, mới tin
lời người bạn nói lúc trước: "Một
ông lăo ăn mặc thời thượng đang nhảy múa
trên đường Duy Tân, nay là đường Phạm
Ngọc Thạch. Quần áo lếch thếch, dơ dáy, màu
sắc lung tung.
Và đây là một cảnh tượng khác
xảy ra trên đường phố Sài Thành mà "diễn
viên chính" không ai khác hơn ngoài thi sĩ của chúng ta:
"Bùi Giáng nhảy múa trước Bệnh viện Nhân Dân
Gia Định đường Nơ Trang Long quận B́nh
Thạnh. Ông cầm một cây đu đủ khô queo dài
cỡ hơn hai mét. Lúc nào cũng vung cây đu đủ lên
nhảy múa, quần áo vẫn lôi thôi, chằng vá đơn
kép, màu sắc linh tinh. Đám trẻ con, người
lớn bu vào. Giữa đám đông ấy tôi đến
gần Bùi Giáng, vỗ vai ông: Nhảy múa ǵ măi vậy, ông?
Nghe hỏi, ông quay phắt lại phía tôi, nhếch cặp
mắt trắng dă, dữ tợn với dáng vẻ thủ
thế. Tôi mỉm cười cầu ḥa. Khi nhận ra tôi -
vẫn một tên trung niên ông đă từng gặp: À, mày,
mày cho tao về xóm gà đi. Vào nhà tao chơi. Không cần ǵ
phản ứng của tôi, ông nhảy phóc lên yên sau xe
đạp. Lúc này xe gắn máy của tôi đă mất nên
chở ông rất khó khăn, vả lại trên tay ông
đang cầm một cây đu đủ dài hơn hai mét.
Bùi Giáng và tôi đang là tṛ cười cho đám đông. Tôi
nói là bận không thể chở được. Ông nói
như phán: Cứ đi đi, chở cây này về dùm tao.
Bùi Giáng cứ gác gốc cây đu đủ lên tay lái xe
đạp, ngọn th́ ông đặt lên vai. Ông lại phán:
Đi mày ! Giây phút này tôi bỗng trở nên một gă hề,
rất hề. Giá ông đọc vài câu thơ Pháp lên
giọng rồi xuống giọng th́ tuyệt. Nhất
định là một sân khấu ngoài trời. H́nh ảnh
này tôi đă gặp nhiều lần ở quán cà phê Huy
Tưởng. Tôi cố sức đạp đi mà không
nổi, v́ lỉnh kỉnh quá. Vài người trong đám
đông đề nghị, đi xích lô thôi. Tôi đồng ư
ngay. Bùi Giáng th́ lưỡng lự. Nhưng trời xui
đất khiến ông cũng nhảy xuống. Tôi
đưa ông ít tiền để ông đi xe, nhưng ông
chỉ lấy một nửa trước sự ngạc
nhiên của tôi và nhiều người..."
Nói về chuyện ngao du của Bùi Giáng,
Phạm Xuân Đài kinh ngạc: "Cái ông già gầy g̣ ngoài
sáu mươi ấy lấy đâu ra sức lực
để trải qua các cơn điên dữ dội
của ḿnh? Đấy là một điều bí ẩn.
Đi lang thang hàng chục cây số bất kể nắng
mưa, múa may la hét suốt mấy ngày liền, kẻ
lực sĩ chưa chắc đă làm được".
Dịch giả tài hoa nhưng không b́nh thường
Le petit Prince, một trong những cuốn
tiểu thuyết hay nhất thế gian của nhà văn
Pháp Saint Exupéry, cuốn sách được coi là bài thơ
bất hủ ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn con
người, bản dịch tiếng Việt đầu
tiên của cuốn sách tuyệt vời đó là của Bùi
Giáng với cái tên Hoàng tử bé. Hàng triệu người
Việt
Trong các năm từ 1966 trở đi, Bùi
Giáng dịch rất nhiều tác phẩm văn học
của các nhà văn nổi tiếng nước ngoài.
Mảng sách này chiếm một tỷ lệ khá lớn trong
những cuốn sách của Bùi Giáng. Ngoài các tác phẩm
của Saint Exupéry, Bùi Giáng c̣n dịch các tác phẩm của
Shakespear, Albert Camus, André Gide, các tác giả Trung Quốc và
nhiều tác giả phương Tây khác. Ông thông thạo
tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và chữ Hán.
Trong những bản dịch của ông,
một số ông dịch trung thành với nguyên bản,
một số khác ông vừa thể hiện được
tinh cốt của tác phẩm, vừa... sáng tạo. Và có
một số tác phẩm ông không chịu dịch trọn cuốn
sách mà vừa dịch vừa… cà rỡn.
Ta hăy đọc một cuốn tiểu
thuyết dịch nửa chừng như vậy của Bùi
Giáng. Cuốn Nhà sư vướng lụy được
Bùi Giáng dịch, Quế Sơn xuất bản lần
đầu vào năm 1969. Đây là tác phẩm của
một nhà văn Trung Hoa đồng thời cũng là
một nhà sư tên là Tô Mạn Thù.
Thoạt đọc cuốn sách, ta bắt
gặp cái giọng văn vừa khúc chiết vừa
văn hoa của ông khi xưa, lúc ông viết "Một vài
nhận xét…": "Tại Bách Việt, về phía
Ta thích thú đọc tiếp những trang
sau. Nhưng đọc khoảng hai ba chục trang nữa
th́ ta chợt thấy thấp thoáng một vài cụm từ
"có vấn đề", chẳng hạn: "Con xin
trút giũ thảy thảy hết trở lại cho Như
Lai, để suốt một b́nh sinh đi theo dấu chân
liên tồn của Tuyết Mai tiên nữ".
Tuy nhiên chúng ta vẫn c̣n đọc
được thông suốt văn bản thêm khoảng
bốn nămchục trang tiếp theo. Rồi cuối cùng
ta đụng vào cái mớ rối ḅng bong của Bùi Giáng.
Lúc này, Bùi Giáng bắt đầu lên đồng: "Mặt
hồ nguy nga nào tinh khiết thế, cho đến nỗi
những ngư ông ngư phủ đă ngây thơ báo
biểu rất mực rằng, nh́n đăm đăm vào
ắt các anh sẽ thấy những Đô Thị Phiêu
Bồng Huyền Thuyết Cổ Hy nhô lên bất chợt
bởi thần thuật Đa Na Ô kỳ bí, ở diện
tiền bọn người h́ hục lao công, hồ
ngọc ôi, ngươi quyến rũ dă man ǵ như
thế, khiến hằng hằng mỗi mỗi
cường quốc nọ cứ lăm le muốn
chiếm hữu đất đai xứ sở kia cho
bằng được".
Từ lúc này trở đi, người ta
không biết đâu là lời của tác giả nguyên bản
đâu là lời của Bùi tiên sinh nữa. Lúc đó Bùi Giáng
bắt đầu… múa bút. Ông vứt bỏ những t́nh
tiết của tiểu thuyết ra ngoài để thay vào
đó là những chuỗi dài từ ngữ dính chùm nhau, kéo
từ trang này qua trang khác của ông, hết văn xuôi
lại đến thơ.
"Hỡi ôi!/Lời tối hậu? Ư
tuyệt trù /Bỗng dưng chắp nối cho sầu ma
hoang/Lời thăm thẳm? Ư khôn hàn/V́ đâu riêng tụ
về hàng thơ điên/Bán khai nhân vật diện
tiền/Sương lung bán ẩn suốt miền cảo
thơm".
Nhưng chưa hết đâu. Bùi Giáng vẫn
chưa thỏa măn khi đă đùa giỡn như thế.
Cho nên ông đưa nàng Kim Cương của ông vào trong
cuốn tiểu thuyết của Trung Quốc: "Ôi em
Kim Cương ngàn thu một thuở Nương Tử
rất mực vô ngần
Cho đến lúc Bùi Giáng hoàn toàn quên luôn
việc dịch tiểu thuyết khi ông nhảy vào trong
bối cảnh để xưng là tại hạ và ngâm
thơ hoặc là hát: "Anh đă hái ngành lá cây thạch
thảo/Em nhớ cho mùa thu đă chết rồi/Chúng ta
sẽ không tương phùng được nữa/Mộng
trùng lai không có được trên đời".
Có lẽ nói sẽ không hết ư. V́ vậy
nên trích vào đây một đoạn bản dịch
tiểu thuyết Nhà sư vướng lụy của Bùi
Giáng:
"Nói xong nàng vén áo xiêm, chỉnh
đốn quỳ một chân xuống, trang trọng đón
chút quà mọn như đón tặng vật trời ban. Ôn
tồn thuần hậu mà rằng:
- Kính tạ Tam Lang! Tam Lang từ nay
đừng dùng tiếng "cô nương cô nưỡng
cô nuồng" mà gọi tôi. Nghe có vẻ ra làm sao ấy.
Chẳng thân thiết tí nào.
Tôi nói:
- Kính thưa cô nương. Tại hạ
đồng ư là: tiếng cô nương nghe ra không có vẻ
thân mật. Nhưng c̣n tiếng "cô nuồng" th́
quả là thân thiết bịch bồ.
Tĩnh Tử hỏi:
- Hà dĩ kiến đắc?
Tôi đáp:
- Nhân v́ tiếng "cô nuồng" có
chứa chất âm thanh "uông uông uồng uồng"
ngụ trong tính t́nh nên lời tuyệt diệu.
Tĩnh Tử hỏi:
- Tuyệt diệu như răng?
Tôi nói:
- Như rằng uông uồng chuồn
chuồn thèm thuồng và ở truồng vân vân.
Tĩnh Tử ph́ cười:
- Tam Lang chớ có giỡn như thế em
không có bằng ḷng.
Tôi nói:
- Dạ vâng.
Nuồng bảo:
- Dạ, vâng cái chi. Tam Lang hăy dùng tiếng
ừ vậy.
Tôi đáp:
- Nhiên.
Nuồng nói:
- Phải. Nhiên. Giờ đây em đă
nhận tặng vật của anh, sớm hôm nh́n ngắm,
em sẽ không quên con người sẽ không quên con
người đă ban cho".
Đến đây cuốn tiểu
thuyết của Trung Quốc coi như hoàn toàn biến
mất trong bàn tay của một dịch giả tài hoa
nhưng không b́nh thường này.
Không chỉ làm thơ, dịch tiểu
thuyết, viết sách khảo luận triết học, Bùi
Giáng c̣n viết rất nhiều tùy bút văn học,
đặc biệt là tùy bút về thơ. Đọc
những tùy bút này, ta nh́n thấy tâm hồn ông mênh mang
ảo diệu, thăm thẳm như bầu trời. Ông
cảm nhận được những điều tinh vi
huyền bí nhất của thi ca. Ông đúng là tri âm của
các thi sĩ. Chúng tôi xin giới thiệu một bài trong
số đó, đây là bài Bùi Giáng viết về Tuệ
Sỹ, trích trong tập Đi vào cơi thơ.
Tuệ Sỹ là một vị sư. Ông
viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông
về Phật học quả thật quảng bác vô cùng.
Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai
ngờ rằng linh hồn kia c̣n ẩn một nguồn
thơ thâm viễn u u... Một bữa ông đọc cho tôi
nghe hai câu thơ chữ Hán của ông:
Thâm dạ phong
phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện
tiền vị liễu lạc hoa phi
Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu
để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề
nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông
ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn
đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử viết:
Thâm dạ phong
phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện
tiền vị liễu lạc hoa phi
Phiêu bồng tâm
sự tân toan lệ
Trí Hải
đa tàm trúc loạn ty
Và xin ông chả
nên lấy thế làm bực ḿnh.
Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín
đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy,
lại c̣n mang một nguồn thơ Việt phi phàm ?
Một bài thơ "Không đề" của ông
đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất
ngủ:
Đôi mắt
ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không
xanh măi trên đồi hoang
Phút vội vă
bỗng thấy ḿnh du thủ
Thắp đèn
khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Mới nghe bốn câu thôi, tôi đă cảm
thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cơi dạ.
Từ núi
lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh
đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười
với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông
mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc
bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi
đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó
lại bốn vách tường ủ rũ
Suối
nguồn xa ngược nước xuôi ngàn
Tôi hoảng vía đề nghị:
Đại sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm
thơ tiếp nhiều cho, nếu không th́ nền thi ca
Việt mất đi một thiên tài quá lớn.
Ông đáp: Để về hỏi lại
ni cô Trí Hải xem có đúng như lời thế chăng.
Đôi mắt
ướt tuổi vàng
Khung trời
Hội cũ
Xin xuống ḍng thư thả như
thế. Ắt nh́n thấy chất trang trọng dị
thường của hoài niệm. Hoài niệm ǵ ? - Khung
trời hội cũ.
Một hội Đạp thanh ? Một
hội nao nức ? - "Giờ nao nức của một
thời trẻ dại ?".
Đôi mắt ướt tuổi vàng khung
trời hội cũ...
Mở lời ra, nguồn thơ trực
nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Đầy
đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung
trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến,
một tuổi vàng long lanh... Một đôi mắt
ướt ngậm ngùi của hiện tại.
Nhưng mạch thơ đi ngầm.
Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không
cần tới một h́nh dung từ nào cả, vẫn nói
được hết mọi điều "phải
nói" với mọi người "muốn nghe"
với riêng ḿnh "không thiết chi chuyện nói".
Người thi sĩ xuất chúng xuất
thần thường có phong thái khác thường đó.
Họ nói rất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất
nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy ǵ hết.
Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi
người. Nói cho mọi người mà cơ hồ
chẳng bận tâm ǵ tới chuyện thiên hạ nghe hay
chẳng nghe. Nỗi vui, nỗi buồn của họ,
dường như chẳng giống lối vui buồn
của chúng ta. Do đó chúng ta trách móc họ một cách
lệch lạc hết cả (par manque de justice interne).
Trong một cuộc vui, ta hỏi họ vài
điều. Họ lơ đễnh thờ ơ, ta
tưởng họ kiêu bạc. Trong lúc mọi người
đang gào khóc giữa đám tang, họ phiêu nhiên đi qua,
trông có vẻ như mỉm cười, niêm hoa vi tiếu.
Ta tưởng họ tàn nhẫn thô bạo.
Vua Gia Long ngày xưa đă từng lấy
làm quái dị về thái độ Nguyễn Du: "Trẫm
dùng người, không phân biệt kẻ
Ông vua kia lấy làm lạ là phải lẽ
lắm, hợp với lương tri thói thường thiên
hạ lắm. Ông không thể hiểu v́ sao vị di
thần kia cứ miên man như nằm trong cơi mộng
thần di, hồn dịch !
Vua đă ban cho chan ḥa mưa móc, lộc
trọng quyền cao đặc ân thâm hậu như
thế, cớ sao Liệp Hộ chưa vừa ḷng, vẫn
chưa cứ thả mộng chạy lang thang về chân
trời hướng khác.
Đáp: Ấy chính bởi đôi mắt
nh́n đây mà thấy những đâu đâu.
Đôi mắt
ướt tuổi vàng
Khung trời
hội cũ
Đôi mắt ướt ? Đôi mắt
của ai ? V́ sao ướt ? V́ lệ trào, hay là v́ quá long
lanh ?
Thi sĩ không nói rơ. Ấy là giữ một
khoảng trống vắng lặng phóng nhiệm cho thơ.
Tha hồ chúng ta tự do nghĩ hai ba
lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân ướt trong
hiện tại v́ nhớ nhung một trời hội cũ.
Hoặc là đôi mắt giai nhân nào long lanh dịu mật
như nước suối chan ḥa, soi bóng một khung
trời hội cũ bất tuyệt nào, mà ngày nay tại
hạ đă đánh mất rồi chăng ?
"Áo màu xanh không xanh măi trên đồi
hoang"
Áo nào màu xanh ? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán
gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân
đă ngẫu nhiên một lần nh́n đắm
đuối ?
Tôi nói không sai sự thật mấy đâu.
V́ Tuệ Sỹ vốn xưa kia ở Lào. Cha mẹ ông
kiều cư trên đất Thượng Lào Trung Việt.
Bà mẹ ông thỉnh thoảng cũng trở về Sài G̣n
tới chùa viếng ông đem quà cho ông một đôi dép
riêng biệt, một tấm khăn quàng riêng tây.
Đôi mắt
ướt tuổi vàng
Khung trời
hội cũ
Áo màu xanh
Không xanh măi
Trên đồi
hoang
Phút vội vă
bỗng thấy ḿnh du thủ.
Thắp đèn
khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Phút vội vă bỗng thấy ḿnh du thủ
? Ḿnh là thân Bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế
sao bỗng nhiên một phút vội vă lại dám làm thân du
thủ ? Dám gác bỏ kệ kinh ? Dám mở cuộc thắp
đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn ?
Phải có nh́n thấy khuôn mặt khắc
khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng v́
lời nói thăm thẳm đơn sơ nọ. Lời
nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền
kiếp, từ một quê hương trên thượng du
bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung
rinh trong đêm lạnh.
Từ núi
lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh
đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười
với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông
mai mùa hạ buồn chăng
Mối t́nh rộng thả suốt biển
non im ĺm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn
chưa tan. Một nếp u ẩn của ḷng ḿnh bơ
vơ không gột rửa.
Từ núi
lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh
đá này và hạt muối đó chưa tan
Ta tưởng như nghe ra "cao cách
điệu" bi hùng của một Liệp Hộ,
một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc
Nietzche.
Thi nhân đă mấy phen ngồi ngó trăng
tàn ? Ngồi trên một đỉnh đá ? Bốn bề
rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh
tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải?
Đỉnh đá và hạt muối là hai
chốn kết tụ tinh thể của núi và biển.
Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu
trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái
lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái
bất tận của tâm t́nh sừng sững tại
giữa tuế nguyệt phiêu du:
Cười
với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông
mai mùa hạ buồn chăng
Một tiếng "buồn chăng"
lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như
ngậm ngùi ta thán, d́u về cả một khúc tâm thanh
đoạn trường:
Sen tàn cúc
lại nở hoa
Sầu dài ngày
ngắn đông đà sang xuân
Đếm tóc
bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi
đường dài gót mỏi đi quanh
Tiết
nhịp lời thơ lại biến đổi:
Đếm tóc bạc
Tuổi
đời
Chưa
Đủ
Bụi
đường dài
Gót
Mỏi
Đi
Quanh
Tiết điệu rạc rời như
gót mỏi đi quanh. Một tuổi đời chưa
đủ ? Một tuổi xuân chưa vừa ? Một
tuổi vàng sớm chấm dứt ? Một tuổi
"đá" sớm từ giă mọi yêu thương ?
Giờ ngó
lại bốn vách tường ủ rũ
Suối
nguồn xa
Ngược
nước
Xuôi ngàn
Bài thơ dừng lại. Dư âm bất
tuyệt kéo dài trong đêm lữ thư khép ḿnh trong bốn
bức tường với nhạt nḥa ủ rũ ngục
tù.
Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ
đă trùm lấp hết chân trời mới cũ
Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây
Phương.
Tôi đă gặp Bùi Giáng nhiều lần
trên trang sách trước khi thực sự được
gặp ông. Cơ may ấy có được chính là nhờ
tôi đi chiến trường. Chứ nếu cứ ở
Hà Nội, th́ chắc măi sau ngày giải phóng tôi mới
đọc được Bùi Giáng.
Hồi chiến tranh, sách vở của
miền
(C̣n tiếp)
Thanh Thảo
Đọc bài viết rất hay của nhà
văn Đặng Tiến (Paris) về Huy Cận, tôi
dừng lại ở đoạn anh Đặng Tiến
viết về Bùi Giáng ngợi ca thơ Huy Cận, và
chợt nh́n năm sinh cùng năm mất của Bùi tiên sinh:
1926-1998. Vậy là Bùi Giáng sinh năm Bính Dần và mất
năm Mậu Dần. Trọn trong ṿng Hổ. Một con
hổ rất hiền nhưng vẫn là hổ chánh
hiệu, không phải "hổ kiểng". Nhưng
vẫn là hổ phải xa rừng, phải "ĺa xa
cố quận".
Nói đến hổ, tôi lại chợt
nhớ, cái gây ấn tượng nhất cho tôi khi lần
đầu (và cũng lần cuối) gặp Bùi Giáng chính là
đôi mắt của ông, một đôi mắt lạc
thần. Sau ngày Bùi Giáng mất, nhà thơ Nguyễn
Đỗ có làm một cái phỏng vấn tôi qua
điện thoại về Bùi Giáng, xin được trích
một đoạn có liên quan đến đôi mắt
kỳ lạ của Bùi tiên sinh: "Nguyễn Đỗ:
Thưa anh, nhắm mắt lại, gương mặt nhà
thơ Bùi Giáng như thế nào trong anh ? Thanh Thảo: Dù
nhắm mắt hay mở mắt th́ tôi cũng chỉ h́nh
dung một Bùi Giáng như người cơi khác về chơi
cơi này. Chơi chán th́ đi, thế thôi. Cả gương
mặt Bùi tiên sinh dồn vào đôi mắt: một đôi
mắt lạc thần. Đó là đôi mắt luôn nh́n quá. Dù
Bùi Giáng đọc thơ, nói cười, múa hát, th́ đôi
mắt ấy vẫn im lặng. Nguyễn Đỗ:
Người ta cho rằng: điên hay bất b́nh
thường là một thuộc tố của thơ ca. C̣n
anh ? Thanh Thảo: Tôi không biết. Nhưng tôi biết
một điều: làm thơ là một quy tŕnh bất b́nh
thường: đang nói năng b́nh thường th́ lại
có người nói năng theo vần nhịp, bằng
bằng trắc trắc... chẳng là bất b́nh
thường ư ? C̣n điên? Ai mà chẳng có những
cơn điên trong đời, kể cả những
người không làm một câu thơ. Chỉ có khác, với
những người làm thơ, những cơn điên lúc
họ làm thơ là những cơn điên-tỉnh. Điên
hoàn toàn cũng không có thơ, mà tỉnh hoàn toàn th́ dẫu có
thơ, thơ ấy cũng... dở". Như thế,
theo tôi, Bùi tiên sinh là người có nhiều "cơn
điên" trong đời hơn chúng ta, những kẻ
b́nh thường. Điều đó biểu hiện trong
thơ ông, một giọng thơ khác thường, thậm
chí lạ thường:
"Gấu ôi
điềm tĩnh đi ngang
Cọp ôi
dừng bước giữa hàng thơ hoa
Đi về
trong cơi người ta
Trước là
thi sĩ sau là đười ươi
Trận sầu
kết chặt cơn vui
Tiền tŕnh
vạn lư chôn vùi dấu chân"
Bài thơ của Bùi tiên sinh có nhan
đề Gấu ôi, một nhan đề rất...
chơi, nhưng bài thơ th́ tuyệt vời sâu sắc và
rất... hiện thực, nếu ta hiểu sâu hơn
về thân phận nhà thơ, thân phận của thơ. Thi
sĩ, theo Bùi Giáng, là vậy, khó thoát khỏi cái ṿng karma
đi về giữa thi sĩ và đười ươi.
Nhân đây cũng nói thêm, chữ đười ươi
là chữ Trung Niên thi sĩ rất hay dùng, với ư hoàn toàn
nghiêm túc chứ không mảy may cợt đùa, với ư
ngợi ca chân thành chứ không một chút chua cay giễu
cợt. Và nếu ai có điều kiện đếm
thử (bằng máy tính) xem Bùi tiên sinh đă dùng trong các tác
phẩm của ḿnh bao nhiêu chữ đười
ươi, cũng như bao nhiêu chữ cố quận, có
lẽ thống kê ấy sẽ góp phần giải mă
được thơ Bùi Giáng, một giọng thơ
đang chơi chơi đột nhiên thăm thẳm,
những từ ngữ như bị hút vào lỗ đen,
giống những ngôi sao bị lỗ đen hút tuột.
"Ḷng đi trong cơi người ta/Ḷng đi đi mất
đi là đi đi/", hai câu lục bát có đến 6
chữ đi trong tổng số 14 chữ mà khi đọc
ta tự nhiên bị hút vào không hiểu v́ sao, không giải
thích được. Thơ có lẽ là thế chăng ?
Trở lại với cái duyên Huy Cận-Bùi
Giáng mà nhà văn Đặng Tiến đă viết rất
hay, ta mới biết, hóa ra chữ cố quận mà Bùi Giáng
dùng như một bửu bối trong đời thơ
của ḿnh, hai chữ ấy bắt đầu từ Huy
Cận, chính xác là từ hai câu lục bát trong một bài
thơ của Huy Cận viết khoảng năm 1942, bài
thơ chưa một lần được in sách: "Tâm
t́nh một nẻo quê chung,/Người về cố
quận, muôn trùng ta đi". "Cố quận" là
một từ Hán - Việt, nhưng có lẽ đă
được Việt hóa hoàn toàn kể từ khi Huy
Cận dùng trong thơ và được Bùi Giáng tô
đậm lại trong suốt đời thơ của
ḿnh như một giai điệu chủ. Trong trước
tác Lời cố quận và lễ hội tháng ba, Bùi Giáng
dịch giải M.Heidegger b́nh thơ nhà thơ Đức
Hoelderlin, tiên sinh đă thổ lộ cơ duyên vào thi ca
của ḿnh: "Khoảng năm 1943, ở Việt Nam có
thằng thiếu niên Việt gặp được
một vần lục bát in rơi rớt trên một tờ
báo bạn đường: "Tâm t́nh một nẻo Quê
Chung/Người về Cố Quận muôn trùng ta
đi/". H́nh như man mác trong không gian, thường có những
niềm tương ngộ. "Bây giờ th́ tôi đă
hiểu, v́ sao Bùi Giáng mê thơ Huy Cận đến
vậy! Có một "niềm tương ngộ" nào
đó giữa họ. Nhưng hơn tất cả, họ
đă gặp nhau trong thơ. Mà với họ, thơ
mới là "cố quận" cho suốt một
đời họ. Trở lại chuyện Bùi tiên sinh coi bói
cho tôi hồi tháng 5/1975. Với đôi mắt lạc
thần, ông nh́n tôi nhưng lúc ấy tôi có cảm giác ông
đang nh́n tận đâu đâu. Bùi Giáng phán: "Anh là
người bất định". Chịu thầy ! Tôi
th́ có định ǵ đâu, cho tới bây giờ, tôi vẫn
là người bất định (!). Chỉ một câu nói
có vẻ chơi chơi, có vẻ t́nh cờ ấy thôi, tôi
nghiệm lại mấy chục năm đời ḿnh và
thấy đúng quá! Nó cũng giống như những câu
thơ Bùi Giáng, mới đọc tưởng chơi,
tưởng điên, tưởng ông chọc quê, nhưng
rồi với thời gian, với sự trải nghiệm
trong đời, đọc lại, ta bỗng như phát
hiện một điều ǵ, cảm thấy xa xót một
nỗi ǵ. Những thi sĩ như Bùi Giáng, nói là điên
cũng ừ, họ điên giùm cho chúng ta đấy ! Mà
thế nào là điên cơ chứ ? Theo tôi, những
người không tự biết ḿnh, những kẻ cứ
"bé cái nhầm" tưởng tiền của dân
của nước là tiền của... ḿnh, để
đến nỗi tan tành cố quận, tung tóe
đười ươi, những kẻ ấy mới
chánh hiệu là... điên. Điên hết thuốc chữa!
Chứ sao gọi một thiên tài thi ca như Bùi Giáng là
điên ?
(c̣n tiếp)
Thanh Thảo
Trong bài thơ Vùng (Zone) nổi tiếng,
G.Apollinaire, có lẽ nh́n từ tháp Eiffel đă thấy
những cây cầu bắc qua sông Seine như một bầy
cừu "kêu be be sáng nay". Nếu thay v́ bầy cừu
là bầy dê, thay nàng chăn cừu là chàng chăn dê, lại
thấy thấp thoáng h́nh bóng một Bùi Giáng nơi
thượng nguồn con sông Thu Bồn đang chăn
những đám mây trên mặt nước sông vào buổi
sáng mùa thu nào đó.
Là người dịch rất nhiều tác
phẩm trứ danh của văn học Pháp, nhưng h́nh
như Bùi Giáng chưa có dịp đi
Trở lại với giai đoạn
Mưa nguồn, chàng thanh niên Bùi Giáng c̣n giữ niềm tin
ở mùa xuân, ở trần thế trong thời gian, ở
Màu xuân: Ngàn xuân rộng vô ngần trong bóng nguyệt, hay trong
bài Bờ xuân tiếp theo:
Mùa xuân bữa trước mùa xuân bữa
sau, xuân bốn bên trong hiện tại vây hăm tấn công
đời hạnh phúc lạnh như băng không làm sao nhúc
nhích. (Mưa nguồn, tr.38-39)
Mùa xuân, mùa xuân hiển hiện, lung linh ánh
sáng, long lanh thinh sắc. Trong niềm hoan lạc của
đất trời, con người an tâm vui hưởng, v́
tin ở sự tuần hoàn miên viễn, như tin vào
một cánh én:
Én đầu
xuân tuyết đầu đông
Rừng cô
tịch ngóng nội đồng trổ hoa
(Mưa
nguồn, tr.62)
Người ta thường nói: xuân về.
Chữ về tin tưởng an lạc như Về
Cố Quận. Xuân về với gió đông, xuân mang
thương nhớ trở về (Nguyễn Bính). Chữ
về gây cảm giác ấm cúng, thân thiết, tin cậy:
Mùa xuân hẹn
thu về em trở lại
Ta nh́n nhau trong
bóng nước mơ màng
Nước
chảy măi bởi v́ xuân trở lại
Với ḍng trong
em hẹn ở bên đường
Ta sẽ
đợi nghe đời em kể lại
Thuở xưa
kia... bờ nước ấy xưa kia
Ta sẽ
đợi nghe đời em nói măi
Bên đời
ai vạn đợi đă chia ĺa
Mùa xuân hẹn
thu về em trở lại
Bên đời
đi c̣n giữ măi hay không
Gịng bất
tuyệt xanh ngần xuân thơ dại
Sầu hoang vu
vĩnh hạ vọng non hồng.
(Mưa
nguồn, tr.61)
Thơ là hạnh phúc của ngôn từ
như trong Một ngày lễ hội, tên một bài thơ
Holderlin được Heidegger b́nh minh. Hạnh phúc trong
lời nói, của lời nói, dù nói để chẳng nói
ǵ: thuở xưa kia... bờ nước ấy xưa kia.
Câu thơ không mang lại một thông tin nào cả. Xưa
kia làm ǵ ? Bờ nước ấy: ấy nào ? Nào ai
biết. Chỉ biết là không gian và thời gian hạnh
phúc. Hạnh phúc không cần nội dung. Hạnh phúc không
cần lư do, không cần tự thức.
Ngơ ban sơ, hạnh ngân dài, cổng xô c̣n
vọng... Bùi Giáng mách ta thế, và có lần kể:
Xưa kia tôi
đă có lần
Và bây giờ
đă đôi phần tôi quên
(Ca dao, Mưa
nguồn, tr.143)
Nhà thơ không cho biết đă có lần
làm ǵ, nhớ ǵ và quên ǵ, nhưng chúng ta cảm rằng
xưa kia ấy là hạnh phúc, ngay trong nhịp thơ
tần ngần, ngập ngừng, lơ đăng. Hồ
Dzếnh rất được Bùi Giáng yêu thích, đă
thật thà hơn:
Có lần tôi
thấy tôi yêu
Dáng cô thôn
nữ khăn điều cuối thôn
Xa rồi, nay
đă lớn khôn
Biết cô hàng
xóm có c̣n nhớ nhau ?
Chúng ta đối chiếu, sẽ thấy
sự khác biệt giữa hai tác giả, và đặc
sắc của thơ Bùi Giáng mà chúng tôi gọi là hạnh
phúc của ngôn ngữ:
Xin yêu măi và yêu
nhau măi măi
Trần gian ôi ! Cánh bướm cánh
chuồn chuồn Hạnh phúc ấy là Xuân trần gian,
ăm ắp trong thơ Bùi Giáng, thời điểm mưa
nguồn trên mái tóc. Cùng với tinh thần đó,
trước khi mất, ông đặt cái tên Thơ vô
tận vui cho một tập di cảo sắp sửa
được xuất bản.
Tuy nhiên, niềm vui vô tận ở đây
chỉ là một minh triết về cuộc sống.
Từ đó không thể nói đời và thơ Bùi Giáng lúc
nào cũng vui, dù theo lẽ buồn vui tương
đối của sự đời. Vui ở đây
hiểu theo nghĩa hiền triết Đông phương,
như cá vui, bướm vui trong Nam Hoa kinh của Trang
Tử. Nh́n dưới góc độ tư tưởng
hiện sinh của phương Tây, th́ ngược lại,
có thể nói đến "bi kịch".
Từ 1948, Bùi Giáng có câu thơ sấm kư: Ngày
Xuân xanh sơ ngộ để thiên thâu (Mưa nguồn,
tr.57). Câu thơ quan trọng, mang mâu thuẫn, có tính cách biện
chứng, giữa thiên thu và sơ ngộ. Một mặt, nó
nằm trong mạch Vũ trụ ca của Huy Cận:
Ḷng chim gieo sáng
dệt vân sa
Trên bước
đường xuân trở lại nhà
Mở sách chép
rằng: vui một sáng
Ngh́n năm c̣n
măi tấm ḷng ta
(Áo xuân, 1942)
Mặt khác, nó báo hiệu cho chủ
đề “chết từ sơ ngộ”, và Màu hoa trên ngàn
sơ khai đă là Màu hoa cuối cùng:
Lỡ từ
lạc bước bước ra
Chết từ
sơ ngộ Màu Hoa Cuối Cùng
(Chớp
biển, tr.45)
Bùi Giáng, rất sớm, đă linh cảm
rằng ḿnh suốt đời đứng nguyên ở
một tọa độ, xác định bởi một
không gian Cố Quận và một thời điểm Nguyên
Xuân:
Rồi tôi
lớn, đi vào đời chân bước
Cỏ Mùa Xuân
bị giẫm nát không hay
Chợt có lúc
hai chân dừng một lượt
Người
đi đâu ? Xưa chính ở chỗ này
(Chỗ này,
Mưa nguồn, tr.82)
Có một mùa xuân nào, tuần hoàn trong
trời đất, cùng với niềm vui nào đó.
Nhưng có một hạnh phúc khác, màu xuân khác không bao giờ
trở lại với nhân gian:
Mưa nguồn
cũ quá xa rồi một trận
Ôi xuân xanh
vĩnh biệt như thể nào
(…) Người
viết măi một màu xanh cho cỏ
Người
viết hoài một màu cỏ cho xuân…
(Bài ca
Quần Đảo, tr.22-23)
Rồi suốt đời, khi sáng suốt,
khi cuồng điên, qua hàng vạn trang sách, người
thơ chỉ làm hoài làm hủy một bài thơ, vẽ cho
ḿnh một chân dung duy nhất, như viết hoài một màu
cỏ cho xuân.
Xuân mười
sáu suốt bến xuân ch́m tắt
Một bài
thơ gieo suốt tự bao giờ
(Bài ca
Quần Đảo, tr.11)
Năm mười sáu tuổi đă xảy
ra biến cố ǵ trong đời tác giả làm ch́m tắt
mùa xuân ? Chúng ta không biết, chỉ biết là ông làm thơ
từ tuổi ấy, khoảng 1942, tại Huế, theo
lời ông kể ở đầu sách Lời Cố
Quận.
Xuân về xuân
lại xuân đi
Đi là đi
biệt từ khi chưa về
Hai câu thơ đơn giản. Ngớ
ngẩn mà thâm sâu. Vớ vẩn mà thần sầu.
Thâm sâu ở chỗ: lời nói tự
hủy, tự lời bôi xóa lời. Câu thơ có nghĩa là:
tôi vô nghĩa.
Thần sầu ở chỗ: không mấy
ai thấy cái chốn thâm sâu.
Thơ Việt
Đặng
Tiến
Hôm mùng ba mùng bốn theo nhau đẩy lùi
mồng một mồng hai của hôm nay Nguyên Đán (Mưa Nguồn, tr.164)
Câu thơ văn xuôi này của Bùi Giáng mang
hai đặc tính: một là ư nghĩa nói về ngày Tết
và mùa Xuân, hai là chữ nghĩa đi ngược chiều
thời gian.
Dĩ nhiên là mồng ba đẩy lùi
mồng hai; mồng hai đẩy lùi mồng một.
Như vậy hôm nay Nguyên Đán nằm ở vị trí nào
trên chuỗi tháng ngày? Nói khác đi, Bùi Giáng đứng
tại thời điểm nào ở đầu tháng giêng
để phát ngôn?
Lời thơ theo trật tự số
mục, và lối đếm thông thường: mùng một,
mùng hai… mùng ba, mùng bốn… Nhưng theo ư nghĩa câu thơ
th́ phải nói ngược lại: mùng bốn mùng ba
(sẽ) theo nhau đẩy lùi mồng hai mồng một. Như
vậy, nhà thơ phát ngôn từ ngày hôm nay Nguyên Đán,
như Nguyễn Bính năm 1940:
Năm mới
tháng giêng mồng một Tết
C̣n nguyên vẹn
cả một trời Xuân
Nhưng nếu hiểu (đă) theo nhau, th́
tác giả lên tiếng vào ngày mồng năm. Và trong cả
hai giả thuyết, trật tự chữ nghĩa trong câu
thơ Bùi Giáng vẫn không thuận chiều.
Rối rắm như vậy để nói
lên một điều cơ bản: thơ Bùi Giáng là
một “ḍng nước ngược” một tâm thức
đi ngược chiều thời gian, trong một Sử
Lịch, ngược ḍng Lịch Sử.
Trong hàng vạn trang sách để lại,
Bùi Giáng thường dùng từ Sử Lịch. Chỉ
một lần dùng chữ Lịch Sử để chối
bỏ:
Sử Lịch
phai trang
Chạy quàng
Là Lịch
Sử
(Lá Hoa Cồn,
tr.55)
Xuân trong thơ Bùi Giáng là xuân không mùa, xuân duy
nhất và tuyệt đối, mà ông gọi là Nguyên Xuân (Lá
Hoa Cồn, tr.26), là khởi thủy của nguồn
sống, nguồn thơ, quê của Em Mọi, của
Đười Ươi, đồng thời là
đối tượng, là cứu cánh của sáng tạo,
của Lời Cố Quận, Tiếng Gọi Về:
Thưa rằng
ly biệt mai sau
Là trùng ngộ
giữa hương màu Nguyên Xuân
(Mưa
Nguồn, tr.25)
Tác phẩm, và cuộc đời Bùi Giáng là
niềm thủy chung trước sau như một với
một Màu Hoa Trên Ngàn: ông khởi đi từ đây và
trở về lại đấy.
Xuân là nguồn
mạch thơ tuôn tuôn từ miền xa biệt:
Lỡ từ
lạc bước chân ra
Chết từ
sơ ngộ màu hoa trên ngàn
oOo
Mùa xuân xuất hiện thường xuyên
trong tập Mưa Nguồn, và tái hiện trong Lá Hoa Cồn,
về sau chỉ thấp thoáng mỗi ngày một ít, ở
những thi phẩm cuối đời.
Mưa Nguồn - thi phẩm đầu tay
và đều tay nhất của Bùi Giáng được in
năm 1962, gồm có nhiều bài làm từ 1948. Lời
thơ trong sáng, tươi thắm và tha thiết, vào
tập bằng hai câu mào đầu:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau
Là câu thơ nổi tiếng sớm
nhất của Bùi Giáng, v́ nó có thể được
sử dụng ở nhiều tần số khác nhau:
buồn hay vui, u hoài hay đùa cợt, ví dụ khi bè bạn
gặp nhau ngoài phố, lặp lại câu thơ: xin chào nhau
giữa con đường, dù không hiểu miên
trường là ǵ.
Và ư tác giả có thể ngược
lại: mùa xuân phía sau, miên trường phía trước.
Cũng cần nói thêm, thời đó, 1962, thơ Bùi Giáng
chỉ được truyền tụng trong một
giới độc giả và bằng hữu, đồng
hương, chứ không phải là một “hiện
tượng văn học” như gần đây.
Có thể là thơ của tuổi xanh, nên
tập Mưa Nguồn đă khởi đi từ nhiều
h́nh ảnh thắm tươi, điệu thơ ánh
ỏi:
Những nhành
mai sớm sương bên lá
Những nhành
liễu chiều gió bên cây
Cũng lay
lất bởi đời xuân em ạ
Thế nên chi
anh cũng viết ḍng này
(Những Nhành
Mai, Mưa Nguồn, tr.10)
Lời thơ tham dự với đất
trời vào niềm hoan lạc của mùa xuân. Thể thơ
cổ điển, nhưng tác giả đă trộn lẫn
thơ bảy và tám chữ, với âm điệu lạ
ở câu hai. Nhưng đặc sắc trong thơ Bùi Giáng
thời ấy là những h́nh ảnh tân kỳ trong thể
thơ truyền thống:
Ô thiều quang
! Làn nước cũ trôi mau
Em đi lên vói
bắt mấy hương màu
Miền
đất Thượng có mấy bờ hoa mọc
Xa biệt
lắm Mưa Nguồn trên mái tóc
Đă mấy
lần thổi lạc lệ lưa thưa
(Giă từ
Đà Lạt, 1958, Mưa Nguồn, tr.94)
Lời thơ diễn tả niềm hoang
mang trước thời gian, ư tưởng không mới,
nhưng lối kết hợp ẩn dụ th́ mới, so
với lối thơ tám chữ trước đó.
Ở Xuân Diệu, Huy Cận niềm ám
ảnh của phôi pha không gây bất ngờ như với
Ôi thiều quang ! làn nước cũ trôi mau…
Trần gian phôi pha, thời gian hủy
diệt, nhưng nhà thơ chấp nhận quy luật, nên
đă gh́ siết hai tay, Nàng Thơ đẹp của
trần gian ứa lệ:
Tôi đă
nguyện yêu trần gian nguyên vẹn
Hết tâm
hồn và hết cả da xương
(…)
C̣n ở
lại một ngày c̣n yêu măi
C̣n một
đêm c̣n thở dưới trăng sao
Th́ cành mộng
c̣n tung lên không ngại
Níu trời xanh
tay vói kiểng chân cao
Nhưng em
hỡi trần gian ôi ta biết
Sẽ rồi
ra vĩnh biệt với ngươi thôi
Ta chết
lặng bó tay đầu lắc
Đài xiêu ôi
xuân sắp rụng mất rồi
(Phụng
Hiến, Mưa Nguồn, tr.30)
Những bài thơ tin yêu cuộc sống,
tươi sáng và thắm thiết như vậy ít khi
thấy ở những tập thơ sau, mà cũng ít
người nhắc đến. Âu cũng là một
thiệt tḥi cho ông. Chúng tôi trích dẫn một bài thơ xuân
thắm tươi, có lẽ làm vào mùa xuân 1973, toàn văn:
Nắng Nguyên Đán
Chạy đi
em, nắng gió bốn chân trời
Về chân
đất dưới chân em mọc cỏ
Nắng Nguyên
Đán lục lam hay hồng đỏ
Tía vi vu hồng
lục cũng bao hàm
Chạy đi
em! sương gió nắng thênh thang
Trời
đất đẹp từ b́nh minh vũ trụ
Nắng Nguyên
Đán của nguyên xuân đầy đủ
Cỏ hoa
hương chồi nhú lộc miên man
Và riêng mở
duy Một Hàng Ẩn Mật
Nắng phơ
phất v́ sắc hương phơ phất
Dưới
khung trời mặt đất mở thênh thang
Chạy đi
em, gót ngọc bỏ hai hàng.
(Bài Ca Quần
Đảo, tr.54)
Phong cách nhắc lại một bài thơ
trước:
Chạy đi
em, qua vườn thắm theo ngày
Cùng với phút
giây này phơi mở lá
Em ngó nhé cành xanh
cây giục giă
Hoa nghiêng
đầu ríu rít cạnh chim kêu…
(Mưa
Nguồn, tr.96)
Nhưng nhịp thơ nhanh, âm điệu
khỏe, h́nh ảnh rộn ràng hơn, một điệu
thơ hiếm có ở Bùi Giáng, nhưng vẫn lấy
lại chủ đề nguyên xuân, và giọng lẳng
lơ cố hữu, cỏ mọc hai hàng, đi đến
ngôn ngữ Ẩn Mật về sau. Tóm lại, một bài thơ
không Bùi Giáng mà vẫn Bùi Giáng.
Đặng Tiến
Mưa Nguồn, tên sách là một từ
ngữ, h́nh ảnh thông thường, như trong thành
ngữ dân gian, chớp bể mưa nguồn.
Những trận mưa rừng núi là
hiện tượng thiên nhiên quen thuộc, có lẽ Bùi Giáng
đă nhiều lần chứng kiến cụ thể
thời trai trẻ, khi chăn dê miền trung du Trung
Phước, khoảng 1946. Đây là những trận
mưa giông lớn, ào ạt đổ xuống rất
nhanh, nhất là vào mùa hè, gây ấn tượng mạnh.
Mưa Nguồn có thể hiểu theo nghĩa đen.
Lại thêm nghĩa bóng: mưa móc, ân
sủng dội xuống nơi cội nguồn cuộc
sống, ào tuôn, “giáng” xuống một lần rồi thôi,
nhưng cũng có thể trở lại, trong lẽ
tuần hoàn, như lời chờ mong của Tản Đà:
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn,
trong Thề Non Nước.
Cần hiểu thêm, chữ nguồn, ở
quê Bùi Giáng, c̣n có nghĩa đời sống của dân
tộc thiểu số ở miền trung du Trung Bộ, mà
Bùi Giáng thường xuyên tiếp xúc. Họ thuộc
nhiều chủng tộc, chủ yếu là người Gié
Triêng và Ca Tu, mà cuộc đời hoang dă đă tạo ra và
lưu lại nhiều ấn tượng sâu xa trong tâm
thức Bùi Giáng. Cuộc trao đổi hàng hóa giữa hai
miền xuôi ngược - ngày nay gọi là Kinh Thượng
- đă để lại câu ca dao:
Ai về
nhắn với nậu nguồn
Mít non chở
xuống, cá chuồn chở lên
Nậu nguồn là những thương
nhân chuyên môn buôn bán với Mạn Ngược. Và ở
đây có thể phát âm hai vần ngùn/chùn theo giọng
Quảng
Chim quyên
xuống đất ăn trùn
Anh hùng lỡ
vận lên ngùn (nguồn) đốt than
Thơ Bùi Giáng, có khi cần phải phát âm
theo giọng tác giả, mới thú vị:
Chén trà
sương sớm bên thềm
Vừa chờ
chim hót vừa thèm chim (chiêm) bao.
(Chén Trà, Báo
Thời Văn, tr.24)
Chim hót
đối ngẫu với chim (chiêm) bao.
Chữ Nguồn ở Bùi Giáng là một h́nh
ảnh vừa quê mùa vừa uyên bác, tự nhiên mà tinh
tế. Gốc Hán Việt là “nguyên”, là nguồn cội, là
nguồn sống, là Sơ Nguyên Ngọn Suối: con chim
điên v́ nhớ Suối vô cùng. Suối cũ Suối xanh
Suối bờ mọc cỏ. Suối vơ vàng em có hai tay
Suối mừng nh́n thấy. Suối khóc suốt đêm bây
giờ suối nín... (Gió Nguồn, Lá Hoa Cồn, tr.75).
Suối ở đây là Nguồn Xuân Tinh
Thể. Nhưng nói vậy là nói lắp, v́ Xuân đă là
Nguồn, và Suối đă là Xuân. Tiếng Anh rất hàm súc
khi dùng một từ Spring để chỉ Xuân và Nguồn.
Trong thơ Bùi Giáng, Xuân đồng nghĩa với Nguồn,
như trong tiếng Anh. Nó là cơi uyên nguyên có trước
Trời Đất, là “cái cửa khe huyền diệu” -
“huyền tẫn chi môn” theo lời Lăo Tử. Chữ
“tẫn” Ngô Tất Tố diễn dịch là khe, mà có
người cắt nghĩa là giống cái, tức là mẹ
đẻ của muôn vật. Đó cũng là một nghĩa”(1).
Có lẽ, từ đó h́nh ảnh khe,
kết hợp với người Nữ, thường
xuất hiện nơi thơ Bùi Giáng. Chữ môn nghĩa là
cửa (nhân tạo), linh mục Ḍng Tên, Claude Larre dịch là
Porte (des secrètes merveilles)(2) có lẽ, về sau đă gợi
ư cho Bùi Giáng làm đoạn thơ nổi tiếng bắt
đầu với hai chữ ngơ và cửa:
Ngơ ban sơ,
hạnh ngân dài
Cửa xô c̣n
vọng điệu tài tử qua
Niềm vui, nghĩa sống con
người đă xô cửa bước ra từ cơi ban
sơ ấy, và ngân dài, âm vọng qua lời thơ của
người tài tử. Nhưng về sau lại lỡ
từ lạc bước bước ra... và tác giả, hay
độc giả có thể tùy nghi ráp nối nhiều câu
lục bát khác vào đoạn trên, như Tuệ Sĩ đă
gợi ư trong một bài báo rất uyên bác, trên Báo Văn 1973:
Ta về ngóng
lại mưa sa
Giọt dài ly
biệt nghe ra giọng chào
Hoặc:
Em về giũ
áo mù sa
Trút quần phong
nhụy cho tà huy bay
Vân vân... Như đă nói: toàn bộ tác
phẩm Bùi Giáng có thể xem như là một bài thơ duy
nhất, một nét chữ lên đàng quẩn quanh. Và
người đọc lư thú, v́ cảm giác tham dự vào
cuộc chơi, thậm chí là đồng tác.
Người đời thường trích
dẫn mấy câu thơ hay, bề ngoài đơn giản,
nhưng kỳ thật là phức tạp:
Hỏi tên ?
Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê ?
Rằng mộng ban đầu đă xa
Gọi tên
rằng một hai ba
Đếm là
diệu tưởng, đo là nghi tâm.
(Chớp
Biển, tr.132)
Hai câu đầu là một h́nh ảnh
từ chương. Câu sau đă khó hiểu hơn: một,
hai, ba nghĩa là ǵ? Hoặc ta cho là thơ cà chớn, không
cần t́m hiểu; hoặc ta t́m hiểu và tham chiếu vào
Đạo Đức Kinh, lời Lăo Tử: “Đạo
sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn
vật”; ư thức con người đong đưa
giữa cái nghi và cái diệu: không nghi th́ không có diệu,
không nhờ cái diệu th́ không giải tỏa
được cái nghi. Đo và Đếm là hai thao tác
của Tâm và Tưởng để tiếp xúc và nhận
thức ngoại giới: đo cái liên tục và đếm
cái gián đoạn. Nhưng c̣n là, là ǵ? Là môi giới qua
Lời Nói. Nhưng Lời Nói là ǵ? Chúng ta trở về
vị trí đong đưa sóng biển giữa Diệu và
Nghi.
Hiểu thơ Bùi Giáng không phải lúc nào
cũng đơn giản. Mà không hiểu, chưa chắc
đă đơn giản.
Bàn về một chữ Xuân mà phải dàn
xa dặm dài, như vậy phải biết ngừng
lời, v́:
Thưa rằng
nói nữa là sai
Mùa xuân đang
đợi bước ai đi vào
(Chào Nguyên Xuân,
Mưa Nguồn, tr.25)
Đặng Tiến
Source: http://www.thanhnien.com.vn
Tŕnh bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-4-2005