BỒ
ĐỀ TÂM VÀ LÒNG BI MẪN
Lama
Zopa Rinpoche – Thanh Liên Việt dịch
( Trích từ
nguồn THƯ VIỆN HOA SEN )
Bài Giảng
Cuối Tuần
[Xin
khởi động như sau:] “Càng nhanh càng
tốt, con phải thành tựu sự Toàn
Giác để giải thoát những bà
mẹ chúng sinh của con - là vô lượng
chúng sinh bao la như bầu trời – ra khỏi
những đại dương đau khổ sinh tử
mà họ đang trải nghiệm, và đưa
họ tới hạnh phúc vô song của sự
Toàn Giác.
Như
vậy con sắp lắng nghe Thánh Pháp.”
Vì thế xin chăm chú lắng nghe
bằng cách gạn lọc động lực thanh
tịnh nhất trong tâm bạn và hãy nghe
giáo lý một cách đúng đắn,
phù hợp với những thực hành truyền
thống được các Lạt Ma mô tả
trong dòng truyền thừa của chúng ta.
MỤC ĐÍCH CỦA ĐỜI
NGƯỜI
Như tôi đã nói trong một
Pháp thoại trước đây, bạn nên
hiểu rõ ý nghĩa của đời bạn,
lý do bạn sống, mục đích của
việc đã nhận được thân
người quý báu vào lúc này,
đặc biệt là sự tái sinh làm
người cao quý này với tám sự
tự do và mười điều thuận lợi
– bạn nên hiểu rõ điều này,
không chỉ một cách trí thức mà
còn hiểu thật sâu xa khiến bạn
chuyển hóa thái độ của bạn một
cách thích đáng và sống cuộc
đời bạn trong sự hòa hợp với
mục đích đó. Mục đích
đó là gì? Đó là sống
cuộc đời bạn để làm lợi
lạc những người khác.
Như thế, lòng bi mẫn là
sự thiền định hay thực hành quan
trọng nhất mà bạn có thể làm.
Mặc dù những giáo lý của Đức
Phật nói về hàng tỉ cách thiền
định hay thực hành khác nhau mà bạn
có thể trải cả cuộc đời mình
để thực hành, nhưng đây chính
là điều quan trọng nhất - làm lợi
lạc người khác, sống cuộc đời
bạn với một thái độ bi mẫn
đối với người khác. Đây là
mục đích thực sự của cuộc
đời, là ý nghĩa của cuộc
đời.
Cho dù bạn chỉ có một
giờ để sống, một phút để
sống, mục đích của cuộc đời
vẫn là sống vì sự lợi lạc của
người khác, với một trái tim tốt
lành, với lòng bi mẫn đối với
người khác. Cho dù bạn chỉ có
một phút để sống, chỉ còn lại
một phút của thân người quý
báu này, điều quan trọng nhất mà
bạn có thể thực hành là lòng bi
mẫn; ngoài ra không có gì khác.
Cũng hoàn toàn giống như
thế nếu bạn có một trăm năm để
sống, một ngàn năm, thậm chí một
kiếp để sống. Để hoàn thành
mục đích của cuộc đời bạn,
bạn vẫn phải sống với lòng bi mẫn
đối với những người khác, vì
sự lợi lạc của những người
khác.
Nếu bạn đang vui hưởng một
cuộc đời hạnh phúc, đang kinh nghiệm
lạc thú, thì để cuộc đời
bạn không trống rỗng, trở nên lợi
lạc, hữu ích cho những người khác,
bạn nên thực hành lòng bi mẫn, sống
cuộc đời bạn để làm lợi
ích cho người khác. Nếu đời bạn
không hạnh phúc, nếu bạn đang kinh
nghiệm những vấn đề trong mối quan hệ,
nếu bạn bị ung thư hay bệnh AIDS, nếu
bạn tuyệt vọng, nếu đời bạn
không thoải mái, cho dù bạn đang gặp
đến hàng trăm hay hàng ngàn vấn
đề – sức khỏe, mối quan hệ,
những vấn đề liên quan tới việc
làm – như thể bạn đang chết
đuối trong vũng lầy của những vấn
đề, bạn cũng nên thực hành lòng
bi mẫn đối với những người khác.
Nếu bạn có thể thực hành lòng bi
mẫn vào những thời điểm như thế
thì bạn vẫn làm cho cuộc đời
bạn có ý nghĩa, lợi lạc cho
người khác, hữu ích cho người
khác, và nhờ đó – bằng cách
làm lợi lạc cho người khác –
bạn sẽ thường xuyên làm cuộc
đời bạn mang lại lợi lạc cho bản
thân bạn. Yêu thương người khác
là cách thức tốt đẹp nhất
để yêu thương bản thân bạn.
Yêu thương người khác
có nghĩa là bạn đừng làm hại
người khác, và không làm hại
người khác là không làm hại
bản thân bạn. Ngay cả trong phạm vi của
sự bảo vệ, đây là cách tốt
đẹp nhất để bảo vệ cuộc
đời bạn. Cũng giống như thế, khi
bạn làm cho người khác hạnh phúc,
bạn mang lại hạnh phúc cho chính bạn.
Nghiệp được tạo nên nhờ làm cho
người khác hạnh phúc cũng làm cho
bạn kinh nghiệm sự hạnh phúc;
đó là loại nghiệp dẫn tới hạnh
phúc. Cho dù bạn không mong muốn hạnh
phúc nhưng một khi bạn đã tạo
nên nguyên nhân của nó thì nó
chính là kết quả.
Nếu bạn trồng một hạt
giống trên mặt đất và hội
đủ mọi điều kiện (duyên), chẳng
hạn như đất, nước và nhiệt
độ toàn hảo – mọi sự đều
hội tụ và không có những trở
ngại nào – thì cho dù bạn có
cầu nguyện nhiều tới đâu để
cây đừng mọc lên, nhưng nó vẫn
sẽ phát triển. Chắc chắn là nó
sẽ mọc lên bởi hạt giống được
gieo trồng trên mặt đất đã
gặp được mọi điều kiện cần
thiết để phát triển; nhân và
duyên đã gặp gỡ. Bởi nó là
một sự duyên sinh nên việc bông hoa hay
trái cây đó sẽ mọc lên là
điều không thể tránh khỏi, cho dù
bạn có cầu nguyện nhiều tới đâu
để nó không mọc.
Tương tự như thế, nếu
bạn sống cuộc đời hàng ngày
của bạn với lòng bi mẫn, mang lại
thật nhiều hạnh phúc cho người khác
trong khả năng của bạn, thì kết quả
tự nhiên là bản thân bạn sẽ kinh
nghiệm hạnh phúc, bây giờ và trong tương
lai – đó là kết quả tức thì
là sự an bình trong tâm trong đời
này và kết quả dài hạn là
hạnh phúc trong tất cả những đời sau
của bạn. Tất cả những điều này
là kết quả chắc chắn của việc mang
lại hạnh phúc và lợi lạc cho
người khác.
Như vậy, bạn sẽ thâu
hoạch được rất nhiều khi thương
yêu người khác, quan tâm tới những
chúng sinh khác như bạn làm cho bản
thân bạn. Dù họ là những côn trùng
hay con người thì họ cũng là những
sinh loài giống như bạn – ước mong
hạnh phúc và không mong muốn đau
khổ. Giống như bạn cần tới sự
giúp đỡ của người khác để
giải trừ những vấn đề thì họ
cũng cần điều đó. Giống như
hạnh phúc của bạn tùy thuộc vào
những người khác, hạnh phúc của
họ cũng thế. Không chỉ có con
người, mà cả đến những côn
trùng cũng cần tới sự giúp đỡ
của bạn. Việc họ giải thoát khỏi
những vấn đề thì tùy thuộc
vào bạn; hạnh phúc của họ tùy
thuộc vào bạn.
Tại sao việc thương yêu
người khác, quan tâm tới người
khác như bạn làm cho bản thân bạn,
không làm hại mà làm lợi lạc cho
họ, lại là phương cách tốt
đẹp nhất để chăm sóc bản thân
bạn, quan tâm tới bản thân bạn?
Đó là nhờ có một trái tim
tốt lành, sự thương yêu người
khác, làm lợi lạc người khác
mà mọi ước muốn của riêng bạn
đều được hoàn tất.
Nói chung, trong thế giới, khi
những người khác nhìn thấy một
người thiện tâm, có bản tánh bi
mẫn, từ ái, họ nhận được
những sự rung động tốt lành, một
cảm xúc tích cực từ người
đó. Ngay cả những người không quen
biết gặp người đó trên
đường, trong máy bay, trong các văn
phòng hay cửa hàng, thì chỉ cái
nhìn của người đó cũng đủ
làm cho họ sung sướng, mỉm cười
và muốn được trò chuyện. Do bởi
trái tim tốt lành, những rung động
tốt lành, cảm xúc tích cực của
bạn, bạn làm cho người khác hạnh
phúc. Ngay cả những biểu lộ trên
khuôn mặt họ cũng thay đổi phản ánh
tâm thức hạnh phúc của họ. Cho dù bạn
không phải trải nghiệm bất kỳ vấn
đề gì thì những người khác
cũng vẫn giúp đỡ bạn.
Khi bạn có một trái tim tốt
lành đối với những người khác,
tất cả những ước muốn hạnh phúc
của riêng bạn đều được
đáp ứng một cách ngẫu nhiên.
Giống như một Bồ Tát, mặc dù
động lực của bạn chỉ là hạnh
phúc của người khác và bạn
không trông chờ gì hạnh phúc của
bản thân bạn, cho dù mọi sự bạn
làm trong hai mươi bốn giờ đồng
hồ một ngày được đặc biệt
hồi hướng cho hạnh phúc của những
người khác mà không có một
niệm tưởng nào về hạnh phúc
của riêng bạn, thì bản thân bạn
cũng sẽ kinh nghiệm mọi điều hạnh
phúc.
Nhờ sự chứng ngộ Bồ
Đề tâm, những thánh nhân - những
vị Bồ Tát – sẽ hoàn toàn từ
bỏ bản thân mình vì người
khác. Các ngài không nghĩ tưởng
gì về hạnh phúc của riêng mình
mà thay vào đó dùng mỗi giây
phút để tìm kiếm hạnh phúc cho
những người khác. Như thế điều
gì sẽ xảy ra? Với Bồ Đề tâm,
các ngài có thể phát triển trí
tuệ tối thượng nhận ra bản tánh
đích thực của cái tôi – bản
ngã và những uẩn, sự kết hợp
của thân và tâm là căn bản của
cái được quy gán cho là cái
tôi – và mọi hiện tượng khác.
Nhờ phát triển Bồ Đề
tâm và trí tuệ tối thượng,
các ngài có thể tiệt trừ mọi
lỗi lầm của tâm thức, nguyên nhân
của mọi đau khổ – những ô nhiễm
thô sơ, những lầm lạc của tham, sân và
si, và những ô nhiễm vi tế, là
những gì có tính chất của những
dấu vết để lại trong dòng tương
tục của tâm thức do những mê lầm.
Như vậy, đây là điểm
đặc biệt của Bồ Đề tâm, bởi
với sự hỗ trợ của nó, bạn có
thể phát triển không chỉ trí tuệ
chứng ngộ tánh Không mà còn có
thể ngăn cản những ô nhiễm vi tế
và nhờ đó trở nên hoàn toàn
giác ngộ, đạt được trạng
thái toàn trí, tâm toàn giác,
thấu suốt trực tiếp và không chút
lỗi lầm, không chỉ nghiệp thô nặng mà
cả mỗi nghiệp vi tế duy nhất của từng
người trong vô số chúng sinh. Bạn sẽ
nhận ra mọi đặc tính dị biệt,
những ước muốn và mức độ
thông tuệ của họ; thấu hiểu từng
phương pháp độc nhất thích hợp
với tâm thức của tất cả những
chúng sinh khác biệt này vào những lúc
khác nhau; và khám phá phương
pháp thích ứng phù hợp với tâm
của mỗi cá nhân chúng sinh vào
những thời điểm khác nhau để dẫn
dắt chúng sinh đó từ hạnh phúc
này sang hạnh phúc khác, bằng đủ
mọi cách để đạt được
giác ngộ.
Như thế, Bồ Đề tâm
khiến cho trí tuệ của bạn hoạt
động khiến nó có thể chiến
thắng ngay cả những ô nhiễm vi tế,
làm cho tâm bạn hoàn toàn giác
ngộ.
Theo cách này, Bồ Đề
tâm khiến bạn trở thành một
người dẫn đường hoàn toàn
có phẩm tính, một bậc giác ngộ
toàn hảo, và nhờ đó giải
thoát vô số chúng sinh khỏi luân
hồi sinh tử, đại dương của đau
khổ, và mang họ tới hạnh phúc vô
song của sự Toàn Giác.
Như thế sự thành tựu mọi
phẩm tính giác ngộ vô biên này
xuất phát từ đâu? Ngay cả những
Bồ Tát Thập Địa cũng có những
phẩm tính khó tin, không thể nghĩ
bàn. Ngay một Bồ Tát Sơ Địa cũng
có thể thiền định trong hàng trăm
cách tập trung khác nhau, đi tới hàng
trăm cõi tịnh độ khác nhau, khám
phá cho chúng sinh hàng trăm giáo lý
khác nhau. Tôi không nhớ chính xác,
nhưng có khoảng mười một điều
khác nhau trong đó các ngài có
thể làm hàng trăm việc. Một Bồ
Tát Nhị Địa có thể thực hiện
một ngàn thiền định tập trung khác
nhau, đi tới một ngàn cõi tịnh độ,
khám phá một ngàn giáo lý khác
nhau cho chúng sinh và v.v.. Cũng giống như
thế, bởi các ngài tiến bộ càng
lúc càng cao hơn qua các cấp độ
(địa), các ngài thành tựu càng
lúc càng nhiều hơn những phẩm tính
không thể nghĩ bàn mà với chúng
các ngài có thể làm lợi ích
chúng sinh. Tôi không nhớ những thuật
ngữ để chỉ địa thứ chín
và thứ mười nhưng chư vị Bồ
Tát sở hữu vô số phẩm tính
không thể nghĩ bàn như thế.
Tất cả những phẩm tính
không thể nghĩ bàn này của con
đường Bồ Tát, tất cả những
phẩm tính vô biên của thân linh
thánh, ngữ linh thánh và tâm linh thánh
của Đức Phật xuất phát từ cội
gốc là sự từ bỏ bản ngã và tư
tưởng tìm kiếm hạnh phúc cho riêng
mình, và sự phát triển trái tim
tốt lành, tư tưởng chỉ tìm kiếm
hạnh phúc cho chúng sinh. Tất cả mọi
phẩm tính đó xuất phát từ cội
gốc này. Mọi phẩm tính tốt lành
vô biên của Đức Phật, của Pháp,
con đường của Bồ Tát, và của
Tăng, những bậc thánh và thậm chí
những Bồ Tát bình thường, đều
xuất phát từ tư tưởng quý báu
phi thường, Bồ Đề tâm như ý
– sự từ bỏ bản ngã và tâm
quy-ngã, và sự phát triển lòng
yêu thương chỉ dành cho người
khác. Tất cả những phẩm tính
đó đều xuất phát từ tư
tưởng này.
Những bậc có thể làm
được điều này chứng ngộ sự
thành tựu tuyệt hảo nhất. Các ngài
từ bỏ bản ngã, từ bỏ cái tôi,
nhưng các ngài đạt được sự
thành tựu tuyệt hảo, thành công vĩ
đại nhất. Các ngài không chỉ
tìm ra sự giải thoát vĩnh cửu khỏi
chu kỳ của sự chết và tái sinh và
mọi vấn đề mà nó mang lại,
chẳng hạn như sự tái sinh, sự già,
bệnh, những vấn đề thuộc cảm
xúc và mọi khó khăn khác của
cuộc sống mà chúng ta kinh nghiệm, mà
các ngài cũng đạt được sự
giải thoát vĩnh cửu, sự tự do vĩnh
cửu, hạnh phúc vĩnh cửu cho bản thân
mình, và có thể mang lại hạnh
phúc bao la như bầu trời cho vô số
chúng sinh. Tất cả những điều này
xuất phát từ cội gốc là Bồ
Đề tâm, tâm linh thánh cao quý nhất,
sự từ bỏ cái tôi, sự thương
yêu người khác.
Chúng ta có thể hiểu
được điều này chân thật ra sao
bằng cách đọc những bản văn
thuật lại những câu chuyện tiền thân
của Đức Phật và cuộc đời
của những Bồ Tát khác, nhưng ta cũng
có thể thấu hiểu một trái tim tốt
lành thì như ý ra sao đối với
hạnh phúc của bạn từ những gương
mẫu của những cuộc đời bình
thường của những con người bình
thường trong thế giới – những
người mà tâm họ bi mẫn hơn trong
bản chất ra sao, những người có thiện
tâm, có những đời sống thoải
mái hơn.
Chẳng hạn như, nếu bạn
đang kinh nghiệm những vấn đề sức
khỏe nghiêm trọng, chẳng hạn như ung
thư và v.v.., nhưng bạn có một trái
tim tốt lành, tâm bạn sẽ hạnh phúc
và an bình bởi mối quan tâm chính
không phải là cho bản thân bạn mà
là cho người khác; mối quan tâm của
bạn được dành cho chúng sinh. Nhờ
đó tâm bạn được an bình. Cho
dù bạn đang hấp hối nhưng tâm
bạn không bị xáo trộn vì mối quan
tâm của bạn là dành cho người
khác chứ không phải cho bạn. Ngay cả
vào lúc cuối đời bạn, giây
phút chấm dứt đời người của
bạn, kinh nghiệm của bạn về sự chết là
một kinh nghiệm hạnh phúc bởi thái độ
của bạn là thái độ quan tâm
tới người khác, chứ không phải cho
cái ta, không phải là tâm thức tự
yêu thương mình, tâm quy-ngã.
Mặc dù các sự việc
không tiến triển với bạn, bạn gặp
nhiều trở ngại, cuộc đời bạn gặp
rắc rối, nhưng tất cả những điều
này không làm bạn lo lắng, tâm bạn
không bị quấy nhiễu, luôn luôn vui vẻ
và an bình, bởi ưu tiên hàng
đầu trong đời bạn là hạnh phúc
của những người khác. Điều bạn
quan tâm nhất là người khác, chứ
không phải bản thân bạn. Đó là
mục đích của bạn. Thái độ
này mang lại rất nhiều an bình và
hạnh phúc cho đời sống hàng ngày
của bạn, đem lại cho bạn rất nhiều
sự hài lòng. Mặc dù những
người khác gây nên cho bạn những
vấn đề, làm phiền bạn, nhưng nó
không gây rắc rối cho bạn; tâm bạn vẫn
an bình và hạnh phúc.
Đặc biệt là với một
trái tim tốt lành, lòng bi mẫn đối
với người khác, bất kỳ khi nào
một vấn đề xuất hiện bạn cũng
kinh nghiệm nó vì người khác, nhân
danh chúng sinh khác. Nếu bạn kinh nghiệm
hạnh phúc, bạn kinh nghiệm nó cho
người khác. Nếu bạn vui hưởng
một đời sống xa hoa, bạn hồi
hướng nó cho người khác. Và
nếu bạn trải nghiệm một vấn đề,
bạn trải nghiệm nó cho người khác
– để người khác thoát khỏi
những vấn đề và có mọi hạnh
phúc cho tới sự Giác ngộ, sự an
bình và hỉ lạc hoàn toàn viên
mãn. Khi ước muốn những người
khác có mọi hạnh phúc, bạn kinh
nghiệm những vấn đề nhân danh họ.
Điều đó đem lại cho
bạn sự hài lòng và hoàn thành
thật phi thường, nhưng không chỉ có
thế. Nếu bạn có thái độ
đó, cho dù bạn trải nghiệm bao nhiêu
vấn đề chăng nữa, khi bạn gặp mỗi
vấn đề bạn có cảm tưởng như
bạn đã khám phá một kho tàng
quý báu. Bạn coi nó như một cơ
hội phi thường để hồi hướng
bản thân bạn cho người khác; một
dịp may to lớn để trải nghiệm những
đau khổ của người khác, giống như
chư vị Bồ Tát thực hiện, giống
như Đức Phật đã làm, giống
như Đức Jesus Christ đã làm để
nhận vào mình những đau khổ của
người khác.
Mặc dù những người khác
có thể thấy vấn đề đó
không thể chịu đựng nổi, nhưng
đối với bạn, là người có
thái độ này, thì nó không
là một điều thật phiền nhiễu,
bạn không thấy nó đặc biệt khó
khăn, hầu như bạn rất thoải mái
về điều đó – do bởi trái tim
tốt lành và thái độ thuần
tịnh của bạn đối với cuộc
đời. Điều này làm cho toàn bộ
cuộc đời của bạn trở nên thật
thoải mái, thật hạnh phúc.
Trái tim bạn không trống rỗng,
không rỗng tuếch, nhưng tràn ngập sự
hài lòng, đầy ắp niềm vui. Theo
cách này, cho dù bạn gặp nhiều
khó khăn nhưng bạn sống cuộc đời
bạn với niềm vui. Bạn vui hưởng những
vấn đề; thậm chí bạn vui hưởng
cái chết của bạn. Cho dù điều
gì xảy ra thì bạn cũng vui hưởng
nó với Bồ Đề tâm, tư tưởng
thương yêu người khác. Những gì
mà người bình thường có thể
thấy là không đáng ao ước thì
người có trái tim tốt lành, có
thái độ yêu thương người
khác lại thấy là đáng ao ước
bởi người ấy có thể làm cho
những vấn đề trở nên lợi lạc cho
người khác. Người có trái tim
tốt lành, có tâm bi mẫn, tư
tưởng thương yêu người khác,
thái độ Bồ Đề tâm, sẽ làm
cho vấn đề trở nên hữu ích, lợi
lạc cho người khác. Theo cách này, kinh
nghiệm về những vấn đề của
người này trở thành một nguyên
nhân của hạnh phúc của tất cả
chúng sinh – không chỉ hạnh phúc
nhất thời mà là hạnh phúc của
sự Giác ngộ viên mãn, tối
thượng. Bồ Đề tâm làm cho kinh
nghiệm về những vấn đề của
người ấy trở thành một nguyên nhân
cho hạnh phúc của mọi sinh loài. Làm cách
nào? Bằng cách chuyển hóa những
vấn đề thành con đường dẫn
tới Giác ngộ.
NÓI THÊM VỀ GEN JAMPA WANGDU
Xin nhớ lại câu chuyện tôi
đã kể một buổi tối trước
đây về Gen Jampa Wangdu, một trong những
Thiền giả Tây Tạng cao cấp ở Ấn
Độ, người đã thiền định
quanh Dharamsala và Dalhousie và được Lạt
Ma khổ hạnh Dewo Gyupe Rinpoche dẫn dắt. Sau khi
hoàn tất mọi việc nghiên cứu Kinh
điển triết học và sau đó hoàn
tất việc nghiên cứu tantra, trải qua mọi
kỳ thi và trở thành một geshe lharampa,
một geshe thuộc đẳng cấp cao nhất, Gen Jampa
Wangdu đi vào sự cô tịch trong những
rặng núi để thể nhập con
đường mà ngài đã nghiên cứu
trong tu viện từ khi còn trẻ trong rất
nhiều năm. Ngài là một yogi chứng
ngộ và một Bồ Tát đã thành
tựu con đường tantra cao cấp nhất, là con
đường có năm giai đoạn – sự
cô lập của thân, sự cô lập của
ngữ, sự cô lập của ý, tịnh quang
và huyễn thân, và sự hợp nhất.
Vì thế ngài đã đạt
được những cấp bậc cao nhất của
tantra và thành tựu huyễn thân.
Sau Lễ Kỷ niệm Giáo Pháp
lần thứ nhất [ Lễ Kỷ niệm Kinh nghiệm
Giác ngộ], nhiều thành viên trong Tăng
Đoàn của chúng tôi nhận từ
ngài giáo lý về cách thực hiện nhập
thất “viên thuốc” – “Nhận
lãnh Tinh túy” [chu-len], một phương
pháp để có thể nhập thất ở
những nơi hết sức biệt lập, cách xa
mọi sự, nơi khó tìm được
thực phẩm và nước uống. Thay vì
sống bằng thực phẩm bình thường,
bạn sống bằng những viên thuốc
được đặc biệt ban phước,
chúng giúp cho bạn có thêm thời gian
để thực hành thiền định và
làm tâm bạn trong trẻo và là một
phương pháp dễ dàng để thành
tựu sự tập trung toàn hảo của shamatha
(thiền chỉ, thiền định tĩnh lặng). Gen
Jampa Wangdu là một trong những guru của tôi
và tôi đã nhận dòng truyền
giáo lý chu-len từ ngài.
Có lần tôi đang ở Dharamsala,
trú ngụ tại nhà của Geshe Rabten Rinpoche, nó
ở phía dưới căn nhà của His Holiness
Ling Rinpoche, Thầy Phụ giáo chính của
Đức Đạt Lai Lạt Ma. Geshe Rabten Rinpoche là
vị Thầy đầu tiên của tôi dạy
về những bản văn triết học, những
bản văn tranh luận, du-ra, ngài là
người đã khiến cho tôi nói về
những đề tài này. Nhà của
những Lạt Ma này ở gần trung tâm Tushita
của chúng tôi. Một đêm Gen Jampa Wangdu
về muộn sau những khoá giảng và
nhận ra rằng căn nhà của ngài
đã bị mất trộm. Dĩ nhiện là
khó có gì đáng giá để lấy,
nhưng ngài nhận ra rằng kẻ trộm
đã lấy mất chiếc đồng hồ
của ngài. Mất đúng cái đó!
Nhưng ngài rất sung sướng vì kẻ
trộm đã kiếm được một chiếc
đồng hồ; ngài rất sung sướng!
SERKONG DORJE CHANG
Có một câu chuyện tương
tự về Serkong Dorje Chang sống ở
Thông thường thì tâm tôi
đầy sự hoài nghi và mê tín,
nhưng cứ mỗi lần tôi đi thăm ngài
thì tôi không nghi ngờ gì rằng khi
ở trước mặt ngài, tôi đang ở
trước sự hiện diện của Yamantaka.
Không có một do dự nào rằng Serkong Dorje
Rinpoche là Yamantaka, một hiện thể giác
ngộ, phương diện phẫn nộ nhất của
Đức Manjushri (Văn Thù), vị Phật của
trí tuệ. Tôi luôn luôn tin chắc một
trăm phần trăm rằng ngài là Yamantaka.
Serkong Dorje Chang hoàn toàn giống
như những yogi Ấn Độ cổ xưa như
Tilopa và Naropa, các bậc tiền bối của
dòng truyền thừa được tiếp nối
bởi Marpa và Milarepa, nhưng sống trong thời
hiện đại. Thực sự thì có một
hôm chính ngài đã nói với
một vị sư rằng ngài là hiện
thân của Marpa. Đôi khi ngẫu nhiên xảy
ra những điều như thế. Vào một
ngày tốt lành – tôi không muốn
nói về thời tiết – khi đúng
thời, Rinpoche sẽ nói một vài điều
thú vị. Vào cuối khoá nhập hạ
hàng năm của các tu sĩ – yar-ne - là
một phần của thực hành vinaya (Luật)
truyền thống - các tu sĩ trong tu viện của
ngài ưa thích gag-ye, sự xả thất.
Vào dịp đó thường có một
cuộc dã ngoại, ở đó Rinpoche sẽ
kể cho các tu sĩ nhiều câu chuyện
thú vị.
Thỉnh thoảng Rinpoche và một
vài tu sĩ đi dự các lễ puja (1) tại
nhà của những thí chủ ở
Serkong
Tsenshab Rinpoche, người sống ở Dharamsala và
là một trong những guru của Đức
Đạt Lai Lạt Ma – ngài đã ban cho
Đạt Lai Lạt Ma một luận giảng về
tác phẩm Ngọn Đèn trên Con
Đường Đi tới Giác ngộ của Atisha
cũng như một vài giáo lý khác
– cũng là một trong những guru của
tôi và tốt lành một cách khác
thường đối với tôi. Mặc dù
về phần tôi, tôi rất lười và
thiếu năng lực, còn Rinpoche thì luôn
luôn giảng dạy cho tôi bất kỳ
điều gì tôi thỉnh cầu. Ngài
luôn luôn chăm sóc tôi, dẫn dắt
tôi và thực sự rất tử tế.
Thân phụ của Serkong Tsenshab Rinpoche
là Serkong Dorje Chang, người đã sống
ở Tây Tạng – là người sau khi
trở thành một geshe lharampa đã đạt
được những cấp độ tantra cao cấp
nhất và đã thực hành với một
phối ngẫu trí tuệ. Serkong Tsenshab Rinpoche là
con trai ông, và sau này khi Serkong Dorje Chang tái
sinh, Serkong Tsenshab Rinpoche trở thành Thầy của
Hóa Thân này, Thầy của Hoá Thân
của thân phụ ngài. Serkong Dorje Chang cũng
nói với vị tu sĩ ở Sera-je rằng Serkong
Tsenshab Rinpoche là Tarma Dode, con trai của Marpa, và
Lạt ma Hoá Thân khác, Tsechog Ling Rinpoche,
là Milarepa. Vì thế, Serkong Dorje Chang nói:
“Thực ra, chúng ta giống những vị
này.”
Ngài Serkong Tsenshab Rinpoche thường
nói: “Ồ, Serkong Dorje Chang – những yogi
ngày xưa đó đại loại là
như thế.”
Ngài không nhiều lời, không
kể lại bất kỳ câu chuyện nào,
mà hầu như chỉ mô tả như thế.
Có một lần Serkong Dorje Chang đang du hành
tới Bodh Gaya – có lẽ đi hành
hương hay đi nhận Giáo pháp của
Đức Đạt Lai Lạt ma – và những
chiếc y tu sĩ của ngài, những chiếc y
vàng cần phải có, đã bị bỏ
quên trên một chiếc tắc xi tại Patna. Sau
đó, khi vị thị giả nói với Rinpoche
rằng chúng đã thất lạc, đã
bị lấy mất, thì ngài nói:
“Ồ, thật là tốt,” có nghĩa
là ngài sung sướng vì những kẻ cắp
có thể nhận được một vài
ích lợi từ những chiếc y đó,
và chúng bị đánh cắp thì cũng
đáng.
Mặc dù tôi chưa bao giờ
nhận được từ Serkong Dorje Chang những
sự nhập môn hay truyền khẩu các bản
văn từ đầu tới cuối, nhưng tôi coi
ngài như một trong những guru của tôi.
Về cơ bản thì ngài là như thế.
Khi Lạt ma Yeshe và tôi tới
Các tu sĩ thắng thế và
Serkong Dorje Chang được mời tới để ban
lễ truyền tám giới luật Đại
thừa vào sáng sớm. Rinpoche tới đó
mang theo bản văn giới luật. Ngài mở
sách ra và nói: “Nếu guru của các
bạn bảo các bạn liếm phân còn
nóng hổi, hãy cúi xuống đất
lập tức và liếm nó!” Rồi với
cái lưỡi thè ra và tạo nên âm
thanh nhóp nhép, ngài bắt chước một
con chó liếm phân. “Đó là
cách thực hành Pháp,” ngài nói.
Rồi ngài bước ra. Đó là
động lực của ngài để nhận
những giới luật. Nhưng ngài không
thực sự ban chúng – ngài chỉ ban
lời khuyên đó rồi ra đi. Nó
giống như một trận nổ nguyên tử
– một giáo lý hết sức mãnh
liệt.
Nó thực sự làm rung
động tâm thức. Ngay trên căn bản
của giáo huấn đó mà tôi coi
ngài như một guru. Đó là tất
cả những gì ngài giảng vào buổi
sáng hôm đó. Nhưng ngài là
người thấu hiểu mọi sự; một yogi
vĩ đại, như Serkong Tsenshab Rinpoche đã
nói.
Serkong Dorje Chang thường đi nhiễu
quanh đại tháp tôn quý tại Swayambhunath,
thánh tích chính yếu, nguyên thủy
ở
Đối với những người
không biết ngài là ai hay không hiểu
những phẩm tính mà ngài hiện thân,
ngài xuất hiện như một tu sĩ rất
đơn giản. Họ cho rằng ngài không
biết gì hết – một tu sĩ đơn
sơ, xâu chuỗi trong tay, đi nhiễu quanh
tháp. Đó là cách ngài xuất
hiện đối với những người bình
thường. Ngài có thể xuất hiện
giống như ngài không biết gì hết,
nhưng thực ra ngài hiểu mọi sự.
Đôi khi ngài đi nhiễu
cùng với mọi người và nếu
đúng thời, nếu đó là ngày may
mắn của họ thì ngài thình lình
biến thành một người lạ và
nói: “Anh không còn sống lâu nữa
đâu,” hay “Anh sắp chết trong vòng một
tháng”; “Cách tốt nhất là lễ
lạy Ba Mươi Lăm Vị Phật.” Đại
loại như thế. Rinpoche sẽ tiên tri và
khuyên người ta phải làm những gì.
Nhưng nếu không đúng lúc, nếu
không phải là ngày may mắn của bạn
thì cho dù bạn có hỏi thẳng ngài điều
gì đó, ngài sẽ nói: “Ồ,
tôi không biết gì hết. Tôi hoàn
toàn ngu dốt.”
Lần đầu tiên tôi nghe
nói tới Serkong Dorje Chang là khi tôi ở Buxa
– những câu chuyện về việc ngài
thình lình biến mất và lại xuất
hiện ở nơi khác và những thị
giả của ngài phải đi tìm ngài;
nhiều câu chuyện như thế. Vì thế,
ngay khi tới
Đệ tử Tây phương
đầu tiên của chúng tôi, người
đã được thọ giới làm ni
cô, Công chúa Zina Rachevsky – xuất thân
từ giai cấp quý tộc Nga – cùng sống
với chúng tôi vào lúc đó. Serkong
Dorje Chang có một chồng lớn các bản
văn bên cạnh giường, vì thế cô
buột miệng: “Xin đọc cho chúng con
điều nào đó trong này.” Thông
thường thì bạn không yêu cầu như
thế! Thật ra, thường thì khi chúng
tôi đưa cô tới gặp những Lạt ma
cao cấp, chúng tôi giúp cô chuẩn bị
những vấn đề về Pháp mà cô
sẽ hỏi. Dù thế nào đi nữa thì
đó là điều cô ta đã nói
và Serkong Dorje Chang trả lời: “Không,
không, không, tôi không biết gì hết,
tôi không biết gì hết.” Nhưng sau
đó Rinpoche ban một vài giáo lý
sâu xa không thể tin nổi. Tôi không
thể nhớ chúng là gì! Tôi không
thể nhớ được! Nhưng chúng sâu xa
thật khó tin; thực sự sâu xa.
Tất cả những gì tôi có
thể nhớ là tinh túy của nó:
“Nếu guru của bạn ngồi đó trên
sàn nhà, bạn phải nghĩ rằng đó
là Đức Phật Guru Thích Ca Mâu Ni đang
an tọa ở đó.” Tôi không thể
nhớ chính xác những ngôn từ, chúng
nhiều hơn thế, nhưng đó là tinh
túy của lời khuyên của Rinpoche dành cho
cô.
Một trong những người hộ
trì cho Rinpoche là một người Tây
Tạng xứ Amdo. Ông là tín chủ lớn
nhất của tu viện. Mỗi năm ông mời
Rinpoche và các tu sĩ của ngài tới
nhà ông để tụng 100.000 ngàn lần
những Lời Tán thán Hai mươi mốt Tara
và dù thế nào chăng nữa thì
họ cũng ở đó nhiều tuần để
thực hiện công việc đó. Serkong Dorje Chang
ở đó trong suốt thời gian này.
Vị thí chủ quan trọng này
đã xây tất cả những gian phòng
của các tu sĩ tại tu viện; một
điều thật ý nghĩa. Một hôm ông
tới tu viện thăm Rinpoche và Rinpoche nói:
“Và ông là ai?” khi giả vờ
không biết ông ta. Khi ấy thị giả của
Rinpoche giải thích ông ta là ai, nhưng Rinpoche
vẫn không lộ bất kỳ dấu hiệu nào
là nhận ra được ông ta. Người
đàn ông này là một đại
thương gia và thường buôn bán
các tượng Phật để nuôi gia
đình.
Hẳn là ông ta đã làm
điều gì đó thực sự tiêu
cực ngay trước khi tới thăm Rinpoche, vì
thế có lẽ là một biểu hiện
của sự che chướng đó, Rinpoche
đã lộ ra vẻ không biết ông là
ai. Không có cách nào khiến ngài
có thể quên ông ta.
Tu viện thường có một
cái bình rất lớn để pha chế
trà và thực phẩm cho tất cả các tu
sĩ. Một hôm nó bị đánh cắp,
nhưng khi các tu sĩ nói với Rinpoche về
điều đó thì ngài nói: “Hãy
mời những kẻ cắp tới đây và
tặng cho họ một khatag (khăn choàng)
để cảm ơn việc họ đã lấy
cái bình đó.” Nhưng tôi không
chắc là tu viện có hoàn thành
điều đó hay không!
Có lần Bồ Tát Togme Zangpo,
tác giả của Ba Mươi Bảy Thực
Hành của các Bồ Tát được mời
tới một tu viện để ban những giáo
lý và dự một lễ puja, và nhận
nhiều vật cúng dường. Không lâu sau
khi rời tu viện ngài và đoàn
người của ngài bị những tên
cướp chặn đường, chúng trói
họ lại và lấy đi tất cả những
vật cúng dường. Tôi không rõ
chúng có đánh họ hay không, nhưng
chắc chắn là chúng cướp đi mọi
thứ. Trước khi bọn cướp bỏ đi,
Bồ Tát Togme Zangpo yêu cầu chúng
đợi một lát để ngài có
thể hồi hướng cho chúng mọi thứ
chúng đã lấy. Dĩ nhiên là
chúng đã lấy mọi vật chất,
nhưng ngài nhất định yêu cầu
được cầu nguyện cho sự an lành
của chúng. Sau đó ngài khuyên
chúng tránh tới gần tu viện khi chúng ra
đi, nếu không các tu sĩ nhận ra là
chúng đã cướp những vật cúng
dường và sẽ đánh đập
chúng!
NĂNG LỰC CHỮA LÀNH CỦA LÒNG
BI MẪN
Sự kết luận của tất cả những
điều này thì như tôi đã
đề cập ở trên. Lòng bi mẫn
đối với chúng sinh là phương
pháp tối hảo, cách đối trị
tuyệt vời nhất để tẩy trừ những
chướng ngại của cuộc đời; lễ puja
tuyệt hảo để tiệt trừ những
chướng ngại cho sự thành công của
cả việc thực hành Pháp, sự chứng
ngộ lẫn những công việc thế gian,
chẳng hạn như những công việc kinh doanh
của bạn.
Có lần ở Tây Tạng có
một gia đình rất giàu có, cô con
gái của họ bị những tinh linh ám
nhập. Cô ta hoàn toàn trở nên
điên loạn. Gia đình cô đã
thỉnh mời nhiều Lạt Ma địa phương
là những vị thường cử hành
những lễ puja và cầu nguyện cho dân
chúng trong vùng đó, nhưng không
giúp được gì. Một hôm có
một nhà sư bình thường đi khất
thực ngang qua đó, vì thế gia đình cô
mời nhà sư lên lầu để xem ông
có thể giúp được gì cho cô con
gái của họ không. Có lẽ nhà
sư là một geshe, tôi không biết rõ
nhưng dù sao thì ông đã cố
gắng cử hành nghi lễ Mật thừa geg-tor
– ban torma (3) cho nhưng người ám nhập,
giống như khi chúng ta dâng cúng ba torma
vào lúc bắt đầu các lễ nhập
môn. Nhưng trong khi ông tụng thần chú NAMO
SARVA TATHAGATA BEU MEGA… SOHA, nâng torma cúng cho
những tinh linh ám nhập thì cô gái
bắt chước những hành động của
ông và cũng lập lại thần chú
đó. Vì thế nhà sư biết rằng
việc này không ích lợi. Ông ngưng
cử hành nghi lễ và thay vào đó
trùm lên đầu chiếc zen (khăn của tu
sĩ) và thiền định về lòng bi
mẫn đối với nỗi khổ của tinh linh
và của cô gái. Khi đó tinh linh
nói với nhà sư qua thân cô gái:
“Xin để cho tôi đi. Tôi sẽ ra
khỏi cô ta,” và cô gái hết bị
ám. Cô gái hoàn toàn điên
dại bởi sự ám nhập của tinh linh
cuối cùng đã được cứu
thoát nhờ lòng bi mẫn. Đó là
điều duy nhất có thể chữa lành cho
cô gái. Đây chỉ là một ví
dụ của việc làm thế nào lòng bi mẫn
trở thành một trong những phương pháp
tối hảo, mạnh mẽ nhất trong việc giải
trừ những chướng ngại.
Phương thuốc bi mẫn cũng
là liều thuốc tốt nhất để chữa
lành bệnh, cách đối trị tốt
nhất đối với các bệnh tật. Có
nhiều câu chuyện về những người
đã khỏi bệnh bằng thực hành bi
mẫn của pháp tonglen, là phương pháp
chữa bệnh cho bản thân mình bằng
cách nhận lấy nỗi khổ của người
khác. Có một đệ tử ở
Anh ta đã thực hành trong bốn
ngày và khi tới bệnh viện để
kiểm tra, các bác sĩ đã không
tìm thấy dấu vết của bệnh AIDS. Khi nghe
nói về điều này tôi nghĩ rằng
chắc hẳn anh đã phải thiền định
nhiều giờ trong bốn ngày đó, vì
thế tôi đã hỏi anh đã thực
hành bao nhiêu lâu. Anh nói: “Năm
phút mỗi ngày.”
Năm phút một ngày! Có
thể xảy ra một chuyện như thế? Trong khi anh
ta thiền định, anh cảm thấy một lòng
bi mẫn không thể chịu đựng nổi
đối với tất cả những người
đang đau khổ vì bệnh tật, đặc
biệt là bệnh AIDS, và cảm thấy
không còn quan tâm gì tới những vấn
đề của riêng mình nữa. Anh ta cảm
thấy một lòng bi mẫn không thể tin
nổi, anh không thể chịu đựng nổi
nỗi khổ của bệnh AIDS mà những
người khác đang phải trải nghiệm.
Trong năm phút đó những giọt
nước mắt bi mẫn lăn trên má anh.
Vì thế mặc dù mỗi ngày anh chỉ thực
hành năm phút, nhưng anh đã thực
hành rất, rất mãnh liệt. Lòng bi
mẫn mà anh phát triển thì hết sức
mạnh mẽ, và lòng bi mẫn mạnh mẽ
đó chỉ trong bốn ngày, mỗi ngày
năm phút, thực hành Bồ Đề tâm
đặc biệt nhận vào mình nỗi khổ
của chúng sinh và hiến tặng họ hạnh
phúc và công đức của riêng
mình và v.v.. đã đủ để
chiến thắng bệnh AIDS của anh.
Lòng bi mẫn chữa lành bệnh
tật ra sao? Nó hoạt động thế nào?
Những bệnh tật xuất phát từ nghiệp
tiêu cực – những hành vi bất thiện,
những hành động được thực hiện
với sự tham luyến, với một tâm thức
bất tịnh – và lòng bi mẫn, Bồ
Đề tâm, tâm vị tha thương yêu
người khác và tìm kiếm sự
Giác ngộ, là phương tiện tịnh
hóa hữu hiệu nhất đối với
nghiệp tiêu cực, chẳng hạn như những
nghiệp gây nên các bệnh tật.
Như Shantideva đã nói trong
chương giảng về những lợi ích
của Bồ Đề tâm trong quyển Bodhicharyavatara
(Hướng dẫn vào Bồ Tát Hạnh) –
và tôi sẽ dịch nó hơi thoáng
một chút để ý nghĩa của bài
kệ trở nên rõ ràng – “Nhờ
nương tựa vào một vị anh hùng
bạn tự giải thoát mình khỏi mối
nguy hiểm lớn lao.” [Chương 1, câu kệ
13.] Nó có nghĩa là, chẳng hạn như
nếu bạn sắp bị hành hình hay có
một sự nguy hiểm nào đó cho cuộc
đời bạn, thì đôi khi cách duy
nhất mà bạn có thể tự giải
thoát mình là nương tựa vào
một người hết sức mạnh mẽ. Mối
hiểm nguy mà chúng ta đối mặt là
nghiệp tiêu cực mạnh mẽ, hầu như
vô tận, nặng nề như một trái
núi, mà chúng ta từng tạo ra trong
đời này và đã tích tập
suốt hàng trăm ngàn - thực ra là từ
vô thủy - những đời trước. Vị anh
hùng có thể cứu thoát ta là Bồ
Đề tâm mà sự thực hành nó
có thể tịnh hóa những ngọn núi
nghiệp nặng nề, mạnh mẽ này chỉ
trong chốc lát.
Nhờ nương tựa tâm anh
hùng của Bồ Đề tâm, thái
độ từ bỏ cái tôi và yêu
mến người khác, chúng ta có thể
tịnh hóa nghiệp tiêu cực nặng nề
này trong thời gian của một cái búng
ngón tay.
Shatideva nói tiếp: “Vì thế,
tại sao những người tận tâm không
nương tựa vào điều này?”
Nói cách khác, ngài nói rằng nếu
bạn là một người cẩn trọng, vì
sao bạn không thực hành Bồ Đề
tâm? Bồ Đề tâm có năng lực
tịnh hóa phi thường như thế; nếu
bạn là người thông tuệ, cẩn
trọng, tận tâm, tỉnh giác thì tại
sao bạn không thực hành Bồ Đề
tâm? Lòng bi mẫn là tâm tích cực,
mãnh liệt tới nỗi khi người đàn
ông ở
Vì thế, lòng bi mẫn không
chỉ là puja tuyệt hảo, giống như câu
chuyện của cô gái bị tinh linh ám
nhập, không chỉ là phương pháp
tốt nhất để giải trừ những
chướng ngại của cuộc đời, mà
nó còn là phương thuốc tuyệt
vời, siêu việt để chữa lành
bệnh tật. Với tâm của riêng bạn,
đâu là cách tốt nhất để
chiến thắng bệnh ung thư hay mọi bệnh
tật nhờ việc thiền định? Đó
là nhờ phát triển lòng bi mẫn, nhờ
phát sinh lòng bi mẫn vì nỗi đau
khổ của những người khác.
Bất kỳ khi nào bạn kinh
nghiệm sự đau đớn trong mắt bạn hay
một nơi nào khác trong thân thể, ngay khi
nó bắt đầu, phương thức chữa
trị tức thời là sự thực hành
thiền định Bồ Đề tâm đặc
biệt, nhận vào bản thân bạn nỗi
khổ của chúng sinh và hiến tặng họ
mọi hạnh phúc, công đức, thân
thể và của cải của bạn. Với
lòng bi mẫn hãy nhận vào bạn nỗi
khổ của họ và với lòng từ ái
hãy hiến tặng những người khác
hạnh phúc, công đức, thân thể,
của cải và v.v.. Ngay khi nỗi khổ bắt đầu,
dù đau đớn tới đâu, cách
chữa trị tức thời, cách đối trị
lập tức, phương pháp tuyệt hảo,
mạnh mẽ nhất để xử sự với
nó là tonglen, sự nhận và cho, thực
hành đặc biệt của Bồ Đề
tâm. Mặc dù thường thì tôi rất
lười thực hành Pháp, nhưng nhờ
thiện tâm của nỗi đau đớn tôi
đã nhớ tới việc thực hành.
Thiền định này hữu hiệu
tới nỗi ngay cả trước khi bạn bắt
đầu thực hành thực sự, giây
phút bạn bắt đầu chuẩn bị tâm
bạn để nhận nỗi khổ của
người khác thì sự đau đớn
đã ngừng lại. Điều này cho thấy
rằng ngay cả niệm tưởng yếu ớt
nhất của việc hoán đổi bản thân
bạn với người khác, chỉ nghĩ tới
việc nhận nỗi khổ của người
khác, chỉ chuẩn bị tâm bạn để
làm điều đó thì cũng đã
đủ làm ngừng lại nỗi đau
đớn. Vì thế, nếu một hôm bạn
đi bác sĩ và thình lình ông ta
nói: “Ồ, bạn bị ung thư,” hay
đại loại như thế, hoặc bạn bắt
đầu bị một sự đau đớn, thì
điều tôi khuyên bạn làm là
hãy lập tức bắt đầu thiền
định về Bồ Đề tâm. Đó
là phương thuốc tức thì mà bạn
nên dùng.
Một lần kia, đại yogi Ngagpa Chopawa
đang ở trên đường đi Odi để
thực hành những giai đoạn cuối cùng
của tantra. Trên con đường cạnh con
sông ngài nhìn thấy một người
đàn bà cùi bẩn thỉu trông
thật gớm ghiếc, toàn thân đầy
những vết thương tươm mủ. Bà ta
yêu cầu ngài đưa bà sang bờ
sông bên kia, nhưng ngài phớt lờ và
tiếp tục đi. Một lát sau, đệ tử
của ngài là nhà sư Getsun Tsimbulwa đi
tới và người đàn bà yêu
cầu ông đưa bà qua sông. Ngay khi ông
nhìn thấy người đàn bà cùi,
ông cảm thấy một lòng bi mẫn không
thể chịu đựng nổi và không
chút do dự ông để bà ta trên lưng
rồi bắt đầu qua sông. Ngay giữa dòng,
hình tướng của người đàn
bà bệnh tật hoàn toàn biến thành
bậc giác ngộ, nữ Bổn Tôn Dorje Pagmo,
Vajrayogini, ngài đưa nhà sư tới cõi
tịnh độ của ngài, ở đó
nhà sư chắc chắn được giác
ngộ.
Điều gì đã xảy ra khi
lúc đầu bà ta xuất hiện là
một người đàn bà tầm
thường, đầy bệnh tật, không thể
chạm tới và sau đó xuất hiện trong
dáng vẻ thanh tịnh của Bổn Tôn? Lúc
đầu, tâm nhà sư bị nghiệp tiêu
cực ngăn che, bởi tâm bất tịnh
đó ông thấy bà ta chỉ là một
người đàn bà bình thường
đang đau khổ và không phải là
một bậc giác ngộ. Nhưng bởi ông
cảm thấy một lòng bi mẫn không thể
chịu đựng nổi nỗi đau khổ của
bà và hoàn toàn từ bỏ bản
thân để phụng sự bà ta nên
toàn bộ nghiệp tiêu cực nặng nề
của ông được tịnh hóa ngay khi ở
giữa dòng sông. Khi ấy cái nhìn
của ông về người đàn bà
hoàn toàn thay đổi và ông thấy
bà là một bậc giác ngộ. Cái
thấy của ông trở nên hoàn toàn
thuần tịnh, và bà đưa ông tới
cõi tịnh độ, ở đó bản
thân ông đạt được giác ngộ.
Như thế, bạn có thể thấy lòng bi
mẫn để tịnh hóa nghiệp tiêu
cực, tịnh hóa tâm thức thì mãnh
liệt ra sao.
Tôi nghĩ rằng tôi sẽ
ngừng lại ở đây. Bây giờ thì
không có lý do gì để tiếp tục
nữa. Có lẽ chúng ta có thể tiếp
tục vào ngày mai, nếu có ngày mai.
Dù thế nào đi nữa, tôi sẽ tiếp
tục chủ đề trên vào ngày mai,
nhưng bây giờ, để kết luận, tôi
muốn nói về mục đích của việc
nhập thất này.
TẠI SAO CHÚNG TA THỰC HIỆN CUỘC
NHẬP THẤT NÀY?
Chúng ta đang nhập thất
để phát triển lòng bi mẫn. Mục
đích của việc thực hiện khóa
nhập thất này là làm cho cuộc
đời chúng ta thêm ích lợi, thêm hữu
ích cho người khác. Bằng cách nào?
Bằng cách phát triển trái tim tốt
lành. Lý do chính của việc thực
hiện khoá nhập thất Vajrasattva là
để phát triển lòng bi mẫn, để
chứng ngộ Bồ Đề tâm, cội gốc
của con đường dẫn tới Giác ngộ,
cánh cửa của con đường Đại
thừa dẫn tới Giác ngộ.
Cho dù chúng ta đang tụng một
chuỗi OM MANI PADME HUM, thì điều đó
là vì Bồ Đề tâm, để chứng
ngộ Bồ Đề tâm, để phát
triển lòng bi mẫn. Đó là lý do
khiến chúng ta trì tụng. Bất kỳ
loại thực hành nào khác mà ta làm
– lễ lạy, cúng dường Phật,
Pháp và Tăng hay cúng dường các pho
tượng, stupa (tháp) và Kinh điển hay
tạo lập những công trình linh thánh –
chúng ta đang làm điều ấy để
phát triển lòng bi mẫn, để chứng
ngộ Bồ Đề tâm, để có thể
làm lợi lạc chúng sinh.
Mọi thực hành chúng ta làm
– quy y, tụng bài nguyện quy y – trọng
tâm của mọi thực hành của chúng ta
đều nhằm tới điều đó. Cho
dù chúng ta thực hành tối thiểu
là tụng một chuỗi OM MANI PADME HUM hay nhập
thất ba năm hoặc nghiên cứu triết học
Phật Pháp trong nhiều năm, tất cả là
để phát triển lòng bi mẫn, để
đạt được sự chứng nộ,
đặc biệt là chứng ngộ Bồ
Đề tâm. Vì thế, mỗi điều duy
nhất chúng ta làm là để chúng ta
ngừng làm hại người khác và
làm lợi lạc cho họ. Mục đích
chính của sự thực hành của chúng
ta là như thế. Nếu ta không ngừng
làm hại người khác thì ta không
thể làm lợi lạc cho họ.
Nếu bạn thực hiện rất
nhiều cuộc nhập thất, rất nhiều sadhana,
tụng nhiều thần chú, nhưng nếu trong
đời sống hàng ngày có người
phê bình hay làm phiền bạn theo cách
nào đó và bạn lập tức trả đũa,
cố làm hại lại họ, thì điều
đó cho thấy sự thực hành chân
thực không xảy ra. Có thể có rất
nhiều sự trì tụng, rất nhiều lời
cầu nguyện, nhưng khi có việc phải xử
sự với những người khác, thì
thực hành đích thực, thực hành
thực sự – mà mục đích của
nó là sự phát triển tánh nhẫn
nhục, lòng khoan dung, bi mẫn và từ ái
– đã bị quên lãng. Điều
đó có nghĩa là bạn không hoàn
thành mục đích của mọi lời cầu
nguyện và sadhana, hay thậm chí mục
đích của một chuỗi OM MANI PADME HUM mà
bạn đã làm. Toàn bộ mục
đích của những thực hành đó
là để giúp bạn trong đời sống
hàng ngày khi bạn sống với người
khác – không làm hại mà làm
lợi ích cho họ. Bằng cách nào?
Bằng cách phát triển trong tâm bạn
lòng từ ái, bi mẫn và Bồ Đề
tâm; để phát triển tánh nhẫn
nại, lòng khoan dung và v.v..
Do đó, đặc biệt là khi
bạn đang lái xe hơi và có người
chặn bạn lại, quẹo cua trước mặt
bạn hay không tuân theo luật lệ, khi có
người lái xe khác bóp còi hay giận
dữ với bạn, thì thật tốt khi nghĩ:
“Nếu tôi nổi giận hay khó chịu,
thì đâu là hiệu quả của tất
cả thực hành mà tôi từng thực
hiện? Nếu tôi không thể thực hành
sự nhẫn nhục, thì tại sao tôi trì
tụng tất cả những thần chú này?
Mục đích của việc tôi gặp Phật
Pháp là gì? Tất cả những cuộc
nhập thất và trì tụng của tôi
để làm gì?” Rất ích lợi khi
nghĩ tưởng như thế. Nếu bạn không
chuyển hóa được tâm bạn, thực
hành của bạn không có ý nghĩa
gì hết. Nếu bạn suy nghĩ sâu xa về
nó, thì đây là cách bạn sẽ
cảm nhận.
Nếu bạn nghĩ: “Nếu tôi
không thực hành sự nhẫn nhục thì
tại sao tôi đang thực hành tất cả
những điều này? Nhằm mục đích
gì? Tôi từng thực hành cái gì
trong những năm qua? Mục đích của việc
trì tụng ngay cả một chuỗi OM MANI PADME HUM
là gì?” thì nó sẽ giúp bạn
làm an định tâm bạn, đặc biệt
là trong những trường hợp như thế.
Như vậy, khi bạn có thể nhớ lại
rằng tất cả những thực hành của
bạn chủ yếu là để bảo vệ
tâm bạn trong đời sống hàng ngày,
để điều phục tâm bạn khiến
bạn không làm hại mà chỉ làm
lợi ích người khác – khi bạn
có thể quán chiếu theo cách này
và thực hành lòng khoan dung trong một
tình huống mà thường thì bạn
nổi giận - khi thay vì giận dữ thì
bạn có thể khơi dậy lòng bi mẫn
mãnh liệt đối với những người
khác, thì đó quả là một
ngày trọng đại.
Ngày mà bạn có thể
cảm nhận lòng bi mẫn thay vì giận
dữ thực sự là sinh nhật của bạn
– sinh nhật vĩ đại của bạn
đối với sự giải thoát, Giác
ngộ, đối với việc làm lợi lạc
và không làm hại chúng sinh khác;
một ngày đáng được kỷ niệm
thật long trọng.
Chừng nào mà sự Giác
ngộ của bạn còn được quan tâm
thì những giây phút như thế là những
cơ hội rất quan trọng; những cơ hội
vô cùng quý giá để đối
diện với sự thách thức của việc
thực hành Pháp. Những cơ hội rất
quý báu.
Tương tự như thế, nếu
có người sỉ nhục bạn hay làm
điều gì mà bình thường thì
bạn thấy khó xử, không thể chịu
đựng nổi, làm cho bạn nổi giận
và khó chịu, và bạn có thể
khắc phục sự mê lầm sân hận của
bạn, bạn đã chiến thắng, bạn
đã đánh bại kẻ thù. Đứng
ở quan điểm của những người bình
thường trong đời sống thế tục thì
bạn nên giận dữ, bạn có quyền
được giận dữ. Giận dữ được
coi là tích cực. Cùng cách thế
đó, những người ấy nhìn sự
ích kỷ như cách thế đúng
đắn để sống, là điều bạn
phải làm.
Tuy nhiên, sự ích kỷ duy nhất
mà bạn nên tự cho phép mình là
sự ích kỷ của việc quan tâm tới
người khác, sự ích kỷ của việc
làm lợi ích cho người khác.
Đó là cách thế
đúng đắn để theo; đó là
sự ích kỷ tốt lành. Sự ích
kỷ cho bản thân bạn mở ra cánh cửa
dẫn tới mọi vấn đề; sự ích
kỷ cho người khác, sự quan tâm tới
người khác, mở ra cánh cửa dẫn tới
mọi hạnh phúc.
Cũng thế, nếu bạn có lòng
bi mẫn, một trái tim tốt lành, thì cho
dù bạn không có của cải ở bên
ngoài, cuộc đời bạn vẫn giàu
có; bạn thực sự là một người
giàu có. Cho dù bạn có bao nhiêu
của cải bên ngoài chăng nữa, nhưng
nếu trái tim bạn không chút thiện
tâm, nếu bạn không có một trái tim
nồng ấm, nếu không có lòng bi mẫn
đối với người khác, thì bạn
thật nghèo nàn; sự nghèo nàn nội
tâm khiến bạn trở thành một hành
khất đích thực.
Vì thế, dù bạn là tu
sĩ hay cư sĩ, đã thực hiện nhiều
cuộc nhập thất hay không, tìm
được nhiều thì giờ để
nghiên cứu Pháp hay không, thì cách
thức tối quan trọng để sống cuộc
đời bạn là sống với lòng bi
mẫn. Sống với lòng bi mẫn là cốt
tủy đích thực của cuộc đời,
cuộc đời tuyệt hảo để sống,
điều quan trọng nhất bạn có thể
làm. Cho dù bạn có thể nghiên cứu
Pháp suốt cuộc đời bạn – mọi
Kinh điển, tantra, mọi sự – nếu trái
tim bạn rỗng tuếch giống như một
thùng hàng trống không, không có
những phẩm tính tốt lành, thì
toàn bộ cuộc đời bạn trống
rỗng. Mặc dù bạn có thể có
một sự hiểu biết bao la về Phật Pháp
và có thể thuyết giảng hay trì
tụng toàn bộ Kinh điển và tantra của
Đức Phật, nhưng nếu trái tim bạn
không có lòng bi mẫn thì cuộc
đời bạn không có ý nghĩa gì
hết.
Cho dù bạn nhập thất khóa
này qua khóa khác, sống trong hang động
không bước ra ngoài hay không gặp
người khác trong năm mươi, sáu
mươi, bảy mươi năm, cho dù
bạn trải cả đời trong ẩn thất,
nhưng nếu trái tim bạn không có sự
hài lòng xuất phát từ việc cắt
đứt niệm tưởng về tám pháp
thế gian, không có lòng bi mẫn đối
với người khác, thì cuộc đời
bạn thật vô nghĩa. Cho dù bạn tự
nhốt mình trong một hang động không
có cửa sổ hay cửa ra vào và tụng
thần chú trong năm mươi hay một trăm
năm, nhưng nếu trái tim bạn không có
lòng bi mẫn đối với người khác
thì cuộc đời bạn không có ý
nghĩa.
Chẳng hạn như nếu bạn
thực hành lễ lạy, thái độ của
bạn là lễ lạy vì người khác,
nếu trong trái tim bạn cảm nhận rằng
bạn đang lễ lạy vì chúng sinh trong
các địa ngục, vì các ngạ quỷ,
súc sinh, vì những người khác, vì
chư thiên và a tu la, nếu bạn cảm
nhận trong trái tim bạn rằng bạn đang
lễ lạy cho những người khác, thì cho
dù chỉ có ba lễ lạy, bạn cũng
cảm thấy sung sướng, hài lòng
đến nỗi hành động ấy thật
đáng giá. Mặc dù bạn chỉ thực
hiện được ba lễ lạy nhưng ít ra
chúng cũng được làm cho người
khác. Tâm bạn không có sự căng
thẳng; bạn cảm thấy tự do. Trong tim bạn,
bạn vui hưởng những điều đó;
thái độ của bạn thanh thản, an bình
và hạnh phúc. Nhưng nếu thái
độ của bạn là bạn đang thực
hành những lễ lạy này cho bạn –
để bạn không bị tái sinh trong
địa ngục, thì thái độ đó
thật không đáng hoan hỉ. Nếu bạn so
sánh nó với thái độ khác –
ngay cả ba lễ lạy vì người khác
– thì bạn không thực sự hạnh
phúc. Có một khác biệt to lớn trong
bản tánh của thái độ tinh thần
của bạn; bạn không hạnh phúc và
thanh thản như khi bạn lễ lạy vì
người khác.
Cũng có một khác biệt to
lớn trong khía cạnh động cơ. Khi bạn
hồi hướng mỗi lễ lạy cho người
khác, với mỗi lễ lạy bạn tích
tập công đức, thiện nghiệp, giống
như bầu trời bao la vô hạn. Khi thái
độ trong trái tim bạn là: “Tôi đang
thực hành điều này để không
bị sinh ra trong địa ngục, để tôi
không bị đau khổ trong những cõi
thấp,” thì mục đích của bạn
hết sức giới hạn, tầm thường.
Mục đích của bạn – để bản
thân bạn không bị sinh trong những cõi
thấp – thì quá nhỏ bé, quá
giới hạn, và vì thế những lợi
lạc của những lễ lạy bạn làm
cũng nhỏ bé, giới hạn một cách
tương ứng.
Vì thế, có một khác
biệt to lớn giữa hai thái độ
đó. Cho dù động lực của bạn
vẫn là Pháp – bởi bạn đang
làm việc cho hạnh phúc của đời sau
của bạn – sự khác biệt thật khổng
lồ. Nói cách khác, khi bạn tụng
một thần chú Vajrasattva hay một chuỗi OM MANI
PADME HUM, bạn nên cảm nhận trong trái tim
bạn rằng tất cả chúng là để
mang lại lợi lạc cho chúng sinh. Mục
đích đứng sau nó là như thế.
Theo cách đó, với Bồ Đề tâm
trong trái tim bạn, bạn cảm nhận rằng
mỗi thần chú Vajrasattva là vì những
người khác, thì mỗi thần chú
trở thành 100.000 thần chú Vajrasattva. Nếu
mỗi thần chú bạn tụng chỉ để
cho bản thân bạn thành tựu hạnh
phúc vĩnh cửu của sự giải thoát
khỏi sinh tử hay để có những đời
sau tốt đẹp hơn, hạnh phúc trong những
đời sau cho riêng mình bạn, thì
điều đó không mang lại cho bạn
công đức bao la như bầu trời. Bạn
thất bại về điều đó. Bởi
bạn không phát triển động lực
Bồ Đề tâm, bạn mất cơ hội trong
việc mỗi thần chú gấp bội lên
100.000 lần. Cho dù việc trì tụng của
bạn trở thành một Phật sự bởi
động lực của bạn là đức
hạnh – nghĩ tưởng rằng bản thân
bạn không đau khổ trong những cõi
thấp, làm việc vì hạnh phúc của
bạn trong những đời sau – cho dù bạn
tụng bao nhiêu thần chú Vajrasattva hay OM MANI PADME
HUM, khi bạn so sánh những lợi lạc của
chúng với những gì bạn thâu hoạch
được khi trì tụng các thần chú
với Bồ Đề tâm, thì những lợi
lạc ấy hầu như vô nghĩa, uổng
phí.
Mục đích của việc nhấn
mạnh vào động lực Bồ Đề
tâm vào lúc bắt đầu mỗi thời
khóa, thường xuyên lập lại nó,
là để nhắc nhở bạn phát triển
Bồ Đề tâm khiến bạn không làm
uổng phí những thần chú Vajrasattva mà
bạn trì tụng.
Điều đó cực kỳ quan
trọng. Nó không chỉ làm lợi lạc cho
người mới nhập thất nhờ chỉ rõ cho
họ cách thực hành thiền định,
việc thường xuyên lập lại cũng
giúp cho những người đã có mặt
ở đây từ lúc bắt đầu hiểu
rõ tầm quan trọng của động lực
Bồ Đề tâm và để nhớ phát
triển nó trong mỗi thời khóa.
Dĩ nhiên là vào lúc
này tâm tôi đã hoàn toàn sa
sút, nhưng trong quá khứ, nếu tôi
nhận ra là mình đã tụng một
chuỗi thần chú mà không có Bồ
Đề tâm, thì tôi cảm thấy mình
đã lãng phí toàn bộ các
chuỗi đã tụng và tôi sẽ lập
lại nó với động lực đúng
đắn.
Khi bạn có một thái độ
bi mẫn thì ngay lập tức bạn có sự
an bình và hạnh phúc trong đời bạn.
Bất luận bạn sống với ai bạn cũng
thấy hạnh phúc và thoải mái. Khi bạn
có lòng bi mẫn đối với người
khác thì bạn hạnh phúc khi sống
với bất kỳ ai. Cho dù bạn sống
đơn độc một mình thì bạn
cũng sung sướng. Nếu trong hiện tại bạn
có hạnh phúc và sự thoải mái
thì tâm thái này của bạn có
tương lai tốt đẹp nhất. Không chỉ
có thế, bạn cũng chết trong cách thế
tuyệt hảo. Nếu bạn chết với lòng bi
mẫn thì tâm bạn sẽ hạnh phúc
và an bình và bạn sẽ không chết
với sự ân hận hay tội lỗi. Cách
thức tuyệt hảo để chết là chết
với lòng bi mẫn đối với người
khác. Cũng thế, nếu bạn muốn tái
sinh trong một cõi tịnh độ, chết với
lòng bi mẫn là cách thức tốt nhất
để làm cho điều đó xảy ra. Nếu
bạn chết với lòng bi mẫn thì không
chỉ cái chết của bạn sẽ an bình
và hạnh phúc, mà bạn cũng sẽ
nhận được những tái sinh tốt
đẹp trong tất cả những đời sau
của bạn, giải thoát khỏi sinh tử và
đạt được sự Toàn Giác –
tất cả những phẩm tính tốt lành bao
la của thân, ngữ, tâm linh thánh của
Đức Phật sẽ là của bạn, và
bạn sẽ có thể làm giác ngộ
vô lượng chúng sinh.
Với
lòng bi mẫn, cả hiện tại lẫn
tương lai của bạn đều được
hạnh phúc./.
Lama Zopa Rinpoche
Nguyên tác: “Teachings from the Vajrasattva
Retreat” by Lama Zopa Rinpoche
http://www.lamayeshe.com/lamazopa/tvr/tvr_36shtml
Bản dịch Việt ngữ của Thanh
Liên
Chú thích:
(1)
Puja: Sự thiền định được
hát lên trong dân chúng Tây Tạng.
Một sự cầu khẩn với những vật
cúng dường theo nghi lễ.
(2)
Nyung-na: Một khóa nhập thất ăn chay
hai ngày dựa vào Đức Avalokiteshvara
(Quán Thế Âm). Thực hành mãnh liệt
này bao gồm việc trì giữ tám giới
luật Đại thừa, cũng như vào ngày
thứ hai bổ túc thêm những giới
nguyện không ăn, không uống hay không
nói trong hai mươi bốn giờ. Những thời
khóa thiền định gồm có những
sự tán thán, lễ lạy, và trì
tụng thần chú. Đây là một thực
hành tâm linh mãnh liệt để tịnh
hóa và tích tập năng lực tích
cực.
(3)
Torma: Bánh cúng dường theo nghi lễ
được làm bằng bột mì và
bơ và được nhào thành bột
dẻo.