BỒ ĐỀ TÂM LY
TƯỚNG LUẬN
Tác giả: Long-Thọ
Bồ-Tát
Hán dịch: Ngài Thí-Hộ
Việt dịch: Hòa-Thượng
Thích-Tâm-Châu
Source: Chùa Di Đà
Con
xin quy mệnh kính lễ hết thảy chư
Phật.
Nay con xin nói qua về nghĩa
“bồ-đề-tâm”.
Con cũng xin chí thành đỉnh lễ
bồ-đề-tâm.
Nghĩa của bồ-đề-tâm
cũng như một đạo quân dũng kiện,
cầm những đồ binh-khí tinh-nhuệ,
quyết đem lại thắng lợi trong cuộc
chiến. Chư Phật, Thế-Tôn cùng chư
Đại-bồ-tát, đều do nhân-duyên
phát tâm đại-bồ-đề mà
thành đạo-quả. Con nay cũng phát tâm
bồ-đề như thế.
Thực vậy, chư Phật từ khi
phát tâm cho đến khi ngồi trên
đạo-tràng bồ-đề, thành quả
chính-giác, đều do nơi tâm
bồ-đề kiên-cố của mình. Tâm
bồ-đề ấy, cũng là hành-môn
tổng-trì (2) của các Bồ-tát. Quán
tưởng như thế sẽ phát minh như
thế.
Nay tôi nói lời tán-thán
tâm bồ-đề ấy, là vì tất
cả chúng-sinh. Tôi mong chúng-sinh khỏi
bị sự đau khổ trong vòng luân-hồi
sinh-tử. Tôi mong tất cả chúng-sinh, nếu
ai chưa được độ sẽ được
độ, chưa giải-thoát sẽ được
giải-thoát, chưa an-ổn sẽ được
an-ổn, chưa chứng niết-bàn sẽ chứng
được niết-bàn. Vì muốn
thành-tựu viên-mãn thắng nguyện như
thế, vì muốn an lập thể-nhân (3)
chân-chính của tự-tướng, vì
muốn thể-nhập vào chân-thực-quán
của đệ-nhất-nghĩa, vì muốn
thể-nhập vào tự-tướng vô-sinh
của bồ-đề-tâm kia, nên nay tôi
viết ra luận này.
“Bồ-đề-tâm xa lìa
hết thảy tính”.
HỎI: “Tại sao lại nói
là Bồ-đề-tâm xa lìa hết thảy
tính?”
ĐÁP: “câu nói ấy
có nghĩa là, đối với năm uẩn,
mười hai xứ, mười tám giới,
chúng đều thuộc về pháp vô
ngã bình-đẳng, xa lìa thủ và
xả, tự-tâm của chúng bản-lai không
sinh, và tự-tính của chúng bản lai
vốn không. Như thế, tại sao trong đây
lại nói về ngã, uẩn, xứ, giới có
chỗ biểu lộ rõ ràng mà
phân-biệt được tâm hiện-tiện
vô thể? Do đó, nếu ai thường
giác liễu tâm bồ-đề, tức là
người ấy an-trụ vào không-tướng
của các pháp. Chỗ thường
giác-liễu tâm bồ-đề kia: dùng
bi-tâm quán, lấy đại-bi làm thể.
Bởi thế, trong các pháp như uẩn, xứ,
giới v.v..., không có ngã-tướng nào
có thể tìm được.
Các ngoại-đạo khởi ra
các hành-tướng phi-tướng-ứng,
chấp tướng phân-biệt, cho rằng các
uẩn là có, chẳng phải là pháp
vô thường. Nhưng, thực ra, chúng chẳng
phải thuộc về tướng ngã, pháp
mà có thể tìm được. Trong
tính chân-thực, sự nhậm-trì của
các pháp, không thể chấp là
“thường” cũng chẳng phải là
“vô thường”. Trong các uẩn nơi
ta, tên còn không có thực, huống
là còn có sự tạo-tác hay
phân-biệt. Nếu nói rằng có một
pháp hay các pháp nào đó,
đó chỉ là lời nói theo tâm
của người đời, tùy chuyển theo
hành-động của người đời, mà
chúng chẳng phải ứng-hợp với
hành-tướng thường hằng như thực,
nên nghĩa ấy không phải. Vì thế,
các pháp vô tính. Dù chúng thuộc
bên trong hay bên ngoài cũng không có thể
phân-biệt được.
Vậy, do nhân gì mà họ
thường có tâm chấp-trước như
thế? Vì họ không xa lìa được
sự tùy theo hành-tướng của đời.
Nếu nương vào nhân, nương vào
tướng thì đó thuộc về hai loại
không cần phân-biệt. Đó tức là
chẳng phải thường và cũng chẳng
phải là có thể chấp. Tâm-tính
không thể chấp “thường”. Những
tính “vô thường” lại cho là
“thường”. Nếu biết những tính
kia là vô thường thì chúng ta từ
chỗ nào tạo tác ra và chúng từ
chỗ nào phát sinh ra, mà chấp lấy
tướng “ngã” của những pháp ấy?
Nếu xa lìa được giả-tướng
của thế-gian rồi, đối với các
uẩn không có chướng-ngại.
Giác-liễu rồi, đối với mười hai
xứ, mười tám giới cũng không có
chướng-ngại. “Thủ” và
“Xả”, tức thời, không thể tìm
đâu ra được.
Trong bài luận này nói
về chữ “Uẩn”, tức là nói
về: sắc, thụ, tưởng, hành và
thức. năm uẩn này là mục-tiêu
tu-học của các bậc Thanh-Văn. Sắc như
đống bọt. Thụ như bọt nổi.
Tưởng như tia sáng thái-dương.
Hành như vỏ cây chuối. Thức như
người làm trò huyễn-thuật. Nghĩa
của năm uẩn này, chư Phật
Thế-Tôn, cùng chư Bồ-Tát cũng
đều nói về thí-dụ như thế.
Nay lược tỏ về
hành-tướng của SẮC-UẨN.
Tứ-đại-chủng (đất, nước,
lửa, gió) và những pháp gì do
chúng tạo ra, đó là Sắc-uẩn.
Những pháp không phải là Sắc-uẩn,
là thuộc về ba uẩn: Thụ, Tưởng
và Hành. Hành-tưởng của
thức-uẩn sẽ thuyết ở phần sau.
Nó về XỨ, tức là
nói về: nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân,
ý-xứ ở trong và sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp-xứ ở ngoài. Đó
là nói về mười hai xứ ở bên
ngoài.
Nói về GIỚI, tức là
nói về giới-phận của nhãn, nhĩ,
tỵ, thiệt, thân, ý-căn; giới-phận
của nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân,
ý-thức và cảnh-giới của sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp-trần. Đó
là mười tám giới.
Như thế, Uẩn, Xứ và
Giới, chúng xa lìa các sự thủ và
xả. Chúng không có phương-sở,
không có giới-phận, không thể
phân-biệt được. Phân-biệt để
thấy, nghĩa ấy không phải. Vì, tùy
theo sự phát khởi ra phân-biệt tức
thì nó có ra chỗ chấp-trước.
– Như thế, làm sao chúng tương-ứng
với nhau được? – Nếu có một
ảnh-tướng nào bị thấy ngoài
nghĩa ấy, đó là nó bị sự
chuyển biến của trí-tuệ phá-hoại.
– Có chỗ nói: ý
trưởng-dưỡng cho Sắc-uẩn là nghĩa
thế nào? – Đó là nghĩa “phi
nhất, phi dị” (chẳng phải là một,
chẳng phải là khác). Có những
ngoại-đạo như
Ba-rị-một-ra-nhã-ca...(4) , họ tùy theo
vào sự thấy biết khác lạ, khởi ra
sự phân-biệt ba chiều (có, không,
không có, không không...). Nghĩa ấy
không đúng. Như người trong mộng,
mơ thấy mình đang làm việc
sát-hại, nhưng chỗ hành-tướng tạo-tác
là giả, không thực. Lại như có
người mơ thấy họ đang ở nơi
tốt đẹp tối-thượng, nhưng sự
thực, nơi chốn ấy không phải là
hành-tướng thù-thắng. Thế là
nghĩa gì? Nghĩa là, ánh sáng của
THỨC đã phá hủy ảnh-tướng
của thủ, xả. Pháp của Thức như
thế, làm gì còn có nghĩa ngoài
nào khác nữa. Cho nên, các pháp
không có ngoại-nghĩa. Chỗ biểu-hiện
của hết thảy sắc-tướng, do ánh
quang-minh nơi tự-thức làm cho
sắc-tướng soi tỏ. Ví như người ta
thấy sự huyễn-hóa của ánh
thái-dương biến ra thành
Càn-thát-bà (5) , lại chấp-trước
là thực. Những người vô trí do
tâm ngu-chấp, quán sát các
cảnh-sắc cho là thực, cũng như thế. Do
ngã-chấp ấy, tâm thức tùy theo
đó chuyển biến.
Như trên kia đã nói
về nghĩa của uẩn, Xứ, Giới. Chúng xa
lìa tất cả các giới-phận sai-biệt.
Chúng chỉ do sự bị xếp-đặt nơi
phận-vị của tâm-thức. Sự
thành-tựu của nghĩa ấy, trong
Thành-Duy-Thức đã nói.
Trước kia có nói qua về
năm uẩn, nhưng, tự-tướng của THỨC
như thế nào? – Thức cũng có
nghĩa như chữ Tâm. Như đức Phật,
Thế-Tôn thường nói: “hết thảy
các pháp chỉ do sự biến hiện của
tâm”. Nghĩa ấy rất sâu, những
người ngu-si không thể hiểu và không
thấy được lý chân-thực của
nó. Cho nên, để cho ngã-tướng
rỗng không, tâm ấy không sinh ra sự
phân-biệt. Khởi ra tâm phân-biệt,
đó là tà-giáo và chỗ
kiến-lập của họ không thành nghĩa
gì cả. Vì nghĩa như thực của
nó là thấy sự sự vật vật
(pháp) là vô ngã. Ngay trong Đại-thừa,
nghĩa của pháp (sự vật) cũng là
vô ngã, vì bổn lai, tự-tâm không
sinh. Nhưng, nếu có, đó là tùy theo
chỗ sinh-khởi của nó, song, nó vẫn
đều bình-đẳng. Tự-tâm tăng
thượng, thể-nhập vào nghĩa
chân-thực, vì chỗ ấy xuất sinh ra
Du-già hành-môn (6) . Nhưng, trong vấn-đề
này chúng ta cần biết, chỗ y-chỉ
của pháp nọ, pháp kia là không có
thực-thể. Đó chỉ gọi là sự
hiện-hành của tịnh-tâm mà thôi.
Nếu là pháp quá-khứ,
quá-khứ không thực. Nếu là pháp vị-lai,
vị-lai chưa đến. Nếu là pháp
hiện-tại, hiện-tại không trụ. Vậy,
các pháp ở trong ba đời nên gọi
thế nào là “trụ”? – Như
quân số, như rừng cây, do sự hợp
thành của nhiều pháp. Thức là
tướng vô-ngã. Thức chẳng phải
là chỗ sở-y. Thấy được các
pháp như thế, chúng cũng như đám
mây đỏ, tan diệt một cách nhanh chóng.
Có các pháp, do nơi suy nghĩ
biến-hiện ra. A-lại-gia-thức (7) cũng như
thế. Sự có đi, có lại của các
loài hữu-tình, vì “pháp nhĩ
như thị” (sự vật như thế là
như thế). Ví như biển lớn, mọi
dòng nước đều chảy về đó.
Chỗ y-chỉ của A-lại-gia-thức cũng như
thế.
Nếu có sự
quán-sát các Thức kia như thế, tâm
không sinh phân-biệt. Nếu mỗi loại kia
đều có sự biết như thế, tên
của mỗi loại ấy còn gì để
nói. Nếu mỗi loại kia đều biết
được vật-tính của chúng, mỗi
loại ấy đều không thể nói ra
được. Vì nói ra lời nói ấy
là lới nói quyết-định sinh. Lời
nói quyết-định, nên các pháp
cũng quyết-định sinh. Đối với hết
thảy sự việc, thành-tựu theo sự
chuyển biến. Năng-tri (chủ-động về
sự biết), sở-tri (bị-động về sự
biết) là hai phần sai-biệt. Sở-tri nếu
không có năng-tri làm sao thành-lập
được. Hai phần ấy đều là
pháp vô thực, làm sao chứng thực
được. Cho nên, sở dĩ nói về
chữ “tâm”, là nói lên cái
tên. Cái tên ấy không phân-biệt
và không thể chứng được.
Đó chỉ là biểu-lộ sự thấu
suốt tự-tính của cái tên kia và
nó cũng không có thể chứng thực
được.
Do các nghĩa
ấy, các bậc trí-giả cần nên
quán-sát tự-tính của tâm
bồ-đề như huyễn. Dù là bên
trong hay bên ngoài, hay trung-gian của hai phần
ấy, chúng ta cố gắng tìm cầu cũng
không thể chứng thực được. Không
có pháp nào có thể nắm giữ
được. Không có pháp nào có
thể xả bỏ được. Chẳng phải
dựa vào hình-sắc để có thể
thấy. Chẳng phải do nơi hiển-sắc mà
có thể biểu-lộ. Chúng chẳng phải
tướng nam, nữ. Chúng chẳng phải
tướng hoàng-môn (8) . Chúng chẳng
trụ trong tất cả các sắc-tướng.
Không có pháp nào có thể thấy.
Cũng chẳng phải thấy do cảnh-giới của
nhãn-căn. Chỉ có hết thảy chư
Phật dùng Phật-trí quán-sát
bình-đẳng mới có thể thấy
được.
Trong pháp
bình-đẳng, nếu tâm là tự-tính
hay là vô-tự-tính, làm sao thấy
được? – Nói về “tính”, là
còn có cái tên phân-biệt. Lìa
khỏi phân-biệt mới thấy được
tâm, trong này, làm sao lại nói là
“không”? – Vì vậy, chúng ta
nên biết là không có “năng-giác”
và cũng không có “sở-giác”.
Nếu thường quán tâm bồ-đề
như thế, liền thấy được Như-Lai.
Nếu có năng-giác và có
sở-giác, tâm bồ-đề không thể
thành-lập dược. Nó vô tướng.
Nó vô sinh. Chẳng phải dùng con
đường ngôn-ngữ mà có thể khen
ngợi nó được.
Tâm bồ-đề
cũng như hư-không. Tâm và
hư-không, không có hai tướng. Đây
nói, tâm và hư-không, là nói
về trí chân-không bình-đẳng.
Thần-thông của Phật với Phật, Phật
với Phật không khác nhau. Sự-nghiệp
của chư Phật trong quá-khứ, hiện-tại,
vị-lai, tất cả đều nhiếp-tàng
và an-trụ trong cảnh-giới bồ-đề. Tuy
sự-nghiệp ấy gọi là nhiếp-tàng,
nhưng hết thảy pháp thường thường
vẳng-lặng.
Quán-sát
các pháp vô thường đều như
huyễân-hóa. Chúng chẳng phải bị
nhiếp-tàng. Chúng điều-phục cả ba hữu:
Dục-hữu, sắc-hữu và
Vô-sắc-hữu. Chúng trụ trong pháp
không. Các pháp vô sinh, đây nói
là “không”. Các pháp vô ngã
cũng nói là “không”. Nếu đem
vô sinh, vô ngã mà quán là
“không”, quán ấy không thành.
Nếu đem nhiễm và tịnh mà
phân-biệt, chúng liền thành hai thứ
kiến-tướng: đoạn và thường.
Nếu dùng trí quán-sát về
tướng không kia, tướng không kia không
có bản thể phân-biệt. Cho nên tâm
bồ-đề xa lìa các sở-duyên mà
trụ trong tướng hư-không. Nếu quán
hư-không là nơi bị an-trụ, trong ấy
phải có không, có tính. Có hai
tên sai-biệt, “không” ấy cũng như
con sư-tử ở thế-gian, nó rống lên
một tiếng, làm cho các loài thú
đều sợ. Như nói một chữ
“không”, mọi ngôn-ngữ đều
vẳng lặng. Vì vậy, nơi này nơi
khác thường lặng, cái này cái kia
đều không.
Thức-pháp
là pháp vô thường. Nó
từ vô thường sinh ra. Tính vô
thường là tâm bồ-đề. Đây
nói về nghĩa không, hẳn chúng cũng
không trái nghịch nhau. Tính vô
thường là tâm bô-đề, ưa
thích bồ-đề là tâm
bình-đẳng. Tuy nhiên, nơi đây cũng
chẳng nói là ưa thích cái không.
Tâm chấp cái không, làm sao chứng
ngộ được. Bản-lai tự-tính
chân-thực, hết thảy đều
thành-tựu nghĩa bồ-đề-tâm. Vật
vô-tự-tính. Tính vô-tự-tính,
là nghĩa của thuyết này.
Thuyết này như thế,
đối với tâm ra sao? Nếu xa lìa ngã
và pháp thì tâm không trụ.
Đây chẳng phải là một pháp cũng
chẳng phải là các pháp. Tự-tính
của mỗi pháp, tự nó cách ly với
tự-tính của nó. Như đường
mật, ngọt là tự-tính. Như lửa,
nóng là tự-tính. Các pháp kia
không, tự-tính cũng vậy. Tính của
các pháp kia, chúng chẳng phải
thường, chẳng phải đoạn, chẳng
phải được, chẳng phải lìa. Vì
nghĩa ấy, vô minh là đầu, lão
tử là cuối, các pháp duyên sinh
được thành-lập ra. Ví như mộng
huyễn, thể nó không thực. Vì do
nghĩa ấy, nói ra mười hai chi-pháp,
tức cũng gọi là mười hai chi-luân.
Chúng luân-chuyển tuần-hoàn trong cửa
sinh-tử, mà thực không có ta, không
phân-biệt với chúng-sinh và không
sai-biệt với ba thứ: nghiệp, hành và
quả-báo.
Trong ý-nghĩa ấy, nếu thấu
suốt pháp duyên-sinh, tức thì ra khỏi
các cửa cảnh-giới sinh-tử. Sự-kiện
kia, chẳng phải là hành-tướng, chẳng
làm băng-hoại chính nhân, mà nó do
UẨN sinh ra. Chẳng phải là
hành-tướng của biên-tế sau khi bị
luân-hồi. Hết thảy đều không nắm
giữ được “không”, vì do
“không” sinh ra. Pháp pháp
bình-đẳng, tạo nhân chịu quả,
là lời Phật nói. Có các pháp
hợp loại mà sinh ra, như đánh trống
có tiếng, như trồng lúa mạch sinh
mầm. Các pháp hợp loại khác, nghĩa
cũng như thế. Như huyễn như mộng,
bị sự biểu-hiện của duyên-sinh. Các
pháp nhân sinh, mà cũng là vô sinh.
Nhân này nhân khác tự nó là
không, làm sao sinh ra được. Do đó,
các pháp thuộc về vô sinh, tức là
do vô sinh mà gọi là “không”.
Như nói về năm uẩn,
tính của năm uẩn bình-đẳng. Hết
thảy các pháp cũng nên quán niệm
như thế. Nếu nói là “không”,
là nói trong nghĩa như thực. Vì chỗ
bị nói là không ấy, thể của
nó chẳng phải đứt đoạn. Trong
thể chẳng phải đứt đoạn ấy,
thực cũng không thể nào tìm kiếm
được. Nói thể là không, không
cũng không phải là thể. Hiểu nó
là không thực, sự tạo-tác là
vô thường. Các nghiệp, phiền-não
chứa góp lại làm thể. Nghiệp ấy
cũng từ tâm sinh ra. Tâm không trụ, nghiệp
làm sao có thể tạo được. Tâm
khoái-lạc là tính tịch-tĩnh. Tâm
tịch-tĩnh kia không thể nắm giữ
được. Các bậc trí-giả nến
quán-sát sự-vật một cách như
thực. Thấy được lẽ như thực
ấy, là được giải-thoát.
Tâm bồ-đề ấy là
sự chân-thực tối thượng. Nghĩa chân-thực
ấy là “không”. Cũng gọi là
“chân-như”. Cũng gọi là
“thực-tế”. Đó là đệ
nhất nghĩa đế về vô tướng.
Nếu không thấu suốt được về
nghĩa “không” như thế, là chẳng
phải đã thuộc về phần
giải-thoát, mà đối với trong cảnh
luân-hồi, người ấy là
đại-ngu-si. Người sống trong cảnh
luân-hồi, bị luân-chuyển trong sáu
thú: thiên, nhân, a-tu-la, địa-ngục,
ngã-quỷ và súc-sinh.
Nếu bậc trí-giả
thường quán-tưởng tâm bồ-đề
kia một cách như thực, cùng
tương-ứng với nghĩa “không”, khi
quán-tưởng rồi sẽ thành-tựu
được ý-niệm lợi tha và
được trí-tuệ vô ngại, vô
trước. Đó là biết ơn và
báo ơn Phật. Thường đem bi-tâm quán-tưởng
tới tất cả mọi chủng-tướng
chúng-sinh, cha mẹ quyến-thuộc, vì lửa
dữ phiền-não thiêu đốt, khiến cho các
chúng-sinh bị luân-hồi sinh-tử.
Chúng-sinh chịu khổ, tôi sẽ chịu thay.
Như trong trường-hợp có sự vui
hòa-hợp, chúng ta nên nhớ nghĩ và
bố-thí cho tất cả chúng-sinh.
Quán-tưởng về
nghiệp-quả của ái và phi-ái,
thiện-thú và ác-thú, lợi-ích
và không lợi-ích, mà bản-lai của
các chúng-sinh không thực chứng
được. Tùy theo sự sai-biệt của
trí-tuệ, khởi ra mọi thứ
sắc-tướng: Phạm-Vương,
Đế-Thích, Hộ-Thế Thiên-Vương
v.v... Là trời hay là người, hết
thảy đều không lìa khỏi
hành-tướng thế-gian.
Quán-tưởng về các nơi
địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh. Tất
cả chúng-sinh ở trong các cõi ấy,
có vô lượng vô số chủng-loại
sắc-tướng. Sự đau khổ, không
được nhiêu-ích, thường bị
chuyển theo chủng-loại. Đói khát
bức-bách, giết hại lẫn nhau. Bởi
nhân như thế, nên quả-khổ không
bị tiêu-hoại. Chư Phật, Bồ-Tát
quán-tưởng về tự-tướng
nghiệp-báo như thực của hết thảy
chúng-sinh trong các thiện-thú vá
ác-thú như thế. Quán-tưởng
rồi, các Ngài liền khởi ra tâm
phương-tiện, khéo léo giúp đỡ
chúng-sinh, làm cho chúng-sinh xa lìa các
nghiệp-cấu. Bởi thế, các vị Bồ-Tát
lấy tâm đại-bi làm căn-bản, lấy
chúng-sinh kia làm cảnh sở-duyên. Các
vị Bồ-Tát không chấp-trước vào
những ý-vị vui sướng trong các loại
thiền-định, không cầu tự-lợi trong
việc được các quả-báo.
Vượt qua quả-địa Thanh-Văn, các
Ngài không bỏ chúng-sinh, tu hạnh lợi
tha, phát tâm đại-bồ-đề, nẩy
mầm mống đại-bồ-đề và cầu
quả bồ-đề của Phật. Các Ngài
đem tâm đại-bi quán-tưởng về
sự đau khổ của chúng-sinh. Các Ngài
thấy ngục A-tỳ (9) rộng lớn vô biên,
chúng-sinh tùy theo nghiệp-nhân, phải bị
luân-chuyển vào khổ-báo ấy. Mọi
tội báo ấy phải chịu mọi thứ
đau khổ. tâm đại-bi của các vị
Bồ-Tát, các Ngài nghĩ, các Ngài
muốn chịu khổ thay cho chúng-sinh. Mọi thứ
khổ ấy, có mọi thứ hình-tướng,
nói ra như không có thực, nhưng cũng
chẳng phải là không thực.
Nếu thấu suốt lẽ
“không”, liền biết rõ các
pháp ấy, thuận-hành theo các
nghiệp-quả của chúng-sinh. Các vị
Bồ-Tát vì muốn cứu độ
chúng-sinh, các Ngài khởi ra tâm
dũng-mãnh, lăn vào nơi bùn lầy
sinh-tử. Các Ngài tuy ở trong sinh-tử,
nhưng không nhiễm-trước. Ví như hoa sen
thanh-tịnh không nhiễm. Các Ngài lấy
đại-bi làm thể, nên không bỏ
chúng-sinh, dùng không-trí
quán-tưởng, nên không lìa
phiền-não.
Bồ-Tát dùng sức
phương-tiện, thị-hiện việc giáng-sinh
nơi vương-cung, vượt thành xuất-gia, tu
đạo khổ-hạnh, ngồi nơi
đạo-tràng bồ-đề, thành
Đẳng-Chính-Giác. Ngài hiện
thần-thông-lực phá các ma quân, vì
độ chúng-sinh, chuyển
đại-pháp-luân. Ngài hiện ra ba
đạo bảo-giai, từ trên cung trời giáng
xuống. Ngài hiện ra các hình-tướng
biến-hóa. Ngài thuận theo tình đời,
nhập đại-niết-bàn. Và, trong khoảng
trung-gian ấy, Ngài hiện ra các
sắc-tướng, hoặc làm Phạm-Vương,
hoặc làm Đế-Thích v.v... Là Trời
hay là người... tùy theo các
sắc-tướng mà chuyển. Do Ngài
thị-hiện ra các sắc-tướng nên
người đời gọi là bậc “Cứu
Thế Đạo-Sư”. Những sự-kiện
ấy đều là nguyện-lực đại-bi
của chư Phật, Bồ-Tát, điều-phục
thế-gian, làm cho thế-gian được an-trụ
vào những thắng-hạnh tương-ứng.
Thế nên, ở trong luân-hồi
các Ngài không sinh tâm thoái-chuyển,
mệt mỏi. Từ trong Nhất-thừa nói ra
pháp Nhị-thừa. Nhất-thừa, Nhị-thừa
đều ở trong nghĩa chân-thực. Là
bồ-đề của bậc Thanh-Văn hay là
bồ-đề của Phật, chỉ là một
tướng của trí-thân (chân-thân
của trí-tuệ), một thể của
chính-định. Tuy có nói, nhưng nói
mà chẳng phải nói. Hoặc có nói ra
mọi hành-tướng, nhưng đó chỉ
vì dẫn-đạo chúng-sinh mà thôi.
Nếu chúng-sinh được lợi,
bồ-đề của Phật vẫn là
phúc-trí bình-đẳng, thực không
có hai tướng có thể trụ. Nếu
có trụ-tướng tức là chủng-tử.
Tướng chủng-tử kia lại hợp theo loại
sinh ra. Thế là làm tăng-trưởng mầm
mống sinh-tử. Như đức Phật,
Thế-Tôn thường nói: “Chỉ vì
chúng-sinh tạo ra các phương-tiện,
phá hủy mọi hành-tướng của
thế-gian, nhưng thực chẳng phải phá hủy.”
Đó là có ý-nghĩa xa lìa sự
phân-biệt. Nghĩa ấy rất sâu. Nghĩa
rất sâu ấy không có hai tướng. Tuy nói
là có phá-hủy, nhưng đây chẳng
phải là phá-hủy.
Trong pháp “không”, không
có hai tướng. Các pháp giữ vững
tự-tính chân-thực của chúng.
Trí-ba-la-mật là tâm bồ-đề.
Tâm bồ-đề trừ hết thảy
“kiến”. Do đó, các thân, ngữ,
tâm, đều thuộc về pháp vô
thường. Nhưng chỉ vì chúng-sinh, đem
lại lợi-ích cho chúng-sinh mà thôi.
Trong này nói “không”,
nhưng “không” không phải là
đứt đoạn. Trong này nói
“có”, nhưng “có” cũng
chẳng phải là thường hằng. Thế
nên, không có sinh-tử, cũng không có
niết-bàn, mà đều an-trụ vào
“vô-trụ niết-bàn”. Chư Phật,
Thế-Tôn đều nói: “Bi-tâm khởi
sinh ra, vô lượng phúc tụ hội.”
Lời nói ấy là nói về lý
“không” chân-thực tối thượng. Do
uy-thần của chư Phật xuất sinh, mà hai
hạnh tự-lợi và lợi-tha thành-tựu.
Con nay xin đỉnh lễ
Nhất-Thiết-Tính kia. Con thường tôn
kính Tâm Bồ-Đề kia. Mong chỗ
xưng-tán của con đối với
Phật-chủng không bị đoạn-diệt.
Chư Phật, Thế-Tôn thường trụ ở
thế-gian. Tâm bồ-đề là tâm tối
thắng trong Đại-thừa. Chính-niệm của
con an-trụ trong tâm ấy.
Tâm bồ-đề, trụ nơi
tâm Đẳng-Dẫn (10) , và từ nơi
phương-tiện sinh ra. Nếu thấu suốt
được tâm ấy, thấy sinh-tử
bình-đẳng, hai hạnh: tự-lợi và
lợi-tha thành-tựu. tâm bồ-đề, lìa
các kiến-tướng,
vô-phân-biệt-trí, chuyển biến
chân-thực.
Các bậc trí-giả, phát
tâm bồ-đề, hội-tụ được
phúc-báo vô lượng vô biên. Nếu
ai, trong khoảng sát-na, quán-tưởng tâm
bồ-đề, người ấy hội-tụ
được phúc-báo, cũng không thể
tính lường được. Vì, tâm
bồ-đề, chẳng phải thuộc về loại
tính lường. Chất-liệu quý báu
của tâm bồ-đề là thanh-tịnh
không nhiễm. Nó thuộc vào bậc tối
đại, tối thắng, tối thượng, đệ
nhất. Nó thuộc vào chất-liệu
chân-thực kiên-cố, không thể hoại
và cũng chẳng phải là chỗ để
hoại được. Nó thường phá
các phiền-não, cùng tất cả các
loại ma. Nó làm đầy đủ
hạnh-nguyện Phổ-Hiền (11) của các vị
Bồ-Tát. Tâm bồ-đề là chỗ
hướng về của hết thảy pháp.
Nói lời chân-thực, lìa các
hý-luận. Đây là hành-môn
thanh-tịnh của Bồ-Tát Phổ-Hiền, xa
lìa hết thảy tướng. Đây xin nói
rõ như thế.
Tôi
nay khen ngợi tâm bồ-đề,
Như Lưỡng-Túc-Tôn (12) chính nói ra.
Tâm bồ-đề ấy: tối tôn, thắng,
Người được phúc-báo cũng
không lường.
Tôi đem phúc này cho chúng-sinh,
Mong chóng vược khỏi biển tam hữu.
Khen ngợi như thực và như lý,
Trí-giả cần nên học như thế.
Chú thích:
(1)
Bồ-Đề-Tâm Ly Tướng Luận: Luận
này mang số 1661 trong Đại-Chính
Đại-Tạng Kinh. Bồ-Đề (Bodhi): Xưa dịch
nghĩa là “đạo”, nay dịch nghĩa
là “giác”. Đạo có nghĩa
là thông suốt. Giác có nghĩa là
giác-ngộ. Chỗ thông suốt, chỗ
giác-ngộ ấy có sự và có
lý. LÝ: Niết-bàn. Dứt
phiền-não-chướng chứng Nhất-thiết-trí
niết-bàn. SỰ: Các pháp hữu-vi. Dứt
sở-tri-chướng, biết rõ nhất-thiết
chủng-trí của các pháp.
Bồ-Đề-Tâm: Tâm mong cầu
chân-đạo hay tâm mong cầu đạt tới
chỗ chính- giác. Bồ-đề-tâm có
hai loại: 1) Duyên-sự bồ-đề-tâm:
Lấy 4 hoằng-thệ-nguyện làm thể,
để hóa-độ chúng-sinh và
viên-thành Phật-đạo. 2) Duyên lý
bồ-đề- tâm: Quán chiếu hết thảy
pháp bản-lai tịch-diệt, an-trụ trong
thực-tướng trung-đạo, nguyện thành
chính-giác, hóa-độ chúng-sinh.
Bồ-đề-tâm ly tướng có nghĩa
là muốn đạt tới tâm bồ-đề
chân-thực, cần quán-chiếu: ngã, pháp,
uẩn, xứ, giới, các ảnh-tướng ấy
đều là hư-huyễn, đều do
tâm-thức biến-hiện. Lìa mọi hành-
tướng, thành-tựu đệ-nhất nghĩa
không. Đó là Bồ-đề-tâm ly
tướng.
(2)
Tổng-trì: Tiếng Phạm gọi là
Đà-ra-ni (Dhàrani), Trung-Hoa dịch nghĩa
là Tổng-Trì: Nghĩa là giữ cho
điều thiện không mất, giữ cho điều
ác không sinh. Thực- hành Tổng-trì
có 4 pháp-môn: pháp, nghĩa, chú
và nhẫn.
(3)
Thể-nhân: Nhân-tố nguyên-thủy trong
bản-thể của sự-vật.
(4)
Ba-rị-một-ra-nhã-ca: Đây là phái
ngoại-đạo, thực-sự xuất-gia. Trung-Hoa
dịch- nghĩa là “Biến xuất” hay
“Phổ hành”. Phái này cạo
đầu, nhưng để một chút tóc
trên đỉnh đầu, mặc áo màu
đất đỏ, đi xin ăn, nhưng sự nhận-thức
về sự-vật khác với giáo-lý
của Phật.
(5)
Thành Càn-thát-bà: Đây nói
về sự-vật trong giả-tưởng. Ánh
thái-dương chiếu xuống nơi có vỏ
sò, vỏ ốc trong biển, ánh nắng hiện
lên lấp-lánh, ở xa, người ta trông
như là có tường thành của loại
Càn-thát-bà. Càn-thát-bà (Gandharva),
Trung- Hoa dịch nghĩa là “Tầm
Hương”, tên một loại thần chuyên
về âm-nhạc trên cõi trời
Đao-Lợi. Nơi trình diễn âm-nhạc,
có vẽ những thành-quách, phong-cảnh cho
đẹp mắt. Cảnh vẽ thuộc về sự
giả-tạo, không thực.
(6)
Du-già (Yoga): Trung-Hoa dịch nghĩa là
“tương-ứng”. Tương-ứng với 5
loại: hoàn- cảnh, hành-động, lý
luận, thành-quả và căn-cơ
chúng-sinh. Đây là một pháp môn
thực-hành, ứng-hợp với cảnh, hành,
lý, quả và cơ.
(7)
A-lại-gia thức (Alaya): Thức thứ 8 trong
Duy-Thức-Học. Trung-Hoa dịch nghĩa là
“Tạng-thức”, có nghĩa là Thức
này hàm-tàng, hay cất giữ tất cả
các hạt giống của sự vật.
(8)
Hoàng-môn: Đây chỉ cho người mà
phái-tính, hoặc bộ-phận sinh-dục
không nhất định là nam hay nữ.
(9)
A-Tỳ địa-ngục: A-Tỳ (Avichi), Trung-Hoa dịch
nghĩa là “vô-gián”. Đây
là một địa- ngục, không-gian, cũng
như sự trừng-trị tội nhân không
chút gián-đoạn.
(10)
Đẳng-dẫn: Tiếng Phạm là
Tam-ma-ế-đa (Samàhita), Trung-Hoa dịch nghĩa
là đẳng-dẫn. Đây là một
pháp trong pháp-môn thiền-định. Khi
ngồi thiền, thân và tâm an-hòa, bình-đẳng,
nên gọi là “đẳng-dẫn” v.v...
(11)
Phổ-Hiền hạnh-nguyện: Lời
phát-nguyện và thực-hành của
Bồ-Tát Phổ-Hiền. Bồ- Tát
Phổ-Hiền có 10 đại-nguyện chuyên
hướng về sự thực-hành, phụng-sự
Phật, Pháp và hóa độ chúng-sinh.
(12)
Lưỡng-Túc-Tôn: Đây chỉ về
đức Thế-Tôn, Ngài là bậc
đầy-đủ phúc-đức và
trí-tuệ