Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi
lưỡi gươm vàng trí tuệ
PB Nghiên cứu Phật
Học – 03
Tâm Hà
Qua kinh sách thuộc truyền thống
Ðại thừa, ta được biết mỗi vị
Phật thường có hai vị Bồ-tát
làm thị giả. Nếu như đức Phật
A-di-đà có Bồ-tát Quán Thế
Âm và Ðại Thế Chí làm thị giả
thì một trong hai vị thị giả chính
của đức Phật Thích Ca là Văn
Thù Sư Lợi, đại biểu cho trí
tuệ siêu việt. Bồ-tát Văn Thù
đã xuất hiện hầu như trong tất
cả các kinh điển quan trọng của Phật
giáo Ðại thừa: Hoa Nghiêm, Thủ Lăng
Nghiêm, Pháp Hoa, Duy-ma-cật, v.v., như là
một nhân vật thân cận nhất của
đức Phật Thích-ca, khi thì chính
thức thay mặt đức Thế Tôn diễn nói
Chánh pháp, có lúc lại đóng vai
tuồng làm người điều hành
chương trình để giới thiệu
đến thính chúng một thời pháp quan
trọng của đức Bổn Sư. Vì vai
trò đặc biệt quan trọng đó mà
Bồ-tát Văn Thù đã được
tôn xưng là vị Pháp Vương Tử, và
hình ảnh của Ngài không những
đã rất quen thuộc, gần gũi với
quần chúng Phật tử theo truyền thống
Ðại thừa cổ điển từ Ấn
Ðộ đến Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật
Bản, Tây Tạng, Việt Nam, v.v., trong suốt
gần hai thiên niên kỷ qua mà ngay cả
với những truyền thống Ðại thừa
hiện đại của Tây phương. Phật
tử Hoa Kỳ, Âu châu, Úc Ðại Lợi,
v.v., ngày nay hoặc tụng niệm danh hiệu
của Ngài hoặc dùng hình ảnh của
Ngài như là một đối tượng
quán chiếu, xem đó như là một trong
những phương pháp hành trì tu tập
hiệu quả nhất nhằm đạt đến
tuệ giác.
Là vị Bồ-tát tiêu
biểu cho Trí Tuệ, Bồ-tát Văn Thù
thường được miêu tả với
dáng dấp trẻ trung ngồi kiết già
trên một chiếc bồ đoàn bằng hoa sen.
Trên tay phải của Ngài dương cao lên
khỏi đầu là một lưỡi gươm
đang bốc lửa - một biểu tượng
đặc thù của Bồ-tát Văn Thù
để phân biệt với các vị
Bồ-tát khác - mang hàm ý rằng
chính lưỡi gươm vàng trí tuệ
này sẽ chặt đứt tất cả những
xiềng xích trói buộc của vô minh
phiền não đã cột chặt con người
vào những khổ đau và bất hạnh
của vòng sinh tử luân hồi bất tận,
đưa con người đến trí tuệ
viên mãn. Trong khi đó, tay trái của
Bồ-tát đang cầm giữ cuốn kinh
Bát-nhã - trong tư thế như đang ôm
ấp vào giữa trái tim mình suối
nguồn tuệ giác và biểu trưng của
tỉnh thức, giác ngộ. Chính vì
tính cách biểu trưng này mà những
nhân vật kiệt xuất về mặt trí
tuệ trong lịch sử Phật giáo thế
giới, cụ thể như Bồ-tát Long Thọ
và đặc biệt là Phật giáo Mật
Tông Tây Tạng, đã được xem
như là những hóa thân của
Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi, với hai
nhân vật đặc sắc: Vị quân
vương Phật tử Trisong Detsen (742-797), người
góp công đầu trong việc hoằng
dương Chánh pháp tại Tây Tạng
với việc sáng lập Phật học viện
Samye và Ðại sư Tông Khách Ba (1357-1419),
Người sáng lập tông phái Mũ
Vàng (Geluk) của Phật giáo Tây Tạng
mà đức Ðạt Lai Lạt Ma đời
thứ 14 hiện nay là bậc truyền thừa. Trong
tự truyện của Ðại sư Tông Khách
Ba có kể lại câu chuyện thân phụ
của Ngài trong một giấc mơ đã
thấy một nhà sư trẻ từ Ngũ
Ðài Sơn - nơi trụ tích của
Bồ-tát Văn Thù - tìm đến với
ông, trước khi Ngài chào đời, như
là một điềm báo trước rằng
tôn giả Tông Khách Ba sẽ là một
nhà học giả vĩ đại không phải
chỉ riêng đối với Phật giáo Tây
Tạng mà là cả Phật giáo thế giới
nói chung.
I.
Ði tìm nguồn gốc của Bồ-tát Văn
Thù.
Có thể nói rằng, ý
niệm Bồ-tát gắn liền với truyền
thống Ðại thừa và bởi vì
Bồ-tát Văn Thù không hề thấy
xuất hiện trong các kinh tạng Pali Nguyên
thủy cũng như ngoài Ðại thừa,
những nhà học giả nghiên cứu về
Phật giáo đã gặp phải rất
nhiều khó khăn trong việc tìm hiểu
về nguồn gốc, lai lịch của Bồ-tát
Văn Thù. Một số giả thuyết đã
được đưa ra để lý giải
về xuất xứ cũng như sự hiện hữu
của Bồ-tát Văn Thù. Trong số những
giả thuyết này có cái thấm
đẩm tính chất truyền thuyết, huyền
thoại như thường được thấy trong
bất cứ truyền thống tín ngưỡng
nào, bên cạnh đó cũng không
thiếu những công trình nghiên cứu
của các nhà học giả Phật giáo mang
tính khoa học. Sau đây ta sẽ lần lượt
điểm qua một vài giả thuyết
đáng lưu ý.
Bồ-tát Văn Thù, Người
Tạo Dựng Vương Quốc
Theo Benoytosh Bhatta- chary , Bồ-tát
Văn Thù là một nhân vật xuất
chúng, Người đã mang ánh sáng
văn minh của Trung Quốc đến cho vương
quốc
Là một truyền thuyết dĩ
nhiên khó đảm bảo được
tính xác thực, hơn thế nữa, truyền
thuyết Svayambhu Purana mà Bhattachary dựa vào
để xác định nguồn gốc của
Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi cũng chỉ
mới xuất hiện gần đây, sớm nhất
là vào khoảng thế kỷ thứ XVI, nên
không thể là một nguồn tài liệu
đáng tin cậy về xuất xứ của Bồ-tát
Văn Thù, vì như ta biết, Bồ-tát
Văn Thù đã xuất hiện khá sớm
trong các kinh sách Ðại thừa. Giả
thuyết về nguồn gốc này cũng không
được xây dựng trên một cơ sở
vững chắc, vì theo học giả John Brough ,
phần lớn truyền thuyết liên quan đến
vương quốc Nepal đều xuất phát từ
nước Vu Ðiền (Khotan) và đã
được người Tây Tạng sau này
truyền vào Nepal vào khoảng thế kỷ
thứ X AD. Brough đã đưa ra một số chi tiết
cho thấy truyền thuyết liên quan đến
việc lập quốc của xứ Vu Ðiền cũng
có những điểm tương đồng và
hiện hữu song hành với truyền thuyết
liên quan đến việc tạo dựng xứ Nepal,
trong đó có hai chi tiết rất giống nhau:
Thứ nhất, xứ Vu Ðiền cũng được
tạo dựng nên do việc làm khô cạn
một hồ nước. Truyền thuyết Gosrnga Vyakarana
kể lại rằng: “Ðức Bổn sư
Thích-ca Mâu-ni khi đi đến đồi Gosrnga,
Ngài trông thấy hồ nước liền
bảo hai đệ tử là ngài
Xá-lợi-phất và Ða-văn-thiên hãy
làm cho thấy biên giới của đất
liền. Vâng lời Phật, hai vị Thánh
tăng này đã dùng thiền trượng
và giới đao làm khô cạn hồ
nước đồng thời chuyển toàn bộ
hồ nước và các sinh vật đang sinh
sống trong đó đến một cái hồ
kế cận”. Thứ hai, đức Văn Thù
Sư Lợi đã ban ân sủng đặc
biệt nhằm bảo hộ một khu vực ở
trên đồi Gosrnga mà tại địa
điểm này về sau một tu viện Phật
giáo đã được xây dựng lên.
Gosrnga là một trung tâm Phật giáo quan
trọng đầu tiên của xứ Vu Ðiền,
cũng giống như ngọn đồi Svayambhu của
thung lũng Kathmandu (
Như vậy, một cách tóm
tắt, giả thuyết cho rằng Bồ-tát Văn
Thù là người đến từ Trung Quốc
và đã tạo dựng nên xứ Nepal,
đã không phù hợp cả về mặt
lịch sử cũng như tính luận lý.
Bồ-tát Văn Thù và Nhạc Thần
(Càn-thát-bà) Panca-sikha
Trong khi đó, một nhà học
giả Pháp, Marcelle Lalou, cho rằng đã có
những mối tương quan mật thiết giữa
Bồ-tát Văn Thù và danh hiệu của
một Càn-thát-bà - nhà nhạc thần
của các cung trời - Pancasikha, thường
được đề cập đến trong các
kinh tạng cả Pali lẫn Sanskrit. Học giả Lalou
lập luận rằng một trong những quan hệ
này là ý nghĩa tương đương
giữa danh hiệu Pancasikha và một từ thỉnh
thoảng được dùng trong khi miêu tả
sự xuất hiện của Bồ-tát Văn
Thù: Pancaciraka. Pancaciraka có nghĩa là
“người có mái tóc kết thành
năm búi”, trong khi đó Pancasikha có
nghĩa là “Năm chòm” mà theo
ngài Phật Hộ thì danh hiệu này
liên hệ đến một kiểu búi tóc
năm chòm rất thịnh hành của giới
trẻ thời xưa.
Một lãnh vực khác có
mối tương quan giữa Bồ-tát Văn
Thù và Pancasikha theo Lalou, là phẩm chất
của thanh âm giọng nói và tài biện
thuyết. Văn Thù Sư Lợi được
biết là vị Bồ-tát có biện
tài vô ngại và thường được
miêu tả là người có giọng nói
đặc biệt êm dịu, ngọt ngào; thế
nên, Ngài còn mang một danh hiệu khác
là Diệu Âm (Manjughosa hay Manjusvara) và
được xem là “Vị Chủ tể của
thuyết giảng” (Vadiraja hoặc Vagisvara). Trong khi
đó, Pancasikha là một Càn-thát-bà
với biệt tài ca hát, đương nhiên
là phải có một giọng nói hết
sức quyến rũ, êm dịu. Kinh Sakkapanha
đã nêu rõ biệt tài này của
Pancasikha: Vị Phạm thiên Ðế Thích,
chủ của cung Trời thứ ba mươi ba, muốn
được thỉnh giáo đức Thế Tôn
nhưng ngại ngùng không biết Phật có
sẵn sàng để tiếp xúc hay không
nên đã nhờ Pacasikha làm trung gian, với
hy vọng tài ca hát của vị Nhạc thần
này sẽ tạo ra một bầu không khí
thuận lợi. Trong Kinh Sakkapana, đức Thế Tôn
đã tán thán tài nghệ của vị
Càn-thát-bà này như sau:
“Âm thanh tiếng đàn của ông
hòa hợp thật tuyệt diệu với lời ca,
ông Pacasikha! Cũng vậy, lời ca của ông
rất hòa hợp với tiếng đàn. Lại
nữa, ông Pacasikha, thanh âm của tiếng
đàn không át chế giọng ca của
ông cũng như thanh âm của giọng ca
không hề át chế tiếng đàn.”
Nên nhớ rằng, đức Thế
Tôn lúc chưa xuất gia là một vị
Hoàng tử tài hoa và rất được
cưng chiều. Cung điện của Ngài vì
thế là nơi tập trung tất cả những
nhạc sĩ và ca sĩ tài ba nhất của
vương quốc Ca-tỳ-la-vệ đương
thời, nên trình độ thưởng ngoạn
âm nhạc của Ngài là trình độ
thưởng thức của một người hiểu
biết, có kiến thức về nghệ thuật
thẩm âm.
Mối tương quan thứ ba giữa
Bồ-tát Văn Thù và Pancasikha là sự
trẻ trung. Pancasikha là vị Nhạc Thần sống
ở thiên cung: “Nơi hoa xuân không hề
tàn và cái già không hề có
mặt”. Biểu tượng chính của vị
Thiên vương này là sự tươi
trẻ cùng với dung mạo phong lưu tuấn
tú. Nét tươi trẻ cũng là một
biểu hiệu của Bồ-tát Văn Thù khi
một trong những đặc tính mô tả
về Ngài là kumarabhuta bao hàm hai ý
nghĩa, trẻ trung và là hoàng tử.
Thế nên, theo Lalou, tính cách phổ thông
chung của hai nhân vật này đều
được bắt nguồn từ một huyền
thoại là các vị thần tiên, các
Thiên vương không bao giờ già.
Ðiều này có thể đúng với
nhân vật Pancasikha, tuy nhiên, yếu tố trẻ
trung - kumarabhuta - không phải là đặc
tính chính yếu của Bồ-tát Văn
Thù Sư Lợi. Như sau này, đặc
biệt là dưới thời Ðường của
Trung Quốc, Bồ-tát thường được
mô tả là đã xuất hiện như
một ông già hoặc đôi khi như một
người ăn xin.
Cuối cùng, cả Bồ-tát
Văn Thù cũng như Pancasikha đều
đóng vai trò của một người giới
thiệu, nêu câu hỏi mở đầu
để chuẩn bị cho một thời pháp quan
trọng của đức Thế Tôn. Kinh Ðiển Tôn
(Mahagovinda) trong bộ Trường A Hàm kể lại,
lúc Phật đang ở núi Linh Thứu, vị
Nhạc thần Pancasikha - tức Bát-giá-dực -
đã hiện đến với Phật và
tường trình cùng Ngài những gì
mà ông ta đã được chứng
kiến tại cung trời Ðao Lợi trước
đây . Tích truyện này cũng đã
được kể lại trong bộ Ðại Sự
(Mahavastu), mà trong đó ở phần cuối,
Pancasikha đã đóng vai trò của người
giới thiệu chương trình, giống như vai
trò của Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi
trong các kinh điển Ðại thừa.
Dựa trên những mối
tương quan gần gũi về danh hiệu, hình
tướng, phẩm chất và vai trò của hai
người, phải chăng hình ảnh của
nhân vật Pancasikha chính là hình ảnh của
Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi ở buổi
sơ khai? Học giả David Snellgrove đã đưa
ra giả thuyết như vậy và cho rằng
Pancasikha lúc ban đầu được gọi là
Pancasikha Manjughosa, trong đó Manjughosa (Diệu Âm)
là thuộc tính nêu bật phẩm chất
về giọng nói của Pancasikha. Cũng theo
Snellgrove, sau này danh hiệu trên đã
được đảo ngược vị trí
thành Manjughosa Pancasikha, trong đó Pancasikha trở
thành thuộc tính của nhân vật Manjughosa
và Manjughosa không ai khác hơn chính là
danh hiệu nguyên thủy của Bồ-tát Văn
Thù Sư Lợi.
Tuy nhiên, cả Lalou lẫn Snellgrove
đã không nêu ra được một kinh
sách nào để dẫn chứng cho lập
luận của mình cho thấy rằng có sự
quan hệ giữa Manjughosa và Nhạc thần Pancasikha.
Mối liên hệ này hoàn toàn không
thấy xuất hiện trong kinh tạng Pali, duy chỉ
có một phẩm trong kinh Trường A Hàm, khi
đề cập đến một đỉnh núi
của dãy Hi Mã Lạp Sơn, Ghandhamadana, có
miêu tả: “Diệu Âm (Manjughosa), vua của
các Càn-thát-bà, bao quanh bởi 500 vị
Càn-thát-bà, trụ xứ ở
đó.” Thế nhưng, phẩm kinh này
chỉ có bản dịch bằng tiếng Trung
Quốc là còn tồn tại, thế nên
tên Diệu Âm có thể đã
được diễn dịch ra theo ngôn ngữ Trung
Quốc và chưa chắc là đã
đúng với nguyên văn Phạn ngữ. Hơn
thế nữa, danh từ Pancasikha mà ngài Phật
Hộ cho rằng có ý nghĩa là năm
búi tóc, trong Phạn ngữ còn có
một ý nghĩa khác là năm đỉnh
núi, hay năm ngọn núi, sẽ được
nói đến trong phần tiếp theo sau đây.
Núi
Ghandhamadana, trú xứ của Bồ-tát
Trong phẩm kinh Trường A Hàm,
đã dẫn chứng ở trên có đề
cập đến ngọn núi Ghandamadana như là
nơi trú xứ của vua Càn-thát-bà
Diệu Âm. Ghandhamadana là một phần của
dãy Hy-mã-lạp Sơn bao quanh hồ nước
Anavatapa nổi tiếng, vì là nơi phát
tích các dòng sông quan trọng của
Ấn Ðộ: Hằng hà, Ấn hà và
Như vậy, Gandhamadana là tên
của một trong năm ngọn núi - mà Phạn
ngữ gọi là Pancasikha hay Pancasirsa. Thế nên,
có thể đã có mối liên hệ
giữa danh từ Pancasikha (đỉnh núi) với
địa phương nơi trú xứ của vị
vua Càn-thát-bà. Vị Nhạc thần cai
quản các Càn-thát-bà này
đã lấy tên địa phương nơi
mình cư ngụ làm danh hiệu cho chính
mình, Pancasikha. Trong truyền thống Ấn Ðộ,
người ta cũng thấy rằng Hy-mã-lạp
sơn được mô tả như là trú
xứ của các Càn-thát-bà và
vị nhạc thần Pancasika đã thường
xuyên lui tới chốn này. Chuyện tiền
thân của Bồ-tát Văn Thù (Manjari Jataka)
trong bộ Ðại Sự có kể lại rằng,
vị nhạc thần này đã từng
đến thăm viếng vị sơn thần cai
quản Hy-mã-lạp sơn để thuyết phục
ông ta phát khởi lòng khoan dung rộng
lượng, và trong bộ Khổng Tước Minh
Vương kinh (Mahamayuri) cũng nêu rõ rằng
trú xứ của Pancasikha là vùng Kế
Tân (Kashmir), phía Tây Bắc của dãy
Hy-mã-lạp sơn kế cận với năm
ngọn núi bao quanh hồ nước Anavatapa nổi
tiếng.
Bồ-tát Văn Thù đồng
thời cũng có quan hệ mật thiết với
ngọn núi Ghandhamana. Trong bộ kinh ngắn,
“Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi Nhập
Niết Bàn”, Bồ-tát đã
được mô tả là đã từng
đến thăm viếng dãy Hy-mã-lạp sơn
để chuyển hóa 500 vị địa tiên
cư trú tại đây trở về với
Phật giáo. Và sau đó, cũng trong bộ
kinh này đã mô tả cảnh Bồ-tát
nhập Niết-bàn, khi dùng lửa tam muội
tự thiêu đốt xác thân của
mình. Xá lợi của Ngài được
đưa về đỉnh núi Hương Sơn,
nơi mà vô số lượng các Thiên,
Long, quỷ thần sẽ tụ tập đến
để làm lễ tôn kính Ngài. Núi
Hương Sơn này đã được
nhà học giả Pháp Lamotte xác định
là Gandhamadana, “ngọn núi tỏa thơm
mùi hương báu”.
Khi mà tiếng tăm của
Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi ngày
càng phổ biến trong đại chúng, tên
tuổi của Ngài thường được
gắn liền với những danh sơn trong các
quốc gia Phật giáo, cụ thể như Gosrnga
của xứ Vu Ðiền (Khotan) và Ngũ Ðài
sơn của Trung Quốc. Cả Gosrnga và Ngũ
Ðài sơn đều có hồ nước
gần kề và đặc biệt Ngũ Ðài
sơn, như tên gọi của nó, bao gồm
năm ngọn núi quần tụ lại với nhau, phần
nào liên hệ đến thuộc tính pancacira
-tóc năm búi - của Bồ-tát Văn
Thù, mà bất cứ nơi nào có
liên hệ đến con số năm đều
có thể được coi như là nơi
trú xứ thích hợp của Bồ-tát. Trong
tinh thần này, Ngũ Ðài sơn là nơi
trụ tích lý tưởng của Bồ-tát
Văn Thù, vì phần nào liên hệ
đến vùng năm núi trong đó có
ngọn Ghandhamadana nổi tiếng.
II.
Ngũ Ðài sơn, Trung Quốc, nơi trụ
tích của Bồ-tát Văn Thù.
Ngũ Ðài sơn thuộc
địa phận tỉnh Sơn Tây. Sở dĩ
được gọi là Ngũ Ðài vì
có năm ngọn núi cao quây quần lại
với nhau là Ðông đài, Tây
đài,
Ðã có rất nhiều
truyền thuyết cũng như Kinh sách còn
lưu truyền lại nói rằng, Bồ-tát Văn
Thù đã nhiều lần hóa hiện ra
tại Ngũ Ðài sơn cho những ai có
tâm thành hành hương đến
đây để tìm cầu Ngài. Nổi
tiếng nhất là chuyện đại sư Phật
Hộ, người nước Kế Tân (Kashmir),
đã hành hương đến Ngũ
Ðài sơn vào năm 676, chỉ với một
hy vọng duy nhất là được nhìn
thấy Bồ-tát Văn Thù xuất hiện. Khi
đến nơi Sư đã phủ phục năm
vóc xuống đất và khấn cầu
Bồ-tát. Sau khi đảnh lễ xong đứng
dậy thì ngài Phật Hộ thấy một
lão trượng đang đi lại hướng
mình. Người này hỏi Sư là có
mang theo mình thần chú Buddhosnisavijaya hay không,
mà theo ông lão thì chỉ có thần
chú này mới có năng lực giải
trừ người Phật tử Trung Quốc ra khỏi
những cám dỗ ma quỷ. Sư Phật Hộ
thú nhận rằng mình đã không mang
theo thần chú này và được ông
già khuyến cáo là phải quay trở về
Ấn Ðộ thỉnh thần chú này, rồi
khi trở lại đây chắc chắn sẽ
được gặp Bồ-tát Văn Thù Sư
Lợi. Tâm tràn đầy hân hoan, sư
Phật Hộ kính cẩn cúi đầu cảm
tạ lời chỉ dẫn và khi ngững lên
thì ông già đã biến mất! Sư
quay trở về Ấn Ðộ và khi trở lại
Ngũ Ðài sơn cùng với thần chú,
Ngài đã gặp Bồ-tát Văn Thù
một lần nữa và lần này
Bồ-tát đã hướng dẫn ngài
Phật Hộ tham quan Ngũ Ðài sơn cũng
như cho biết những bí mật ẩn tàng
ở đây.
Một câu chuyện khác cũng
không kém quan trọng vì đã dẫn
đến việc xây dựng một ngôi
đạo tràng trang nghiêm vĩ đại
nhất tại Ngũ Ðài sơn, là Kim Các
tự. Chuyện kể rằng thiền sư Ðạo
Nhất, một cao Tăng nổi tiếng đời
Ðường, cho rằng mình vì thiếu
phước duyên nên mới sinh ra vào thời
mạt pháp, may ra chỉ đến Ngũ Ðài
sơn mới có thể thấy được sự
hóa hiện của Bồ-tát. Trong niềm tin
thành như thế, Sư đã thực hiện
một chuyến hành hương thăm viếng
thánh địa của Ngài vào năm 736 cùng
với một Tăng sĩ đồng hành. Trên
con đường lên núi, bỗng dưng Sư
trông thấy một lão tăng cưỡi
trên mình một con voi trắng xuất hiện
ở hướng đối diện. Sau khi hai bên cung
kính vái chào nhau, vị lão Tăng
này cho biết là ông ta đã hiểu
rõ lai lịch cùng tâm nguyện của
Ðạo Nhất và hứa hẹn rằng nếu
Sư trở lại vào ngày hôm sau thì
có thể gặp được Bồ-tát Văn
Thù. Sư Ðạo Nhất vô cùng cảm
ơn hảo ý của vị lão Tăng, chưa
kịp hỏi han thêm thì vị lão Tăng
này bỗng dưng biến mất như một
làn gió, để lại trong không gian một
mùi hương thoang thoảng. Sư quá
đổi vui mừng và suốt đêm nghỉ
lại tại chùa Thanh Lương, trung tâm
của núi Ngũ Ðài, Sư cứ trằn
trọc mãi mong cho trời mau sáng để
có thể diện kiến và đảnh lễ
Bồ-tát. Sáng hôm sau vào lúc tinh
mơ, Sư đã vội thức dậy một
mình nhắm hướng Tây lên núi. Trong
làn gió lạnh của buổi sớm mai, Sư
bỗng thấy trên không hiện ra một ngôi
cổ tháp tỏa ra những ánh sáng rực
rỡ. Tiếp tục hành trình, Sư một
lần nữa gặp lại vị lão Tăng
cưỡi con voi trắng của ngày hôm
trước. Vị Tăng khuyến khích Sư cứ
nên tiếp tục và khi đi thêm một
đổi đường nữa, Sư ngạc nhiên
thấy một nhóm đông Tăng chúng
đang tụ tập thọ trai tại một ngôi
phạn đường. Tự nhắc nhở mình
rằng mục đích chính là gặp gỡ
Bồ-tát Văn Thù, Sư thấy mình
không nên nấn ná lại chỗ này
mà tiếp tục dấn bước và rồi
bất chợt trước mặt Sư một
đồng tử trạc chừng 13, 14 tuổi xuất hiện,
tự xưng là Thiện Tài đồng tử,
chúc mừng Sư: “Chào Tăng sĩ!
Ngài đã bước đến ngưỡng
cửa của Kim Các tự”. Sư theo chân
vị đồng tử này khoảng chừng
vài ba trăm bước về hướng Tây
Bắc, đi qua một cây cầu thì bước
chân vào một dãy dinh thự hùng vĩ
trang nghiêm của tu viện, tất cả đều
bằng vàng. Ở đó, Sư gặp lại
vị lão Tăng cưỡi con voi trắng.
Ðến đây thì không còn nghi ngờ
gì nữa, Sư biết rằng vị lão
tăng này chẳng ai khác hơn chính là
Bồ-tát Văn Thù hóa hiện! Khỏi
nói chắc mọi người cũng biết là
Sư vui mừng đến độ choáng váng,
phải một lúc sau mới hoàn hồn tỉnh
lại. Nhân cơ hội này, Sư đã tham
vấn Bồ-tát về những khúc mắc trong
Phật pháp và Ngài cũng đã ân
cần hỏi han về tình trạng Phật pháp
ở quê hương Sư. Sư Ðạo Nhất
được mời thọ thực tại đây
và sau đó vị đồng tử đã
hướng dẫn Sư đi thăm viếng toàn
bộ cảnh quan của tu viện. Từ giã
Bồ-tát Văn Thù bước đi chừng
trăm bước, Sư ngoái đầu nhìn
lại, tất cả đều biến mất!
Sư Ðạo Nhất đã đem tất cả
những điều mình đã được
chứng kiến tâu trình lên cùng
Hoàng đế Huyền Tôn và nhà vua
tỏ ra đã bị thu hút bởi chuyện linh
ứng mầu nhiệm của Bồ-tát Văn
Thù, nên đã ủng hộ cho việc
khởi công kiến thiết ngôi Kim Các
tự. Ngôi chùa vĩ đại này
được kiến trúc theo mô hình mà
Sư Ðạo Nhất đã trông thấy trong
lần gặp gỡ Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi,
được hoàn tất vào cuối thế
kỷ thứ VIII do công lao của nhà sư Ấn
Ðộ, Bất Không Kim Cương đã
vận động Hoàng đế Ðại Tôn
cung cấp ngân khoản xây chùa vào năm
766 AD.
Một nhà sư khác người
Nhật Bản, Viên Nhân (Ennin), cũng đã
hành hương đến Ngũ Ðài sơn
vào năm 840 AD. Ông đã lưu lại
đây hơn hai tháng và trong nhật ký
đã ghi lại những điều chứng kiến
được tại Ngũ Ðài sơn như sau:
“Vào khoảng đầu hôm, chúng tôi,
một nhóm Tăng chúng khoảng mười
người đột nhiên trông thấy trên
bầu trời hướng Đông của thung lũng
xuất hiện một cây đèn thần,
ánh sáng ban đầu chỉ nhỏ cỡ
chừng bằng một cái bình bát, nhưng
sau đó lớn dần lên bằng cả cái
nhà. Chúng tôi quả thật là hoàn toàn
rúng động trước cảnh tượng
này, vội vã quỳ xuống đãnh lễ
và niệm lớn danh hiệu Bồ-tát Văn
Thù. Rồi thì một cây đèn
khác lại hiện ra gần chúng tôi hơn,
thoạt tiên cỡ bằng một chiếc nón
rơm và rồi cứ tiếp tục lớn dần
lên. Hai ngọn đèn này nhìn từ xa,
cách nhau khoảng chừng 100 bộ, tỏa ánh
sáng rất rực rỡ cho đến khoảng
nửa đêm thì tàn lụi dần và
biến mất”.
Trong cuốn hồi ký này, sư
Viên Nhân cũng mô tả lại những
kiến trúc, đền đài, những nơi
thờ phượng ở trên Ngũ Ðài
sơn, kể cả bức tượng Bồ-tát
Văn Thù rất nổi tiếng tại chùa Hoa
Nghiêm: “Bức tượng Bồ-tát
cưỡi trên mình con sư tử lớn
bằng cả một ngôi nhà năm gian. Con sư
tử trông thật siêu nhiên, vĩ đại
và sống động cứ như là thực. Ta
có cảm tưởng như là nó đang
đi và thở hơi khói ra ở miệng.
Chúng tôi nhìn nó một hồi và
càng nhìn càng thấy nó như đang di
chuyển”.
Theo lời vị sư trú trì
kể lại cùng sư Viên Chân thì
bức tượng này đã phải đúc
đến lần thứ bảy mới hoàn
thành, tất cả những lần trước,
lần nào cũng bị hư bể cả. Nghĩ
rằng chắc có chuyện gì không
đúng, có thể đã mạo phạm
đến Bồ-tát, nhà điêu khắc
chủ trì việc đúc tượng thành
tâm khấn nguyện cùng Bồ-tát Văn
Thù, xin Ngài hiện ra chỉ cho ông hình
ảnh trung thực nhất mà Bồ-tát muốn
miêu tả về mình. Câu chuyện
đúc tượng này đã được
sư Viên Chân tóm tắt như sau: “Sau khi
cầu nguyện, nhà điêu khắc mở
mắt ra và vô cùng kinh ngạc khi thấy
Bồ-tát Văn Thù cỡi trên mình con
sư tử màu vàng xuất hiện trước
mắt. Một khoảnh khắc sau đó,
Bồ-tát bay lên đám mây ngũ sắc
và mất hút dần vào khoảng không.
Nhà điêu khắc vô cùng vui mừng và
cảm kích khi được trông thấy
hình ảnh thực sự của Bồ-tát,
nhưng đồngthời ông cũng không cầm
được nước mắt vì hối hận
khi đã diễn tả sai lầm về
Bồ-tát từ trước đến nay”.
Câu chuyện này mang một ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử
mỹ thuật Phật giáo vì kể từ
đây trở về sau, hình ảnh
Bồ-tát Văn Thù cưỡi sư tử
xuất hiện trong đám mây rực rỡ
đã trở thành một khuôn mẫu cho
các nghệ nhân sáng tác khi miêu tả
về Bồ-tát. Năm 1975, người ta khám
phá ra tại động Ðôn Hoàng một
bức bích họa có niên đại vào
khoảng thế kỷ thứ X, đã trình
bày Bồ-tát Văn Thù với kiểu
cách như trên.
Ngũ Ðài sơn như đã
trình bày có quan hệ mật thiết với
núi Thanh Lương được đề cập
đến trong Kinh Hoa Nghiêm mà ngài
Phật-đà-bạt-đà-la đã
phiên dịch ra Hán văn vào năm 418-420 AD.
Thế nên khi nói về Bồ-tát Văn Thù
người ta không thể không nói đến
Hoa Nghiêm tông, một tông phái Phật
giáo Trung Quốc rất thịnh hành dưới
đời Ðường. Chính việc phổ
biến rộng rãi Kinh Hoa Nghiêm đã
góp phần lớn trong việc phát triển
tín ngưỡng tôn thờ Bồ-tát Văn
Thù trong đại chúng. Bởi vì Kinh Hoa
Nghiêm, đặc biệt là trong phẩm kết
thúc của bộ kinh này, đã làm
nổi bật vai trò của Bồ-tát như
là một vị thiện tri thức với những
lời khuyên thích đáng và thiết
thực cho những kẻ thiết tha cầu đạo,
tiêu biểu là Thiện Tài đồng
tử. Sự ảnh hưởng của tông Hoa
Nghiêm đối với tín ngưỡng Văn
Thù đã được Ðại sư
Pháp Tạng (643-712 AD), Ðệ tam tổ của Hoa
Nghiêm tông mô tả trong cuốn Những Ghi
Chú Về Truyền Thống Hoa Nghiêm, đã
chép lại một phần lai lịch cùng
những truyện tích liên quan đến Ngũ
Ðài sơn và Bồ-tát Văn Thù.
Một yếu tố khác có
thể cũng đã góp phần vào việc
củng cố tín ngưỡng tôn thờ
Bồ-tát Văn Thù tại Ngũ Ðài
sơn là một niềm tin khá phổ biến
trong thời điểm này, cho rằng thế gian
đang bước vào giai đoạn mạt
pháp. Trong thời kỳ Chánh pháp suy tàn,
ma vương tà kiến lộng hành,
người ta tin rằng duy nhất chỉ có Ngũ
Ðài sơn, nơi trú xứ của
Bồ-tát Văn Thù là có thể
giúp cho con người có được cơ
hội tiếp xúc trực tiếp với Chánh
pháp, với nguồn mạch giác ngộ. Niềm
tin này phần nào đã được
phản ảnh trong cuốn nhật ký hành hương
của Ðại sư Viên Chân như đã
trình bày ở trên, cũng như trong Văn
Thù Sư Lợi Pháp Bảo Chân Ngôn Kinh
do ngài Bồ Ðề Lưu Chí dịch ra
Hán văn vào năm 710, có đưa ra
lời tiên đoán của đức Phật
Thích Ca liên hệ đến Ngũ Ðài
sơn. Trong cuốn kinh này, khi Bồ-tát
Vajraguhyaka thỉnh cầu Phật giải thích
việc gì sẽ xảy đến khi Chánh
pháp không còn tồn tại, đức
Thế Tôn đã trả lời: “Sau khi Ta
nhập Niết bàn rồi, trong cõi Nam Thiệm
Bộ Châu này, ở về phía Ðông
Bắc có một quốc độ tên là
Ðại Trung Quốc. Ở ngay trung tâm của
quốc độ này có một ngọn núi
tên là Ngũ Ðài. Vị Pháp
vương tử Văn Thù Sư Lợi sẽ
trụ xứ ở trung tâm của ngọn núi
này diễn nói Chánh pháp để
cứu độ chúng sanh. Vô số Thiên, Long,
La-sát, Phi nhân, Ma-hầu-la-già cùng
các chúng trời người và quỷ
thần tụ tập chung quanh Bồ-tát để
cúng dường và nghe pháp”. đức
Phật Thích Ca còn cho biết thêm, khi
Chánh Pháp không còn tồn tại,
Bồ-tát VănmThù Sư Lợi sẽ diễn
nói pháp tương ứng cho giai đoạn
này.
Như vậy, đến cuối thế
kỷ thứ VII, tín ngưỡng tôn thờ
Bồ-tát Văn Thù đã được
thiết định vững chắc tại Trung Quốc
và Ngũ Ðài sơn, nơi trụ tích
của Bồ-tát đã trở thành một
thánh địa thiêng liêng thu hút
khách hành hương đến từ khắp
nơi trên thế giới: Kasmir, Ấn Ðộ,
Nhật Bản, Nepal, Tích Lan, Tây Tạng, v.v…
Tại đây, một ngôi đại tháp cao
sáu thước cũng đã được
dựng lên trong khuôn viên của chùa
Ðại Tháp Viện (Trung Ðài) để thờ
một bảo vật mà người ta tin là
tóc của Bồ-tát Văn Thù. Vì theo
truyền thuyết được kể lại thì
dưới thời Bắc Ngụy, Bồ-tát
đã hiện ra một lần dưới dạng
một bà già nhà quê nghèo khó
đến hành hương Ngũ Ðài sơn
và vì không có gì quý báu
để cúng dường, bà đã tặng
chùa mái tóc của mình. Dĩ nhiên
là Tăng chúng trong chùa không có ai
hoan hỷ để đón nhận vật phẩm
cúng dường này, nếu không nói
là còn tỏ ra rất khinh rẻ. Bất ngờ
bà cụ già bay vọt lên không và
hóa hiện ra thành Bồ-tát Văn Thù,
lúc này mọi người mới kinh hoàng
quỳ sụp xuống lạy và sau đó
kiến tạo lên ngôi bảo tháp này
để thờ di vật quý giá của
Bồ-tát mà người Trung Hoa tôn kính
gọi là “hắc xá lợi”. Ngôi
đại tháp đã được trùng tu
lại dưới thời Hoàng đế Thần
Tôn, nhà Minh (1573-1619).
Ngài Bất Không Kim Cương
(AMOGHAVAJRA) và sự nghiệp phát triển
tín ngưỡng Văn Thù Sư Lợi
Khi nói đến tín
ngưỡng tôn thờ Bồ-tát Văn Thù,
chúng ta không thể không nói đến
công nghiệp lớn lao của một vị
đại Tăng đã đưa tín
ngưỡng này phổ cập đến toàn
thể lãnh thổ Trung Quốc, đó là
ngài Bất Không Kim Cương. Ngài Bất
Không người nước Tích Lan (Trung Hoa
cổ gọi là nước Sư Tử), lúc 15
tuổi theo ngài Kim Cương Trí đến
Lạc Dương và được thọ giới
ở đó. Trong hai mươi năm trời theo
thầy học đạo, chuyên nghiên cứu
về bí nghĩa của Mật giáo. Sau khi
ngài Kim Cương Trí viên tịch, Ngài
cùng với sư Hàm Quang theo đường
thủy trở về Ấn Ðộ để tham
vấn các học giả của Mật giáo
đương thời, sưu tầm được
rất nhiều kinh điển của Mật giáo.
Tới năm Thiên Bảo thứ năm (746), Ngài
lại trở về Tràng An chuyên việc
phiên dịch để hoằng truyền Mật
giáo. Ngài tịch năm Ðại Lịch thứ
9 (774) đời vua Ðại Tôn, thọ 70 tuổi.
Trong khoảng 30 năm trời, Ngài được ba
đời vua Huyền Tôn, Túc Tôn và
Ðại Tôn đều trọng đãi. Khi
Ngài mất, vua truyền lệnh bãi triều ba
ngày để kỷ niệm và tặng Ngài
pháp hiệu là “Ðại Biên Chính
Quảng Trí Bất Không Tam Tạng Ðại
Hoà Thượng”.
Cùng với La Thập, Chân
Ðế và Huyền Tráng, Ngài
được gọi là một trong “bốn
nhà đại phiên dịch” kinh điển
của Phật giáo Trung Quốc. Ngoài việc
hoằng truyền giáo lý Mật tông, Ðại
sư Bất Không còn được biết
đến qua sự nghiệp xiển dương tín
ngưỡng tôn thờ Bồ-tát Văn Thù
Sư Lợi tại Trung Quốc. Những văn bản
liên quan đến công nghiệp này
đã được Huyền Cảo, một
đệ tử của Ngài, sưu tập lại
trong bộ Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng
Kinh, gồm cả những thư từ trao đổi
giữa Ngài và hai vị Hoàng đế Trung
Quốc vào khoảng cuối thế kỷ thứ
VIII, là một nguồn sử liệu có giá
trị trong việc nghiên cứu việc phát
triển tín ngưỡng tôn thờ
Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi.
Như đã nói ở trên,
chính Ðại sư Bất Không là
người chịu trách nhiệm trong việc
hoàn tất công trình xây cất Kim
Các tự tại Ngũ Ðài sơn sau khi
được Ðại Tôn hoàng đế
chuẩn cấp ngân sách vào năm 746. Do
được vua ưu ái sùng mộ mà
ngài Bất Không đã thuyết phục
được vua ban hành sắc lệnh tôn
Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi như là
một vị Bồ-tát bảo hộ chính trong
tất cả các chùa chiền tự viện
tại Trung Quốc. Trong sớ biểu dâng lên
Hoàng đế, Bất Không đại sư đã
viết về Bồ-tát Văn Thù như là
“người đang bảo vệ, canh giữ Ngũ
Ðài sơn”, hàm ý nhấn mạnh
đến vai trò bảo hộ quốc gia của
Bồ-tát. Vào năm 772, cũng do yêu cầu
của Ngài, Ðại Tôn hoàng đế
lại ban hành thêm một đạo dụ
khác, ra lệnh cho khắp các ngôi chùa trong
nước đều phải thiết lập thêm
một viện thờ đức Văn Thù. Tại
những điện thờ này, Tăng sĩ
được yêu cầu tụng đọc những
kinh điển cầu “quốc thái dân
an”, Bồ-tát Văn Thù nghiễm nhiên
đã rời khỏi nơi trụ tích Ngũ
Ðài sơn để trở thành một vị
thần bảo hộ quốc gia. Quan niệm tín
ngưỡng đức Văn Thù ở Ngũ
Ðài sơn vì thế được phổ
cập khắp nơi và Ngũ Ðài sơn bỗng
trở thành một nơi Linh nghiệm đạo tràng của
toàn thể quốc dân.
III.
Vai trò và ý nghĩa của Bồ-tát
Văn Thù trong kinh điển Ðại thừa.
Mặc dù cho đến nay các
nhà nghiên cứu Phật học vẫn chưa
có được một lời giải đáp
thỏa đáng về nguồn gốc, xuất xứ
của Bồ-tát Văn Thù, nhưng một
điều mà không ai có thể phủ
nhận được là hình ảnh của
Ngài đã xuất hiện rất sớm trong
các kinh điển Phạn ngữ, mở đầu
cho giai đoạn hưng khởi của truyền
thống Phật giáo Ðại thừa. Cụ thể
như sáu trong số chín bộ kinh đầu
tiên mà ngài Chi-ca-lâu-sấm đã
phiên dịch ra tiếng Trung Quốc vào thế
kỷ thứ 2 AD, nay vẫn còn tồn tại,
đều có đề cập đến sự
hiện diện của Bồ-tát Văn Thù .
Ðiều này đã cho thấy vai trò
và ý nghĩa quan trọng của vị
Bồ-tát được tôn xưng là
Ðại trí, mà với biện tài vô
ngại thường là nhân vật
được chọn để đứng ra lý
giải những phạm trù tinh yếu cốt
lõi của triết lý đạo Phật như
Tánh không, Bất nhị, Chân đế,…
được quảng diễn trong các kinh
điển Ðại thừa. Ðược tuyên
xưng là Thái tử của Ðấng Pháp
Vương, Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi
có lúc chính thức thay mặt đức
Bổn sư diễn nói Chánh pháp, mà
pháp âm của Ngài vang động khắp
cả tam thiên đại thiên thế giới
khiến cho tất cả các cõi Trời, người,
mọi loài chúng sanh đều được
thấm nhuần mưa pháp, hưởng
được lợi lạc. Vai trò này của
Bồ-tát đã được thể hiện
nổi bật nhất trong các bộ kinh “Văn
Thù Sư Lợi nói về cảnh giới
bất tư nghị của Phật”, Duy-ma-cật
và Thủ Lăng Nghiêm. Cũng có lúc
Bồ-tát lại đóng vai trò làm
người phát ngôn, giới thiệu
chương trình, long trọng cảnh báo cho
đại chúng biết đức Thế Tôn bắt
đầu thuyết giảng một thời pháp quan
trọng như trong kinh Pháp Hoa, hoặc là một
vị thiện tri thức đưa ra những lời
khuyên thiết thực và quý báu cho
những hành giả đang xả thân cầu
Bồ-tát đạo như trong kinh Hoa Nghiêm. Ta
sẽ lần lượt điểm qua vai trò của
Bồ-tát Văn Thù trong các bộ kinh
trọng yếu này của Ðại thừa.
1.
Tuyên dương Diệu pháp
Trong kinh “Văn Thù Sư Lợi
nói về cảnh giới bất tư nghị
của Phật”, chính đức Thế Tôn
đã trân trọng giới thiệu với
đại chúng biện tài vô ngại của
Bồ-tát Văn Thù và yêu cầu
Ngài tuyên dương diệu pháp:
“Tôi
nghe như vầy: Một thời đức Phật ở
tại vườn ông Cấp Cô Ðộc,
rừng cây ông Kỳ Ðà, nước
Xá Vệ, cùng với chúng đại
Tỳ-kheo là một ngàn vị và
Bồ-tát là mười ngàn vị, lại
có chư Thiên tử của Dục giới,
chư Thiên tử của Sắc giới và
Thiên tử của trời Tịnh Cư, cùng
với quyến thuộc của họ nhiều vô
lượng trăm ngàn đang bao quanh để
cúng dường cung kính, nghe Phật nói
pháp. Bấy giờ đức Phật bảo
Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi:
-
Này đồng tử! Ngươi có biện
tài, khéo có thể khai diễn. Nay
ngươi nên vì đại chúng
Bồ-tát tuyên dương diệu
pháp”.
Tuy là một bộ kinh ngắn
nhưng nội dung kinh “Văn Thù Sư Lợi
nói về cảnh giới bất tư nghị
của Phật” hàm chứa một ý nghĩa
vô cùng quan trọng: Ðây là một
tuyên ngôn của lý tưởng Bồ-tát
đạo được công bố bởi một
vị đại Bồ-tát đại biểu cho
trí tuệ. Khi kinh Pháp hoa nói rằng
đức Phật ra đời vì một đại
sự nhân duyên, đại sự nhân duyên
đó là gì nếu không phải là
nỗi khổ đau của tất cả chúng sanh?
Thế nên cảnh giới của chư Phật
không thể tìm cầu ở những cõi
Niết-bàn tịch tịnh hay Tịnh Ðộ trang
nghiêm mà phải chính ở ngay trong những
nỗi phiền não, khổ đau đó:
-
“Này đồng tử! Phải cầu cảnh
giới chư Phật ở đâu?Bồ-tát
Văn Thù Sư Lợi thưa:
- Bạch Thế tôn! Cảnh giới của chư
Phật phải cầu ở trong phiền não của
tất cả các chúng sanh. Vì sao vậy?
Nếu chơn chánh hiểu rõ phiền não
của chúng sanh, đó chính là cảnh
giới của Phật vậy. Sự chánh hiểu
rõ phiền não của chúng sanh này
là cảnh giới của Phật, đó
chẳng phải là chỗ sở hành của
tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật vậy”.
Cũng trong bộ kinh này, một
phạm trù thậm thâm uyên áo của
triết lý đạo Phật-hệ tư
tưởng Bát-nhã-mà sau này
Bồ-tát Long Thọ dùng làm cơ sở
nền tảng xây dựng Trung Quán Luận
là triết học Tánh không, pháp môn
Bất nhị cùng mối tương quan giữa
Nhị đế - Chân đế và Tục
đế - đã được lưỡi
gươm vàng trí tuệ của Bồ-tát
Văn Thù chặt tung những đám mây
mù của tà kiến, nghi hoặc, khi Ngài
trả lời đức Thế Tôn về ý
nghĩa của Pháp sở trụ bình đẳng
của Như Lai:
Bồ-tát
Văn Thù Sư Lợi thưa:
-
Bạch Thế tôn, tất cả phàm phu
đối với trong pháp không, vô
tướng, vô nguyện, khởi lên tham sân
si, cho nên chỗ khởi lên tham sân si của
tất cả phàm phu chính là pháp sở
trụ bình đẳng của Như Lai.
Ðức
Phật bảo:
-
Này đồng tử! Với cái không,
há lại có pháp mà nói ở trong
đó có tham sân si sao?
Bồ-tát
Văn Thù Sư Lợi thưa:
-
Bạch Thế tôn, không là có nên tham
sân si cũng là có.
Ðức
Phật nói:
-
Này đồng tử! Tại sao không là
có? Lại vì sao tham sân si là có?
Bồ-tát
Văn Thù Sư Lợi thưa:
-
Bạch Thế tôn! Không, vì dùng lời
nói (diễn đạt) cho nên có; tham sân
si cũng vì dùng lời nói diễn
đạt cho nên có. Như đức Phật
nói với Tỳ-kheo: “Hữu không sanh,
không khởi, vô tác, vô vi, chẳng
phải các pháp hành ấy, chẳng phải
chẳng có. Nếu là không có thì
nó phải đối với pháp sanh khởi,
tác vi các hành, thì đáng lẽ
phải không xuất ly. Vì có cho nên
nói là không xuất ly vậy”. Ðiều
này cũng vậy, nếu không có không,
thì đối với tham sân si không có
sự xuất ly được. Vì có không
cho nên nói lìa tham sân si... các phiền
não.
Ðức
Phật nói:
-
Này đồng tử! Như vậy, như vậy!
Như điều ngươi nói, tham sân si...
tất cả phiền não, chẳng có cái
nào mà chẳng ở trong cái không.
Bồ-tát
Văn Thù Sư Lợi lại bạch Phật:
-
Bạch Thế tôn! Nếu người tu hành xa
lìa tham sân si... mà cầu nơi không,
nên biết người đó chưa khéo tu
hành, không thể gọi là người tu
hành được. Vì sao vậy ? Vì tham
sân si... tất cả phiền não tức là
không vậy”.
Mục tiêu, lý tưởng
của Bồ-tát đạo không phải chỉ
là để vượt qua vòng sanh tử,
đạt đến cảnh giới Niết-bàn
mà là hoàn thành Phật đạo
để cứu độ chúng sanh. Trên con
đường tìm cầu giác ngộ, hành
giả không thể không ươm trồng Bồ
đề tâm đồng thời trui rèn cho mình
trí tuệ Bát-nhã. Ðó là con
đường tất yếu. Con đường này
đã được Bồ-tát Văn Thù
khẳng định lại một lần nữa khi
trả lời Tôn giả Tu Bồ Ðề,
đại biểu cho hàng Thanh Văn, khi Tôn
giả lo ngại rằng thuyết giảng những tư
tưởng thậm thâm uyên áo sẽ
không mang lại lợi ích gì cho kẻ sơ
cơ:
“Tu
Bồ Ðề nói:- Này đại sĩ! Nay
Ngài thuyết pháp có thể không
đưa đến sự che chở tâm kẻ sơ
học chăng?
Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi đáp:
-
Này đại đức! Nay tôi hỏi ngài,
tùy ý trả lời. Như có vị
lương y muốn điều trị bệnh nhân,
vì muốn che chở tâm của bệnh nhân
nên không cho những vị thuốc có vị
cay, chua, mặn, đắng thích ứng với con
bệnh. Vậy có thể làm cho người
bệnh được lành bệnh, được an
lạc chăng?
Thưa rằng:
-
Không thể được.
Bồ-tát
Văn Thù Sư Lợi nói:
-
Này đại đức! Ðiều này cũng
như vậy. Nếu vị thầy thuyết pháp
vì muốn che chở tâm kẻ học nên
giấu kín pháp thậm thâm không nói
ra, mà tùy theo ý muốn kẻ ấy, chỉ
diễn nói ý nghĩa thô thiển để
làm cho kẻ học giả ra khỏi khổ sanh
tử, đến cái vui Niết-bàn, điều
đó không bao giờ có”.
2.
Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi giảng
Pháp môn Bất nhị trong kinh Duy-ma-cật.
Vai trò tuyên dương diệu
pháp của Bồ-tát Văn Thù một
lần nữa được thể hiện trong kinh
Duy-ma-cật. Trưởng giả Duy-ma-cật là
một cư sĩ tại gia nhưng tu hành chứng
đắc, mật hạnh viên thông mà ngay
cả những bậc đại đệ tử của
Phật cũng không có vị nào sánh
bằng. Ông cư trú tại thành Tỳ-da-li
(Vaishali) như là một nhà thương gia
giàu có và đồng thời là một
nhân sĩ uy tín tại địa phương.
Một hôm vì muốn tạo
cơ duyên để hoằng pháp lợi sanh,
ông đã mượn cớ bị bệnh
để tạo dịp cho các vị quốc
vương, quan chức, dân chúng đến
thăm và nhân cơ hội đó giảng
giải giáo lý cho họ. Ðức Thế
Tôn biết rõ “căn bệnh” của
ông nên đã lần lượt yêu
cầu các vị đại đệ tử thay
mặt mình đi thăm bệnh ông Duy-ma-cật.
Thế nhưng tất cả những vị đại
đệ tử của Phật trong quá khứ đã
từng bị trưởng giả Duy-ma-cật chất
vấn về tâm pháp và sở học mà
không một ai trả lời trôi chảy
trước kiến thức Phật pháp uyên
thâm và biện tài vô ngại của
ông nên đều sợ hãi từ chối.
Bệnh của trưởng giả Duy-ma-cật là
bệnh Bồ-tát - vì chúng sanh bệnh
nên Bồ-tát bệnh - thế nên người
có đủ tư cách để thăm bệnh
ông, không ai khác hơn ngoài vị
Ðại trí Bồ-tát Văn Thù Sư
Lợi:
Lúc bấy giờ, Phật bảo
Văn Thù Sư Lợi:
- Này
Văn Thù Sư Lợi, Ông nên thay tôi
đi đến thăm bịnh ông Duy-ma-cật.
Văn
Thù Sư Lợi bạch Phật:
-
Bạch Thế Tôn? Bực cư sĩ trí thức
kia khó bề đối đáp, vì ông
ấy rất thâm đạt thật tướng,
khéo nói pháp mầu, trí tuệ vô
ngại, biện tài thông suốt, rõ thấu
phương pháp tu trì của tất cả
Bồ-tát, thâm nhập kho tạng bí mật
của Chư Phật, hàng phục các ma, thần
thông tự tại và trí tuệ phương
tiện đều đặng rốt ráo. Tuy thế,
con xin vưng thánh chỉ của Phật đến
thăm bịnh ông.
Lúc ấy, trong Ðại chúng
các hàng Bồ-tát và hàng Ðại
đệ tử, Ðế Thích, Phạm thiên,
Tứ thiên vương đều nghĩ rằng:
‘Hôm nay hai vị đại sĩ: Văn Thù
Sư Lợi và Duy-ma-cật cùng nhau đàm
luận tất nói pháp mầu’. Tức
thời, tám nghìn Bồ-tát, năm trăm
Thanh Văn và trăm nghìn Thiên nhơn
đều muốn đi theo”.
Mọi người nô nức muốn
đi theo là phải, vì họ chờ đợi
một cuộc tranh luận sôi nổi về giáo
pháp sẽ xảy ra giữa hai nhân vật
kiệt xuất này, một đại biểu cho
hàng trí tuệ Bồ-tát và một
đại biểu cho hàng cư sĩ tại gia
lỗi lạc, mà qua đó chắc chắn
sẽ đem lại nhiều điều lợi ích
thực tiễn cho việc tu học của mình.
Nội dung của cuộc đàm luận giáo
pháp quan trọng này giữa Bồ-tát Văn
Thù và Trưởng giả Duy-ma-cật
đã diễn ra trong tất cả sáu phẩm
của bộ kinh, mà quan trọng nhất là trong
các phẩm: Phật Quả và Pháp môn
Bất nhị.
Trong Phẩm Phật Quả, ta gặp
lại một lần nữa tư tưởng hàm
chứa trong kinh Văn Thù Sư Lợi nói về
cảnh giới bất tư nghị của Phật:
“Cảnh giới của Như Lai là phiền
não”. Ðây là tư tưởng mà
sau này Lục tổ Huệ Năng đã
phát biểu một cách cụ thể hơn:
“Phiền não tức Bồ đề”. Ta
không đi tìm cầu Bồ đề ở
nơi nào khác ngoài chốn trần gian
khổ lụy này vì chính từ trong
đống bùn nhơ của phiền não,
đóa hoa sen tinh khiết sẽ nẩy mầm. Ta
hãy nghe Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi
trả lời câu chất vấn của Trưởng
giả Duy Ma về “hạt giống Như Lai”:
“Bấy giờ, Duy-ma-cật hỏi
Văn Thù:
- Thế
nào là hạt giống Như Lai?
Ðáp:
- Có thân là hạt
giống Như Lai. Vô minh có ái là
giống, tham sân si là giống, tứ điên
đảo là giống, ngũ cái là
giống, lục nhập là giống, thất thức
xứ là giống, bát tà pháp là
giống, cửu não là giống, thập bất
thiện đạo... là giống. Nói tóm
lại, sáu mươi hai kiến chấp và
tất cả phiền não đều là hạt
giống Phật.
Hỏi: - Tại sao?
Đáp:
- Nếu kẻ thấy
vô vi vào chánh vị thì chẳng thể
còn phát tâm Vô thượng
Bồ-đề nữa. Ví như chỗ gò cao
chẳng thể sanh hoa sen, mà nơi bùn lầy
ẩm thấp mới sanh hoa sen. Cũng thế, kẻ
thấy pháp vô vi vào chánh vị thì
chẳng còn có thể sanh khởi Phật
pháp, trong bùn lầy phiền não mới
có chúng sanh sanh khởi Phật pháp thôi.
Như gieo giống nơi hư không thì chẳng
thể sanh khởi, ở đất phân bùn
mới tốt tươi được. Cũng thế, kẻ
vào vô vi chánh vị chẳng sanh khởi
Phật pháp, kẻ có ngã kiến như
núi Tu Di còn có thể phát tâm Vô
thượng Bồ-đề, sanh khởi Phật
pháp. Nên biết tất cả phiền não
là hạt giống Như Lai, ví như chẳng
xuống biển cả thì chẳng được
bửu châu vô giá. Cũng thế, chẳng
vào biển phiền não thì chẳng thể
đắc ngọc báu Nhất Thiết Trí
vậy”.
Ðọc xong bộ kinh Duy-ma-cật,
có người sẽ hoang mang tự hỏi: Có
thể có một nhân vật tuyệt vời
như thế chăng? Có một nhân vật
lịch sử như thế chăng, hay đấy chỉ
là một nhân vật hư cấu để
biểu tượng một tư tưởng triết học
hay một lý tưởng Bồ-tát đạo
của Phật giáo Ðại thừa?
“Có thể trả lời một
cách dứt khoát rằng đó là
một nhân vật lịch sử, xuất hiện trong
một giai đoạn đặc biệt của lịch
sử phát triển Phật giáo nói chung,
và trong thời kỳ vận động của
Ðại thừa.
Một con người có thật, được trang
bị với một cơ sở tư tưởng
Bất nhị (advaita) để có thể tự
nâng lên hàng Thánh giả vượt
ngoài tam giới nhưng đồng thời có
thể hạ mình ngập lụt trong thế gian
ô nhiễmmà vẫn không tách lìa
thế giới thuần tịnh vô nhiễm”.
Chủ điểm nền tảng của
kinh Duy-ma-cật là triển khai nhận thức về
thực tại trên căn bản của nguyên
lý bất nhị, tức hệ tư tưởng
Tánh không của Bát-nhã. “Nguyên
lý bất nhị hướng dẫn nhận thức
khởi đi từ những thực tại sai biệt
mà khám phá ra thực tại tối hậu
là tuyệt đối thể ngay trong các tồn
tại sai biệt ấy. Ðể nhận thức
được thực tại chân thực,
Bồ-tát cần đi qua cánh cửa bất nhị...”;
tức là “cánh cửa giao thông cho
Bồ-tát qua lại giữa Niết-bàn và
sinh tử. Nếu không được trang bị
bằng nguyên lý Bất nhị, Bồ-tát
sẽ không đủ nghị lực và dũng
mãnh để trụ vững trên bồ
đề tâm” .
Tư tưởng Bất nhị quan
trọng như thế nên trong kinh Duy-ma-cật
đã được nâng lên thành một
Pháp môn, và không ai đầy đủ
năng lực trí tuệ để nói về
pháp môn này ngoài Ngài Ðại
trí Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát.
Ðây là nguồn cảm hứng sâu xa cho
các Thiền gia Trung Quốc sau này, trong một
trăm công án của Bích Nham Lục có
công án thứ 84, “Duy Ma Bất nhị
môn”, được xây dựng từ phẩm
Bất Nhị Pháp Môn của kinh Duy-ma-cật:
“Bấy giờ, Duy-ma-cật bảo
các Bồ-tát rằng:
-
Các nhơn giả! Bồ-tát làm sao nhập
pháp môn bất nhị? Hãy tùy sở
ngộ của mình mà nói ra.
***
Các
Bồ-tát mỗi mỗi đã nói xong như
trên, rồi hỏi Văn Thù: Thế nào
là nhập pháp môn Bất nhị của
Bồ-tát?
Văn Thù đáp:
- Theo
ý tôi, nơi tất cả pháp vô ngôn
vô thuyết, vô thị vô thức, lìa
nơi vấn đáp. Ấy là nhập pháp
môn bất nhị.
Khi đó Văn Thù hỏi Duy-ma-cật rằng:
-
Chúng tôi mỗi mỗi đã tự nói
xong. Nay đến lượt Nhơn giả nói:
Thế nào là nhập pháp môn bất
nhị của Bồ-tát?
Duy-ma-cật im lặng. Văn Thù tán thán
rằng:
-
Lành thay! Lành thay! Cho đến chẳng có
văn tự, lời nói mới là chơn
nhập pháp môn bất nhị.
Khi thuyết phẩm này rồi, ở trong chúng
có năm ngàn vị Bồ-tát đều
nhập pháp môn bất nhị, đắc Vô
Sanh Pháp Nhẫn”.
Ta hãy nghe lời bàn trong Bích
Nham Lục: Lúc đó, Duy Ma cư sĩ
đối với ngài Văn Thù Sư Lợi
và các vị Bồ-tát tùy tùng
tới thăm bệnh, Ngài liền hỏi các
vị Bồ-tát, thế nào là
Bồ-tát nhập Bất nhị pháp môn.
Các Bồ-tát tùy tùng từ người
thứ nhất đến người thứ 32
đã lần lượt đáp về câu
hỏi này, nhưng Duy Ma cư sĩ đều
không hài lòng về các câu trả
lời.
Cuối cùng tới ngài Văn
Thù, đối với câu hỏi này đem
trình bày: Từ trước các vị
Bồ-tát trình bày về: Bất nhị
môn đều chỉ đề cử về 2
pháp cho đó là bất nhị, nhưng
bất nhị là cảnh giới của Ðại
trí tuệ bình đẳng, vốn dĩ 2 cũng
không và 3 cũng không. Ðó chỉ
là phần lý luận, đã là lý
luận thời có hơn thua, nên Ngài tâm
đắc được câu hỏi Bất nhị
môn của Duy Ma. Ngài nói với Duy Ma, theo
như tôi thì phải xa lìa mọi vấn
đáp, không nói, không thuyết, vô
thị, vô thức, đó là nhập Bất nhị
pháp môn. Nếu nói tới pháp môn
Bất nhị này thời phải xa lìa hẳn
ngôn thuyết ở cảnh giới vọng ngôn,
tuyệt tự, không thể đem hết thảy
ngôn thuyết của hết thảy pháp mà
hiểu rõ được, và cũng không
thể chỉ bảo được, cũng không
thể biết được, không thể hỏi và
trả lời được, thời đó là
pháp môn Bất nhị. Lời đáp này
của ngài Văn Thù, không thấy
vướng chỗ Nhị và Bất nhị, tức
là nơi thấy biết của Đại trí
tuệ bình đẳng.
Tiếp đó ngài Văn Thù
đối với Duy Ma cư sĩ, hỏi: Chúng
tôi tất cả 32 người đều đã
trình bày về Bồ-tát nhập bất
nhị pháp môn rồi, nay xin hỏi về chỗ
kiến giải của cư sĩ. Tức là ý
phản vấn của ngài Văn Thù. Lúc
ấy cư sĩ Duy Ma “lặng thinh không
đáp”. Ngài Văn Thù thấu suốt
ngay được ý của cư sĩ Duy Ma liền
tán thán rằng: Tốt lắm thay! tốt
lắm thay! “Không có văn tự ngôn
ngữ là chân bất nhị pháp
môn”.
3.
Lưỡi kiếm của Bồ-tát Văn Thù
trong hệ tư tưởng Bát-nhã: Phùng
Phật Sát Phật!
Hệ tư tưởng Bát-nhã
với triết lý Tánh không được
coi như là xương sống của tư
tưởng Phật giáo Ðại thừa. Mục
tiêu của Ðại thừa là hoàn
thành Bồ-tát đạo cũng đồng
nghĩa với thực chứng Tánh không. Con
đường dẫn đến Bát-nhã Ba-la-mật
phải được khởi đi từ nỗ lực
loại trừ ý thức phân biệt. Nhưng
Bát-nhã Ba-la-mật là gì? Ta hãy nghe
Bồ-tát Văn Thù giải thích trong kinh
Bát Nhã Thất Bách Tụng (Saptasatika Prajna-
paramita):
“Phật
hỏi: Này Văn Thù Sư Lợi, Ông
có bao giờ quán về các pháp của
một vị Phật?
Bồ-tát
Văn Thù thưa: Bạch Thế Tôn, không.
Nếu con có thể trông thấy được
thành tựu đặc biệt của những pháp
của một vị Phật, con sẽ lập tức
quán chiếu. Nhưng bạch đức Thế
Tôn, sự phát triển của Bát-nhã
Ba-la-mật không hề được đặt
cơ sở trên ý thức phân biệt về
pháp để rồi nói rằng, những
cái này là pháp của kẻ phàm phu,
những cái kia là pháp của hàng
Tỳ-kheo, những cái này là pháp
của Thanh Văn, Duyên Giác, những cái kia
là pháp của bậc Giác ngộ. Vị
thiện nam tử khi buông bỏ tất cả
để
GHI CHÚ:
Bài viết này một phần được
gợi ý và dựa vào tài liệu
“Manjusri: Origins, Role and Significance” của GS/TS Anthony
Tribe
(Dharmachari
Anandaiyoti), Giáo sư Ðại học