Trong cuốn "Lá thư Làng Mai" số 32, chúng ta đã bình bài thơ « Giây Phút Chạnh Lòng » của Thế Lữ, bài có chủ đề là ra đi. Vì lý tưởng, vì chí hướng, sự nghiệp mà người con trai đành phải từ giã người mình yêu để lên đường. Rồi sau đó, vào một ngày cuối năm, trong khi mọi người đang chuẩn bị đón giao thừa, ngồi một mình trên căn gác trọ người con trai cảm thấy cô đơn và chợt chạnh lòng nhớ lại người xưa, nhưng anh cũng biết rằng mình không thể nào ở lại được, mình phải tiếp tục con đường, phải tiếp tục theo đuổi sự nghiệp của mình thôi. Người ở nhà nếu quả thực là hiểu được người mình yêu thì phải yểm trợ cho người ấy, để cho người ấy đi dù rằng đó là một quyết định rất khó khăn, dù trong lòng mình có xót xa, tiếc nuối.
Người con
trai ấy có hoài bão, có chí
hướng mà mình giữ chặt người ấy
cho riêng mình thì người ấy sẽ
không có hạnh phúc. Người ấy có
một năng lượng mà mình đem nhốt
năng lượng đó lại thì chỉ làm
khổ người yêu và làm khổ chính
mình thôi. Một làn hương, một
tia nắng mà mình còn không giữ
được, huống nữa là giữ một người
con trai có chí nguyện lớn ?
Ngày xưa Yasodhara cũng có tâm
trạng như vậy. Yasodhara biết
rằng Siddhata không thể không ra
đi. Yasodhara cũng chỉ là một
người phụ nữ thường tình, nhưng
cô biết là phải để cho chồng ra
đi, bởi nếu vì mình mà người con
trai không ra đi được thì người
con trai đó đâu còn là người con
trai của mình ? Tuy thân người
ấy bên mình nhưng tâm người ấy
không còn ở bên mình nữa. Có giữ
thì cũng không còn. Và
Yasodhara cũng hiểu rằng dùng
tất cả mọi cách để trói buộc
người con trai đều vô hiệu
nghiệm.
Hồi 1940 cho tới 1945 phần lớn
những người con trai Việt Nam
đều muốn ra đi, tôi lớn lên
trong giai đoạn đó và tôi đã
chứng kiến được những cuộc ra đi.
Hồi ấy người Pháp đang đô hộ
Việt Nam, đất nước ta đang lầm
than trong cảnh nô lệ, người dân
đói khát, khổ đau. Năm tôi
khoảng 14, 15 tuổi có những buổi
sáng thức dậy, tôi thấy ngoài
đường có những chiếc xe cam
nhông chở đầy những xác chết của
những người đói. Và tôi cũng
thấy những anh, những chị, chỉ
khoảng 20, 22 tuổi bị bắt, họ bị
người ta trói lại, giải đi,
trông cảnh đó tôi rất sót thương.
Lúc ấy tôi không biết họ đã làm
gì để bị bắt như vậy? Nhưng tôi
biết rằng trong trái tim họ đã
ôm ấp một lý tưởng gì đó nên mới
bị lâm vào vòng tù tội. Mới 14
tuổi tôi đã được đọc sách báo
cách mạng và tôi cũng muốn ra đi.
Năm 1940, Thâm Tâm có viết một
bài thơ rất nổi tiếng đó là bài
«Bài Tống Biệt Hành » :
Đưa người ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Phải đưa qua sông thì mới thấy
có sóng và thấy sóng ở bên ngoài
thì sóng ở trong lòng mới nổi
dậy. Nhưng ở đây mình đâu có đưa
sang sông « sao có tiếng sóng ở
trong lòng? » Tình trạng đất
nước, xã hội, và những khổ đau
đã thúc đẩy những người con trai,
những người con gái lên đường.
Là một người thanh niên trong
hoàn cảnh ấy thì phải nên làm
một cái gì đó cho đất nước. Tác
giả cũng muốn đi nhưng chưa đi
được, mà phải ở lại. Và khi
những người bạn của mình, những
người anh, người chị, người em
của mình ra đi thì mình phải đưa
tiễn. Đưa tiễn mà trong lòng
không yên, những đợt sóng cứ
chồm lên không ngớt.
Bóng chiều không thắm, không
vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt
trong?
Tuy đang là mùa hè, đất trời
đang xanh tươi, cây cối chưa
vàng vọt nhưng sao nhìn vào mắt
của người kia mình thấy có hoàng
hôn, có một nỗi buồn nào đó.
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng.
Gia đình có mẹ, có chị, có em,
lúc từ giã người đi phải làm bộ
dửng dưng, nếu không thì không
thể cất bước được.
Ly khách! Ly khách! Con đường
nhỏ.
Chí lớn chưa về bàn tay không,
Ly khách là người đi. Nếu đã ôm
một chí nguyện to lớn thì không
thể nào về với hai bàn tay không
được.
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.
Khi ra đi mình đã mang một chí
nguyện nào đó và nếu không đạt
được chí nguyện ấy thì mình sẽ
nhất định không trở về. Có một
hình ảnh mà tất cả thanh niên
Việt Nam thời đó đều tôn thờ đó
là hình ảnh của Kinh Kha. Kinh
Kha sống ở thời Chiến Quốc, cuối
đời Xuân Thu, vào thế kỷ thứ 5
cho đến thế kỷ 13 trước Tây lịch,
khi ấy có bảy nước đang tranh
chấp nhau. Có hai người anh hùng,
một người tên Nhiếp Chính, một
người tên là Kinh Kha. Nhiếp
Chính là một người anh hùng ẩn
thân đời Chiến Quốc đi giết
tướng quốc của nước Hàn là Hiệp
Lũy, rồi rạch nát mặt, tự vẫn
chết để không ai tìm được tung
tích. Kinh Kha là người nhận
trách nhiệm đi ám sát Tần Thủy
Hoàng, ngày Kinh Kha lên đường
Thái tử Yên Đan tổ chức lễ tiễn
đưa rất lớn vì biết rằng người
này đi sẽ không bao giờ trở lại.
Tại vì Kinh Kha đã lãnh một sứ
mạng rất lớn, đó là phải giết
cho được Tần Thủy Hoàng, giết
cho được tên bạo chúa. Câu thơ
ca ngợi hình ảnh đó người thanh
niên Việt Nam thời bấy giờ người
nào cũng thuộc :
Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục
hoàn
Nghĩa là gió thổi rờn rợn, nước
sông Dịch lành lạnh và người
tráng sĩ một phen đi thì không
bao giờ trở lại. Bây giờ, trong
bối cảnh phải đưa tiễn người bạn
ra đi cũng vậy, cũng nghĩ tới
Kinh Kha. Trước năm 1940 các thi
sĩ sáng tác toàn thơ tình, cứ
yêu qua yêu lại rồi đau khổ, rồi
sầu thương. Nhưng bắt đầu từ năm
1939-1940 có sự thức tỉnh trong
giới thanh niên, tỉnh dậy trước
thực tại cay đắng, khổ đau đen
tối của đất nước, của xã hội. Do
đó họ không còn làm những bài
thơ theo lối khóc gió thương mây
nữa. Bài này là một trong những
bài đánh dấu giai đoạn thức tỉnh
của người thanh niên Việt Nam
thời chống Pháp.
Ta biết ngươi buồn chiều hôm
trước,
Bây giờ mùa hạ, sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen,
Khuyên nốt em trai dòng lệ xót.
Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay
Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Vo tròn thương tiếc chiếc khăn
tay…:
Buồn chứ sao không buồn, bỏ mẹ,
bỏ các em ở lại để ra đi trong
khi chưa biết rõ con đường phía
trước như thế nào. Không biết
mình sẽ làm cái gì? Chỉ biết là
mình muốn đi thôi, con đường
trước mặt là cả một khu rừng
chưa khai phá. Rất là mờ ảo. Con
đường cách mạng xã hội của một
dân tộc, chưa có cái gì rõ ràng,
chưa có gì được chuẩn bị, sắp
đặt cả. Người ra đi mang tâm
trạng hoang mang, nhớ nhung,
luyến tiếc nhưng cố giả vờ dửng
dưng « Một giã gia đình, một
dửng dưng ».
Người đi? Ừ nhỉ ! Người đi thực
!
Không phải
chuyện chơi.
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu cay.
Đi là phải như vậy, thương mẹ
bao nhiêu cũng phải đi, thương
em bao nhiêu cũng phải đi tại vì
chí hướng của người thanh niên
là phải lên đường. Sống trong
thời đại của mình, mình là một
chàng trai, mình là một cô gái,
thì mình đại diện cho cả một thế
hệ của mình. Mình không đi với
tư cách một cá nhân, mình đi với
tư cách của cả một thế hệ. Mình
thấy tất cả những người đó trong
mình, mình không phải đi đơn độc.
Nguyễn Bính cũng ra đi nhưng
trước khi giật mình tỉnh thức
thì Nguyễn Bính đã nghiện rượu,
đã ghiện thuốc phiện. Thời đó
thanh niên Hà Nội cũng ăn chơi,
cũng lao vào cuộc sống của sự
hưởng thụ. Bài Hành Phương Nam
của Nguyễn Bính làm vào khoảng
năm 1946-1947.
Hai ta lưu lạc phương Nam này
Hai đứa đi vào Nam
Trải mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Riêng ta với ngươi buồn vậy thay
!
Hai đứa không nhà, không cửa, đi
tìm con đường, tìm chí hướng
nhưng mà tìm chưa ra, cũng không
biết tìm ở đâu nữa, hai đứa cứ
làng thang với nhau trong cảnh
cô đơn không nhà. Tội nghiệp ghê.
Lòng nắng xá gì đôi hớp rượu
Mà không uống cạn mà không say !
Đã nghiện rượu rồi, đâu có thể
không uống được, vì vậy có đồng
nào là đem ra uống rượu hết đồng
đó. Muốn ra đi lắm nhưng vốn
liếng của mình còn nghèo nàn quá,
đã vướng vào rượu, vào ma túy
rồi thì ý chí còn được bao
nhiêu ?
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu không ai may !
Tư Mã Tương Như là một chàng
nhạc sĩ đánh đàn cho Trác Văn
Quân nghe, khúc đàn đó là Tư Mã
Phượng Cầu. Phượng Cầu Hoàng là
con chim Phượng đi tìm con chim
Hoàng tức là khúc hát của tình
yêu. Còn thi sĩ nhà ta thì chẳng
có ai may cho một chiếc áo để có
thể ra trận.
Ngươi giam chí lớn vòng cơm áo
Ta trói thân vào nợ nước mây
Vấn đề cơm áo là vấn đề rất lớn.
Nợ nước mây là nói về sự nghiệp
của người con trai.
Ai biết thương nhau từ thuở
trước
Bây giờ gặp nhau trong phút giây
Nợ tình chưa trả tròn một món
Sòng đời thua đến trắng hai tay
Tất cả những cố gắng của mình từ
trước đến nay đều thất bại hết.
Tình yêu thì không xong mà chí
hướng cũng chẳng thành. Quê nhà
thì ở mãi Hà nội còn mình đang
lưu lạc tận miền Nam.
Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc
Phân tán vì cơn gió bụi này
Người ơi ! Buồn lắm mà không
khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy
Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết
Ngày mai ra sao rồi sẽ hay
Trong lòng mình có mang một sứ
mệnh lớn muốn ra đi nhưng những
tập khí cũ, những thói quen xấu
nghiện ngập, yếu đuối cứ trói
buộc lấy mình. Nguyễn Bính cũng
có nhắc tới Kinh Kha, cũng nhắc
tới Nhiếp Chính.
Ngày mai sáng lạn mầu non nước
Cốt nhất làm sao từ buổi này
Đây là một sự giác ngộ, thi sĩ
thấy rằng ngày mai có tươi sáng
hay không là do ngày hôm nay
quyết định. Nhưng ngày hôm nay
như thế nào? Hoàn cảnh của mình,
tâm trạng của mình ra sao, và
vốn liếng thì đến đâu rồi?
Ngày mai sáng lạn mầu non nước
Cốt nhất làm sao từ buổi này
Rẫy ruồng châu ngọc, thù son
phấn
Mặt đỏ lên rồi, cứ chết ngay
Hỡi ơi ! Nhiếp Chính mà băm mặt
Giữa chợ ai người khóc nhận
thây?
Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng
chén
Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay?
Trước khi lên đường Kinh Kha
được Thái tử Yên Đan hậu đãi, có
một cô thị nữ mang khay trà vào,
Kinh Kha khen hai bàn tay của cô
đẹp quá. Thái tử Đan nghe báo
cáo như vậy thì nói với cô thị
nữ: cô tặng cho tráng sĩ hai bàn
tay đi. Rồi sai chặt hai bàn tay
cô thị nữ để trên khay rồi mang
vào tặng cho Kinh Kha. Thái Tử
đã hy sinh một mạng người để
nung nấu chí hướng của người
tráng sĩ. Tráng sĩ nói ưa hai
bàn tay đó thì chúng tôi dâng
tặng cho tráng sĩ hai bàn tay.
Ngày Kinh Kha lên đường, đi qua
sông Dịch, ba ngàn người mặc đồ
tang đến đưa tiễn.
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự
Hài cỏ, gươm cùn, ta đi đây
Đôi giày của mình là giày cỏ,
gươm của mình là gươm cùn nhưng
người tráng sĩ Nguyễn Bính vẫn
không biết đi về đâu?
Ta đi nhưng biết về đâu chứ?
Đã dấy phong yên khắp bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi!
Muốn đi mà không biết đi về đâu!
Thôi, nếu không đi thì ở lại
uống cho say. Nguyễn Bính có tâm
trạng như vậy nhưng rốt cuộc vẫn
đi vào chiến khu, phục vụ trong
Ủy ban Việt Minh tỉnh bộ tỉnh
Rạch Giá và đi vào rừng U Minh
phục vụ kháng chiến trong vòng
chín năm trời cho đến khi tập
kết ra Bắc. Trong thời gian đó
Nguyễn Bính cưới một người vợ
người miền Nam. Tôi đọc thơ thì
thấy rằng thơ kháng chiến, thơ
cách mạng của Nguyễn Bính không
hay lắm, thơ Nguyễn Bính không
hợp với thơ kháng chiến.
Số thanh niên có lý tưởng cách
mạng, có lý tưởng kháng chiến ra
đi rất là đông nhưng có hàng
ngàn người, hằng chục ngàn
người, hằng trăm ngàn người đã
ngã gục. Không phải giữa súng
đạn mà ngã gục trong tổ chức gọi
là cách mạng. Điều này không
phải chỉ đúng ở Việt Nam mà đúng
cho hết tất cả các nước. Trong
cuộc cách mạng có sự thủ tiêu
lẫn nhau.
Khi ra đi mình mang một lý tưởng
rất cao đẹp nhưng khi đã đi vào
trong tổ chức, dù là tổ chức
cách mạng, thì mình cũng thấy
được sự lạm quyền, sự lợi dụng,
thói đạo đức giả... Trong hoàn
cảnh ấy nỗi khổ, niềm đau của
người trẻ rất lớn, muốn lùi lại
thì không được mà muốn tiến tới
cũng chẳng xong, đi tới đây thì
không còn phương hướng nữa. Đi
tu cũng vậy, ban đầu mình nghĩ
rằng trong tổ chức giáo hội có
sự thánh thiện, có hào quang, có
sự tốt đẹp nhưng khi đi vào
trong tổ chức giáo hội mình cũng
có thể thấy được những hư hỏng
những tham vọng, những danh lợi,
những giả dối, và người xuất gia
cũng có thể ngã gục trên bước
đường tu của mình.
Quý vị có thể đặt câu hỏi là tại
sao tôi không đi vào đảng mà lại
đi vào chùa? Đó là câu hỏi rất
là hay. Chắc chắn phải có một
hạt giống nào đó, phải có một
nguyên do nào đó khiến một người
thay vì đi vào một đảng chính
trị thì lại đi vào một ngôi
chùa. Muốn tìm hiểu được điều
này thì phải đi vào trong đời
sống của dân tộc mình, tại vì
mình có tổ tiên huyết thống
nhưng cũng có cả tổ tiên tâm
linh và người thanh niên nào
cũng có ít nhiều chí hướng cả.
Thái tử Siddhatta cũng có thể đi
vào con đường chính trị nhưng
Siddhatta đã chọn con đường tâm
linh. Trong khi vua Tịnh Phạn
rất muốn Siddhatta đi vào con
đường chính trị, ông đã đặt hết
hy vọng của mình vào Siddhatta
nhưng Siddhatta khước từ con
đường đó và đi kiếm một lối đi
khác. Mình là những người con
trai, những người con gái đã
không đi làm chính trị mà đi tu
là vì mình cũng có cái gì đó
giống như Siddhatta. Mình thấy
đây cũng là con đường phụng sự,
mình hợp với con đường này hơn
và mình thấy con đường này đem
lại cho mình nhiều sự an tâm,
nhiều năng lượng hơn.
Những năm gần đây tôi khám phá
ra rằng niềm thao thức, niềm
trăn trở ở nơi mỗi người thanh
niên phải được nuôi dưỡng, và
người thanh niên không thể nào
sống một cách thất niệm chôn vùi
đời mình trong chuyện ăn chơi
được. Thanh niên Việt Nam hồi
1940 đã làm được như vậy, trước
tình hình của đất nước họ đã
không thể tiếp tục sống cuộc
sống quên lãng, ăn chơi. Thanh
niên Việt Nam thời đó đã thức
dậy, hàng chục ngàn, hàng trăm
ngàn người đã đi vào con đường
cách mạng nhưng cũng có hàng
chục ngàn, hàng trăm ngàn đã ngã
gục trên bước đường phục vụ cho
cách mạng. Có những thầy trẻ, có
những sư cô trẻ đi tu nhưng cũng
phục vụ cách mạng và có nhiều
người bị bắn chết. Tôi đã mang
những người đó trong tôi. Liệu
lý tưởng tâm linh có thể đi đôi
với lý tưởng cách mạng? Có sự
dùng dằng giữa hai con đường,
một là cởi áo tu đi theo cách
mạng, hai là tiếp tục giữ áo tu?
Câu hỏi đó day dứt trong rất
nhiều người tu sĩ trẻ của thời
đại 1945-1950. Hồi đó tôi có
viết bài Trái Ý Thức Chín Rồi.
Tuổi trẻ tôi
Trái mơ xanh
Vết răng của em
Gây thành thương tích nhỏ
Những chân răng rúng động
Và nhớ hoài
Nhớ hoài
Đây là tình yêu của tuổi thanh
niên.
Nhưng từ thuở yêu em
Cánh cửa tôi mở rộng trước gió
Thực tại kêu gào cách mạng
Trái ý thức chín rồi
Cánh cửa
Không thể nào còn khép lại
Đó cũng là tâm trạng chung của
những người thanh niên Việt Nam
thời 1940. Một khi đã thấy được
những đau thương, những khổ nhục
của đất nước mình thì không thể
nào an tâm để sống một cuộc đời
hưởng thụ được nữa.
Nhưng từ thuở yêu em
Cánh cửa tôi mở rộng trước gió
Thực tại kêu gào cách mạng
Đòi hỏi cách mạng
Trái ý thức chín rồi
Cánh cửa
Không thể nào còn khép lại
Lửa
Lửa cháy tràn thế kỷ
Loang lổ núi rừng hoang
Gió thét ngang tai
Bão tuyết bên trời quằn quại
Vết thương mùa đông
Vết thương mùa đông nằm nhớ lưỡi
thép lạnh
Bồn chồn, trăn trở,
Nhức nhối
Thâu đêm
Những câu thơ rất ngắn, chỉ có
hai chữ, ba chữ. Những hình ảnh
vết thương và đêm không ngủ, ôm
lấy vết thương đó và nhớ lưỡi
gươm đã tạo ra vết thương của
mình.
Vết thương mùa đông
Vết thương mùa đông nằm nhớ lưỡi
thép lạnh
Bồn chồn, trăn trở,
Nhức nhối
Thâu đêm
Mình biết tình trạng của giáo
hội và của đất nước thời kỳ ấy
như vậy và ký ức đó không thể
nào phai mờ được. Mình có một
nỗi niềm thao thức, trăn trở và
chính trăn trở đó, thao thức đó
đã đưa mình đi tới. Trong hàng
vạn người thanh niên đi cách
mạng, người nào cũng có niềm
trăn trở đó nhưng họ đã đi tới
đâu? Sau hai năm, sau ba năm,
sau năm năm, sau mười năm ý chí
của họ bị nhụt đi. Tại vì họ
thiếu chất liệu nuôi dưỡng, họ
không có đủ tình thương, không
có đủ tình người, trong đó có sự
tranh đua, có sự đè nén, có sự
thủ tiêu. Vì vậy cho nên biết
bao người thanh niên bị gục ngã
trên con đường cách mạng.
Số thanh niên bị nhụt chí, chùn
chân, bị thất vọng trên con
đường phụng sự, con đường tranh
đấu, rất là đông. Có những người
chết âm thầm, có những người
chết oan ức, có những người
không có cơ hội nói ra được sự
thật trong lòng mình. Số người
sống âm thầm, chết oan khốc như
vậy ở trong các trào lưu cách
mạng đông lắm. Nếu quí vị có cơ
hội nói chuyện với những người
đã ở 10 năm, 20 năm, 40 năm
trong cách mạng và nghe họ kể
chuyện của họ thì quí vị sẽ thấy
được.
Những thao thức, trăn trở của
mình có thể đưa mình đi tới giai
đoạn nào đó trong thời đại nào
đó, nhưng nếu mình không được
nuôi dưỡng, nuôi dưỡng bằng chất
liệu rất cần thiết cho tâm linh
thì mình cũng bị khô kiệt tại vì
sức người có giới hạn. Vì vậy
cho nên chỉ trăn trở và thao
thức không thôi thì chưa đủ.
Trên bước đường cách mạng cũng
như trên đường tu học mình phải
được nuôi dưỡng, phải có môi
trường trong đó mình vừa phấn
đấu, vừa được trị lành những
thương tích.
Nếu không có môi trường thích
hợp, không được nuôi dưỡng thì
không thể đi xa được và mình sẽ
chết giữa đường, khi ấy chí
hướng của người thanh niên không
thể thành tựu được. Nghĩ như vậy
thì chúng ta thấy cảm thông cho
biết bao nhiêu triệu người thanh
niên Việt Nam đã bị ngã gục.
Trong nửa đầu thế kỷ 20 vừa qua,
những người thanh niên có dư bầu
nhiệt huyết, có dư năng lượng
của sự chiến đấu nhưng họ lại
không được nuôi dưỡng trong môi
trường của họ, môi trường của tổ
chức, môi trường của đảng, môi
trường của xã hội, mà trong đó
chỉ có sự giành giật, sự lấn áp,
sự thủ tiêu, mà không có đủ sự
nâng đỡ, nuôi dưỡng và thương
yêu.
Chuyện ngoài đời như vậy mà
chuyện trong đạo cũng như vậy,
một tổ chức giáo hội cũng có thể
có sự hư hỏng, cũng có sự tham
nhũng, hủ hóa. Những người lãnh
đạo trong giáo hội có thể hoạt
động trên cơ sở cái ngã của danh
và lợi. Ngoài đời thì họ xôi
thịt, danh lợi, còn trong đạo
thì có thể “xôi chuối” thôi.
Danh lợi trong chùa tuy “chay”
hơn nhưng nó vẫn là danh lợi như
thường.
Người trẻ khi thấy những người
lớn bị vướng vào vòng danh lợi
thì họ mất niềm tin, họ không đi
tới được và họ cũng “chết” như
những người đi làm cách mạng.
Biết bao nhiêu người tu cũng đã
chết theo cái kiểu đó. Cởi áo tu
đi ra đời là gì nếu không phải
là cái “chết” của người tu? Bao
nhiêu người đã chết trong môi
trường của sự tu học? Mình có dư
ý chí, có dư sự thao thức, mình
có dư sự trăn trở nhưng mình
không có được sự nuôi dưỡng,
mình không có được sự vỗ về,
không có đủ tình thương.
Làm người xuất gia, Tôi đã đi
ngang qua những kinh nghiệm đau
thương đó, không những ở ngoài
đời mà còn trong đạo nữa. Tôi sẽ
đọc một bài thơ nói lên thông
điệp đó:
Trán tôi đã từng nhăn
Và ưu tư cuộc đời đã về ghi dấu
chân nặng nề
Trên khoảng trời mai ấy
Nhưng trẻ thơ tâm hồn tôi hôm
nay trở lại
Hoa lá về trên nụ cười buông thả
Vô tình xóa mờ những nếp nhăn đi
Vầng trán của người thanh
niên là một bình minh nhưng cuộc
đời đã ghi dấu nhăn lên trên đó.
Nếp nhăn đó vừa do hoàn cảnh xã
hội bên ngoài tạo ra và cũng vừa
do hoàn cảnh của giáo hội đem
lại.
Nhưng trẻ thơ tâm hồn tôi hôm
nay trở lại
Rồi không biết vì lý do nào
đó mà hôm nay những nếp nhăn
trên trán biến đi. Như trẻ thơ
tâm hồn tôi hôm nay trở lại, có
nghĩa là tâm hồn tôi hôm nay trở
lại như tuổi thơ.
Hoa lá về trên nụ cười buông thả
Vô tình xóa mờ những nếp nhăn đi
Mình có thể cười được và vì
cười được nên những nếp nhăn
trên trán biến đi.
Như mưa chiều nay xóa đi
những dấu chân trên bãi vắng -
qua một chu kỳ.
Tôi đi giữa rừng chông gai
như đi giữa vườn kỳ hoa dị thảo
Đó là một phép lạ, khi mình
đi trong rừng chông gai mà mình
thấy như mình đi trên vườn kỳ
hoa dị thảo.
Đầu cất cao, nụ cười ngày xưa
còn đó
Những vần thơ đã nở trong tiếng
gào súng đạn
Nước mắt ngày xưa khóc nắng quái
chiều hôm
trên chiến trường vàng vọt
Bỗng đã trở thành mưa.
Tiếng mưa rơi êm êm trên mái lá
Quê hương tuổi thơ thầm gọi tôi
về
Mưa xóa đi bao tâm tư sầu muộn
Có những người có quê hương
tuổi thơ rất đẹp và khi ấy phải
về cầu cứu cái quê hương đó.
Tôi vẫn còn - nụ cười chiều nay
bình lặng
Trái ngọt chín trên cây rừng cay
đắng
Ôm xác em thơ, tôi băng qua
ruộng lúa quê hương đêm nay
(Trong thời kỳ chiến tranh,
biết bao nhiêu người vào nhà
thương ôm xác người em của mình,
người anh của mình băng qua
ruộng lúa.)
Đất mẹ sẽ gìn giữ em
Để trên bãi cỏ xanh non,
sáng mai này em sẽ luân hồi
thành những bông hoa mới
Những bông hoa cười trầm lặng
trong bình minh đồng nội.
Giờ phút này em có còn khóc đâu
– qua một đêm dài thăm thẳm sâu
Sáng nay tôi quỳ trên bãi cỏ
xanh
khi trông thấy những bông hoa
mang nụ cười huyền diệu
Thông điệp của hy sinh của hiểu
biết quả đã tới nơi rồi.
Hồi tôi còn trẻ, tôi đã thấy
những người bạn tu, những người
thanh niên 25 tuổi, 20 tuổi, 18
tuổi, 17 tuổi, 16 tuổi bị bắn
chết. Khi đi tu tức là mình phải
nhập vào một đoàn thể và mình
đặt hết niềm tin vào đoàn thể
đó, nhưng cũng có thể trong đoàn
thể đó có người phản bội mình,
phản bội lý tưởng của chính họ.
Mình đi làm cách mạng, mình phải
đặt niềm tin nơi đảng; mình đi
tu mình phải niềm tin nơi giáo
hội, nhưng đảng có thể phản
mình, phản bội lý tưởng của
người trẻ; giáo hội có thể phản
bội lại niềm tin của người xuất
gia trẻ. Tôi sẽ đọc bài “Xin Cúi
Đầu Đưa Về”, bài này nói lên
những khổ đau của tôi đối với
những người trong giáo hội thời
bấy giờ.
Nếu đọc bài này mà không để ý
thì không thấy được.
Đây hai bàn tay tôi
Xin trả về cho em
Thành khẩn nguyện cầu xin đừng
nghiến nát
Tôi đã trở về, như một kẻ đầu
hàng ngoan ngoãn
Dù muôn khổ đau, lòng không oán
thán,
Bởi vì dưới ngôi sao em tôi đã
sinh ra,
Bởi vì vì em tôi mới sinh ra
Để vạn kiếp làm người trai khờ
dại
Người ta phụ mình nhưng mình vẫn
cứ thương. Mình thương Tăng bảo,
mình đặt hết niềm tin vào Tăng
bảo nhưng Tăng bảo không đủ
“bảo”, Tăng bảo có phần tử vì
danh, vì lợi đã phản bội mình,
phản bội lý tưởng của mình. Mình
gọi là người yêu của mình, mình
nói là em, em đây tức là tổ chức
giáo hội. Đầu hàng thôi, mình đã
bỏ đi rồi nhưng bỏ đi không được
phải trở về xây dựng tăng thân,
dù tăng thân hư hỏng, dột nát
thì vẫn phải trở về để xây dựng
lại tăng thân, không có sự lựa
chọn thứ hai.
Đâyhai bàn tay tôi
Xin trả về cho em
Thành khẩn nguyện cầu xin đừng
nghiến nát
hai bàn tay đã từng bị nghiến
nát rồi và mình đã băng bó cho
lành rồi để bây giờ đem dâng
lại. Mình chỉ có hai bàn tay
thôi, hai bàn tay của một người
trẻ, hai bàn tay để mà thương
yêu, để mà xây dựng, đóng góp
nhưng bàn tay cứ bị nghiến nát
hoài, nên có khi giận, có khi
buồn bỏ đi, rồi vì thương nên bị
nghiến mà vẫn trở về.
Tôi đã trở về, như một kẻ đầu
hàng ngoan ngoãn
Dù muôn khổ đau, lòng không oán
thán,
Bởi vì dưới ngôi sao em tôi đã
sinh ra,
Bởi vì vì em tôi mới sinh ra
Để vạn kiếp làm người trai khờ
dại
Yêu rồi bị phụ tình, phụ tình
mà vẫn cứ yêu như thường mới lạ?
Đây là hai bàn tay tôi
Là trái tim
Là khối óc
Là cuộc đời
Là tất cả những gì còn sót lại
Những bàn tay không mang quyền
phép lạ
Nhưng đã hơn một lần nhỏ máu
trên cung bậc thương yêu.
Trên phím Piano đó, trên cây
Guitar đó, những ngón tay này đã
đàn, những bản nhạc của thương
yêu, của phụng sự nhưng những
ngón tay đó đã nhỏ máu. Thương
hết sức, thương bằng tất cả trái
tim của mình chứ không phải là
thương sơ sơ.
Đây hai bàn tay tôi
Xin trả về cho em
Kẻ thương yêu, mẹ dạy, không bao
giờ tính toán
Cỏ mộ úa vàng, cũng như hoa hồng
đương lứa
Thương yêu muôn đời vẫn hạt
sương trong
Người ta có sao thì sao mình
vẫn cứ thương như thường.
Đây hai bàn tay tôi
Xin cúi đầu đưa về
Em nhìn xem: những vết thương
ngày xưa vẫn chưa lành dấu máu
Mười ngón đơn sơ hồn em xin đậu
Như những giọt sương ngời đầu
ngọn cỏ rung rinh
Đây là những câu đẹp nhất của
bài thơ. Những ngón tay của mình
dâng hiến cho lý tưởng, cung đàn
của thương yêu, của phụng sự và
dầu mình có nhỏ máu trên năm đầu
ngón tay thì mình vẫn phải tiếp
tục như thường.
Đây hai bàn tay tôi
Một kiếp luân hồi chưa xóa nhòa
thương tích
Nụ cười còn đây, tôi không bao
giờ oán trách
Còn đây tâm hồn thơ dại ngày xưa
Đây hai bàn tay xưa
Băng bó vẫn chưa lành
Tôi mang về trả lại
Thành khẩn nguyện cầu xin đừng
nghiến nát
Nguyện cầu mười phương trăng sao
chứng minh.
Những bài thơ này không phải là
thơ, những bài thơ này là xương
thịt của sự sống hàng ngày. Nếu
quí vị có thì giờ tìm đọc truyện
ngắn của tôi, câu chuyện “Người
Con Trai Khờ Dại.” Dù bị phụ
tình hoài mà vẫn cứ trở về như
thường. Bí quyết của tôi là chỗ
biết rằng mình phải nuôi dưỡng
chính mình, đừng để cho nguồn
năng lượng của mình bị khô cạn.
Tôi viết những câu rất đơn sơ:
Quê hương tôi là đây
Chỉ có dòng sông, hàng cau, bụi
tre, vườn chuối.
Mặt trái đất dù mang đầy cát bụi
Nhưng trăng sao vẫn đẹp những
đêm Rằm
Tuy trên mặt đất nơi mình đang
đứng có nhiều bụi nhưng mỗi khi
ngước mặt lên thì mình vẫn tiếp
xúc được với trăng sao trên bầu
trời. Vừa có một thế giới của
trần lụy, của nhỏ mọn, ganh đua
nhưng cũng có một thế giới của
tâm linh lung linh đầy mầu sắc
nếu mình không bỏ cuộc. Nếu
không thua cuộc chính là nhờ
mình tiếp xúc được với thế giới
đó. Có một câu ngạn ngữ nói
rằng: “đừng tự khinh mình”. Phải
biết rằng mình rất quí giá tại
vì mình được làm bằng trăng sao.
Ở trong ta có trăng sao, có tinh
hà.
Trong tôi có ngọn hùng phong
Vẫn vươn cao, trời mây khói
Trong tôi có một tinh hà chuyển
động âm thầm
Những triệu tinh cầu sáng chói
Trong con người của mình có
hai phần, một phần đất bụi và
một phần trăng sao. Nhưng mình
đừng mặc cảm vì là đất bụi, cũng
đừng có tự hào quá vì chất liệu
của trăng sao.
Mỗi khi tiếp xúc với những cái
trần tục, với những cái hèn mọn,
nhỏ nhoi thì mình đừng quên rằng
trăng sao vẫn còn đó, chỉ cần
ngẩng đầu lên thì sẽ thấy năng
lượng, niềm tin của mình không
hề mất đi. Đây là chuyện rất
quan trọng đối với người tu. Cho
nên có một bài thơ tôi đã tự
nhắc lại cho mình cái câu đó, nó
giống như là ngẫu nhiên mà không
phải ngẫu nhiên. Đó là bài Tươi
Son Bền Sắt, hãy giữ cho mình
được tươi như là một thỏi son,
bền vững như một thanh sắt:
Trăng sao vẫn đẹp đêm Rằm
Bãi dương vẫn mướt, sóng tùng
vẫn xao
Có những bãi tùng rất lớn, khi
gió thổi tùng như là sóng. Khi
tiếp xúc với những khổ đau,
tuyệt vọng, mình có thể đánh mất
thăng bằng, vì vậy phải tìm cách
thiết lập lại sự thăng bằng để
vượt qua giai đoạn của cơn bão
tố đó.
Lòng quê dù có khát khao
Hoa mai vẫn cứ đồi cao gọi mời
Tháng tư lá lục hoa cười
Cho trăng thêm tuổi, cho đồi
thêm xuân
Vườn xanh cây mướp trổ bông
Trẻ thơ đùa giỡn trước sân nắng
đào
Chợ Văn bán sách lầu cao
Muối dưa đắp đổi hôm nào cũng
vui
Đây là năm 1975, là thời điểm
tất cả các cơ sở của giáo hội,
tất cả những hoạt động văn hóa
xã hội bị ngưng hết điều này đã
gây ra rất nhiều khổ đau cho đất
nước, cho những người đồng hành
trên con đường tu học. Vì vậy,
trong lúc đó nếu muốn sống sót
phải biết nhìn lên, nhìn lên để
tiếp xúc với trăng sao. Những
câu thơ này không phải để ca
tụng trăng sao đẹp, ca tụng bãi
dương, sóng tùng, ca tụng hoa
mai, ca tụng tháng tư, trường ca
Avril mà là để nhắc cho mình
rằng ngoài bình diện của khổ
đau, của tuyệt vọng thì còn có
bình diện của sự nhiệm mầu của
trăng sao. Những hình ảnh đó
không làm cho mình tuyệt vọng,
những hình ảnh đó nó nuôi dưỡng
mình. Bài này tôi viết ở Phương
Vân Am.
Chợ Văn bán sách lầu cao
Muối dưa đắp đổi hôm nào cũng
vui
Hồi đó thầy trò xuất bản sách và
bán sách.
Xót quê lòng cũng ngậm ngùi
Tin quê dồn dập tới lui chẳng
ngừng
Chùa xưa vắng tiếng chuông ngân
Trẻ kia cha mẹ gởi thân tù đày
Văn nhân nghệ sĩ bó tay
Con thơ nheo nhóc chẳng ai ngó
ngàng
Sóng xô nghiêng vịnh Thái Lan
Bao nhiêu tuổi ngọc chìm làn
nước sâu
Cái bi kịch của thuyền nhân, cái
bi kịch của các chùa bị đóng cửa
và các thầy bị đi học tập cải
tạo thì chỉ có tám câu thôi
nhưng vì tám câu đó nên mới có
mười hai câu trước và nếu không
có mười hai câu trước thì tám
câu kia nó sẽ làm cho mình ngã
quỵ. Trong tình trạng đó mình
chưa tìm ra cách nào để có thể
nâng đỡ cho những người đang kẹt
vào trong tình huống khổ đau đó,
tại vì bao nhiêu công tác của
mình ở nhà đều bị ngưng lại hết.
Không những người tu sĩ mà là
người cư sĩ cũng vậy, không
những nhà chính trị, những nhà
văn hóa mà những nhà nghệ sĩ đều
bị đi vô tù hết.
Tấm thương, lòng vẫn nguyện cầu
Nỗi đau dường ấy, làm sao đỡ
đần?
Nỗi đau khổ quá lớn, trong khi
đó thì mình không được phép làm
gì để yểm trợ, giúp đỡ. Có cái
gì giống như là niềm tuyệt vọng
và đó là giai đoạn khó khăn mà
mình phải đi ngang qua. Khi ấy
phải cầu cứu tới trăng sao, cầu
cứu tới hoa mai, cầu cứu tới trẻ
thơ.
Trước sau xin chớ ngại ngần
Những bàn tay ấy tình thâm vẫn
tròn
Giữ cho bền sắt tươi son
Giữ cho tâm lặng giữa cơn ba đào
Rất là tuyệt vời, giữ cho bền
sắt tươi son, cho bền, cho tươi,
hai cái đó là sắt là son. Son
thì luôn luôn là đỏ thắm và sắt
thì luôn luôn bền vững, đó là
bản chất của người tu, đó là bản
chất của nhà cách mạng.
Siddhatta có những đêm ngồi
trong rừng, sức khỏe hao mòn gần
như tuyệt vọng, ban đêm ngồi
thiền dưới gốc cây, nghe một
cành cây khô gãy, tưởng tượng là
có con trăn đang trườn tới làm
gãy. Có tiếng lá khô xào xạc,
tưởng tượng là có một con cọp
đang từ từ tiến lại. Siddhatta
xa hoàng cung đã bốn năm, năm
năm mà vẫn chưa làm nên một công
trạng gì hết, giờ này thì vẫn
đang ngồi một mình trong rừng,
còn những người bạn đồng tu đã
bỏ chàng đi hết, những lúc đó
thật là khó khăn, nếu không có
son, không có sắt thì không thể
nào tiếp tục được.
Giữ cho bền sắt tươi son
Giữ cho tâm lặng giữa cơn ba đào
Còn đây nắng gọi đồi cao
Còn đây những gốc anh đào trước
sân
Còn đây trăng đẹp đêm Rằm
Còn đây dương mướt sóng tùng năm
xưa
Bài thơ này là một chứng tích
của một cuộc tranh đấu nội tâm
để mình có thể đứng vững trên
con đường của mình. Bây giờ mời
đại chúng nghe bài “Thơ Từng Ôm
và Mặt Trời Từng Hạt”. Bài thơ
này nếu không quen thì sẽ thấy
nó hơi lạ, cố nhiên không quen
thì là lạ rồi, tại vì không biết
tác giả muốn nói gì trong này.
Nắng trên không gian và thơ trên
nắng
Thơ làm ra nắng nắng ra thơ
Đây có phải là những suy luận
triết học? Hay thi sĩ muốn diễn
bày một giáo lý nào đó? Thơ là
một cái gì rất là hiện thực. Thơ
là nỗi khổ, niềm đau; thơ là hy
vọng, là niềm vui; thơ là sự
giải thoát. Có thơ vào tất cả
đều thay đổi hết.
Nắng trên không gian và thơ trên
nắng
Nếu không có thơ trên nắng thì
nắng không còn là nắng nữa và
mình sẽ không thấy mình, nhờ thơ
mình còn thấy được nắng, cho nên
có nắng là có thơ và có thơ là
có nắng, nắng và thơ tương tức.
Thơ làm ra nắng nắng ra thơ
Mặt trời cất chứa trong lòng
trái khổ qua
Thơ bốc thành hơi trên bát canh
mùa Đông,
trong khi bên ngoài gió hú
Thơ theo gió đi về cồn xưa bãi
cũ
Mái tranh nghèo còn đứng đợi ven
sông
Mùa hè mình trồng rau và có thể
khổ qua ra trái nhiều quá ăn
không hết, mình đem để dành
trong tủ đá. Vào mùa Đông,
khoảng tháng giêng mình đem ra
để nấu canh. Mình thấy rõ ràng
rằng trời lạnh như vậy, mặt trời
đi vắng luôn cả tháng không chịu
xuất hiện, nhưng mình vẫn thấy
được mặt trời ở trong trái khổ
qua, trái khổ qua đã giữ mặt
trời lại cho mình, mình chứa mặt
trời ở trong tủ đá và bây giờ
mình lấy khổ qua ra thì khổ qua
nói: Ở trong tôi có mặt trời.
Mặt trời đâu phải chỉ ở ngoài,
nó có cả ở trong nữa. Có khổ qua
tức là có thơ rồi, có khổ qua là
có bát canh mùa đông và bát canh
đó bốc hơi lên. Thơ là đó chứ
thơ ở đâu nữa?
Mùa Đông ở Làng Mai có nhiều khi
như vậy, mùa Đông năm nay rất
lạnh. Có những mùa Đông cứ mưa,
mưa, mưa hoài… không thấy mặt
trời đâu hết, chỉ thấy một màu
xám xịt và gió hun hút. Thơ theo
gió thì mình nghe gió, đi theo
gió, gió đi đâu, mình đi đó. Thơ
theo gió, đi đâu? Đi về cồn xưa
bãi cũ và mình thấy.
Mái tranh nghèo còn đứng đợi ven
sông
Lời thề của mình năm xưa nó còn,
nhìn lên trời không hổ câu vàng
đá. Khi ra đi, cũng như
Siddhatta, mình đã phát lời
nguyền lớn, bây giờ nhìn lên
trời, mình không thấy hổ thẹn
với lòng, tại vì đời sống của
mình không có giây phút nào
trong đời sống hàng ngày mà mình
phản lại lời thề năm xưa. Mình
vẫn còn là mình. Anh vẫn còn là
anh chứ? Chị vẫn còn là chị chứ?
Em vẫn còn là em chứ? Mình đã
phản bội mình chưa? Mình đã phản
bội lại cái câu gọi là đá vàng
năm ấy chưa?
Tại vì ngày xưa, trăng sao đều
chứng giám cho lời nguyền của
mình. Làm sao để nhìn trăng mà
không thấy mắc cỡ? Trong Kiều có
câu:
Thấy trăng mà thẹn những lời non
sông
Lời thề non sông là gì? Là lời
nguyền khi mình đi xuất gia,
mình đã hủ hóa chưa? Mình đã
phản bội lý tưởng xuất gia của
mình chưa? Mình đã để Bồ đề tâm
của mình chết rũ chưa?
Thơ theo gió đi về cồn xưa bãi
cũ.
Vẫn canh cánh bên lòng. Tình
trạng xã hội, tình trạng đất
nước, tình trạng quê hương, nó
vẫn còn là đối tượng, chí hướng
của người xuất gia, cho nên
trong vùng tâm thức đó, mái
tranh nghèo năm xưa bên bờ sông
nó hiện ra và nói : Tôi vẫn đang
chờ đợi. Mình chưa phản bội lời
thề năm cũ. Trong khi ăn bát
canh ở cái vùng rất xa lạ, thơ
của mình chợt sống dậy, thơ của
mình đi theo gió và gió đưa mình
về ven sông để thấy được mái
tranh nghèo còn đứng đợi. Mình
chưa phản bội, mình chưa bao giờ
phản bội. Lời nguyền xưa còn
nguyên vẹn như trái tim ban đầu.
Thơ nơi từng giọt mưa Xuân
Thơ trong từng đốm lửa hồng
Mưa Xuân có đó, lửa hồng có đó
và thơ bao giờ cũng còn đó. Thơ
là chất liệu của lý tưởng, thơ
là sự sống của từng giây, từng
phút.
Nắng cất chứa trong lòng gỗ
thơm.
Khi mình lấy ra một thanh gỗ để
bỏ vào lò suởi, mình phải thấy
rõ ràng đó là nắng, tại vì mình
cần năng lượng của mặt trời để
sưởi ấm, bây giờ mặt trời bị mây
che lấp thì thanh củi này nó đại
diện cho mặt trời vì thanh gỗ
chứa mặt trời trong đó.
Nắng cất chứa trong lòng gỗ
thơm.
Khói ấm đưa thơ về trên trang
ngoại sử
Nhờ sức ấm của mặt trời từ gỗ
thơm đưa ra mà mình ngồi đó và
mình viết được những trang của
tác phẩm « Am Mây Ngủ ». « Am
Mây Ngủ » là một ngoại sử, một
truyện thuộc lịch sử nhưng mà
không phải là chính sử. Vì vậy
cho nên mặt trời, trái khổ qua,
bát canh mùa đông bốc hơi lên là
những nguyên tố làm ra tác phẩm
« Am Mây Ngủ », tác phẩm viết về
Trúc Lâm Đại Sĩ và công chúa
Huyền Trân.
Nắng cất chứa trong lòng gỗ thơm
Khói ấm đưa thơ về trên trang
ngoại sử
Nắng vắng trong hư không,
nhưng nắng chất đầy một lò sưởi
đỏ.
Ai nói là không có nắng? Nắng
trong trái khổ qua, nắng
trong lò sưởi.
Nắng lên thành mầu Khói, thơ
đọng lại thành mầu Sương.
Không có sự xa cách nào hết,
nắng luôn luôn có đó cho mình và
vì vậy thơ cũng luôn luôn có
mặt.
Nắng lên thành mầu Khói,
thơ đọng thành mầu Sương
Nắng cất giữ trong từng hạt mưa
Xuân
Giọt nước cúi xuống hôn đất, cho
hạt cây nẩy mầm
Thơ đi theo mưa, về trên từng
đọt lá
Nắng thành mầu xanh, thơ mầu
hồng
Thơ cũng có mầu và nắng không
phải chỉ là mầu vàng hay là mầu
đỏ. Nắng có thể là mầu xanh.
Mình là người tu thì mình có khả
năng thấy được nắng trong màu
xanh. Tại vì nếu không có nắng
thì làm sao có màu xanh của cây
cỏ? Cho nên thấy màu xanh của
cây cỏ là phải thấy nắng, không
thấy như vậy thì không thấy được
duyên sinh mà không thấy được
duyên sinh thì không thấy được
Bụt, dầu cho mình vào chánh điện
một ngày mười lần cũng vậy. Cho
nên mình phải thấy nắng là mầu
xanh và mình phải thấy nắng
trong những màu khác, mình phải
thấy thơ màu hồng và thơ thêm
nhiều màu sắc khác nữa.
Nắng chở trên cánh ong tới trút
ấm lên đài hoa
Khi con ong bay, nó chở những
tia nắng trên đôi cánh và khi nó
bay tới bông hoa thì nó trút
nắng lên trên đài hoa.
Thơ theo nắng về rừng xa uống
mật
Có những tổ ong trong rừng và
thơ theo nắng về rừng xa uống
mật. Tại vì hoa với ong vốn gần
nhau lắm. Hoa, ong với mật là
một cho nên thơ mà đi theo nắng
thì thơ thể nào cũng theo ong,
mà thơ đi theo ong thì thơ thế
nào cũng về rừng và thơ thành
mật.
Tưng bừng, xôn xao, bướm ong về
chật đất
Nắng làm nên khúc múa, thơ làm
nên lời ca
Chiều nay, trong buổi văn nghệ
các sư cô có múa và cái đó do
thơ làm ra hết. Nắng làm nên
khúc Múa. Ta thử nghĩ xem cái gì
làm nên khúc múa nữa? Nếu không
phải là nắng, nếu không có nắng
thì làm sao quí vị múa được? Nếu
trong quí vị không có nắng và
không có thơ và không có khổ qua
thì làm sao múa được?
Mồ hôi giọt xuống đất khô, thơ
bay trên luống cày
Thơ bây giờ trở thành mồ hôi
của người nông dân, nhỏ từng
giọt xuống đất khô.
Cán cuốc trên
vai, thơ vào ra theo nhịp thở
Nắng rụng bên sông, bóng chiều
ngập ngừng bỡ ngỡ
Thơ đi về chân trời, nơi vầng
sáng đang đắp chăn mây
Chăn mây là cái mền làm bằng
mây, đắp cho một người sắp đi
ngủ và người đó là mặt trời. Mặt
trời sắp đi ngủ và mây làm cái
mền đắp cho mặt trời.
Mặt trời xanh rờn một rổ rau
tươi
Mặt trời dẻo thơm trong bát cơm
gạo Tám
Các vị có thấy rằng nắng mầu
xanh, nhìn vào rổ rau tươi đó
mình thấy mặt trời. Mình chưa
nhìn thấy mặt trời trong rổ rau
xanh là mình chưa thấy rau mà
cũng chưa thấy mặt trời. Người
tu là người quán chiếu về tự
tánh duyên khởi, người tu nhìn
vào rổ rau xanh là thấy được mặt
trời và thấy được mặt trời thì
mới thật sự thấy được rổ rau
xanh, còn không thấy được như
vậy thì không thật thấy cái gì
hết. Việt Nam có gạo Tám thơm
rất ngon, khi nhai hạt cơm gạo
Tám thơm là thấy như mình nhai
mặt trời, còn nếu không thấy tức
là mình đang ăn trong thất niệm,
ăn trong thất niệm tội lắm đó!
Thế nào quí vị cũng đã từng được
ăn cơm gạo Tám rồi mà quí vị
không biết rằng mình đã ăn cơm
gạo Tám. Có ai nói mặt trời dẻo
thơm không?
Thơ trong ánh mắt em thơ,
thơ trong mầu da nắng sạm
Thơ nơi từng cái Nhìn chăm chú
Thơ nơi từng bàn tay vun xới
miền đồng chua nước mặn xa xăm
Đã là người tu thì phải nhìn với
con mắt chánh niệm, phải có định
lực, nhìn chăm chú, sâu sắc để
có thể thấy hết được chân tướng
của sự vật. Nhìn rổ rau phải
thấy được mặt trời, thấy được
nắng, mưa. Muốn như vậy thì phải
thực tập chánh niệm trong mỗi
giây phút của đời sống hàng
ngày.
Mặt trời cười tươi trên bông
hướng dương
Mặt trời trĩu nặng nơi trái đào
Tiên tháng tám
Mình đã đi tới tháng tám rồi.
Thơ nơi từng bước chân thiền
quán
Nếu mà sư chú bước những bước
chân có chánh niệm là sư chú
đang làm thơ, nếu mà sư cô đang
nhìn với ánh mắt của chánh niệm
là sư cô đang làm thơ. Và sáu
năm mà Siddhatta ở trong rừng để
tu tập khổ hạnh là sáu năm làm
thơ và nguồn thơ đó nó đã tỏa
chiếu, nó đã trôi về cho nhân
loại trong suốt 2500 năm.
Thơ nơi từng dòng chữ
Dòng chữ của cái gì ? Dòng
chữ của những trang sách ngoại
sử.
Thơ nơi từng nắp hộp kín đáo
nuôi tình Thương.
Hồi đó, trước tình hình của đất
nước chúng tôi không làm được gì
nhiều về phương diện cứu trợ xã
hội. Khi ấy đang ở nước ngoài,
tuy không thể gửi tiền về cho
những người nghèo được nhưng mỗi
ngày thầy trò đều gói những gói
quà gửi về Việt Nam với danh
nghĩa là thân nhân. Ai cũng biết
rằng thuốc Tây thời đó có giá
trị kinh tế cao nên thầy trò đã
gửi những hộp thuốc Tây về và
biết rằng những loại thuốc nào
thì người nhận có thể giữ lại
một hộp để uống còn những hộp
thuốc khác đều đem bán để lấy
tiền để mua gạo và mua thức ăn.
Có biết bao nhiêu người cần được
cứu trợ mà ở nhà chưa có thuốc
tây, hồi đó đất nước bị phong
tỏa nên thuốc men rất thiếu
thốn, người dân chỉ dùng toàn
thuốc dân tộc, chưa có "thuốc
phi dân tộc" mà thiên hạ lúc ấy
rất cần những "thuốc phi dân
tộc" như: vitamin B, B1, B6,
B12. Đối tượng mà thầy trò tôi
gửi những thùng thuốc ấy là
những gia đình có người đi học
tập cải tạo, cho những trẻ em
đói, cho các gia đình văn nghệ
sĩ. Khi nhận được những gói quà
này thì các gia đình có thể sống
được trong ba tháng hay là bốn
tháng và cũng có thể có phương
tiện đi thăm nuôi những người
đang ở trong tù hay trong các
trại học tập cải tạo.
Hồi ấy người
ta chưa vượt biên nhiều, chưa có
thuyền nhân nhiều, chưa có đồng
bào ở Cali, ở Pháp để có thể gửi
tiền về cho người thân của họ,
nhưng mình đã "sản xuất" ra
không biết bao nhiêu là “thân
thân nước ngoài”. Theo luật lúc
đó thì mỗi gói quà gởi về chỉ
được tối đa là 1 kg, cho nên
mình đã chọn những loại thuốc có
thể bán được tiền nhiều nhất và
trong những nắp hộp đề có ghi
lời căn dặn: “Thuốc này rất quý,
thuốc này phải bán với giá này
mới không bị lỗ, còn cái hộp này
có thể giữ lại để trị bệnh cho
gia đình và phải uống như thế
này, thế này…” Người nhận được
hướng dẫn rất kỹ cách sử dụng để
có thể vừa trị bệnh cho gia đình
vừa mua được gạo mà cầm cự sống
sót qua mấy tháng trước khi nhận
được một gói quà mới.
Bưu điện mỗi ngày nhận hàng trăm
gói quà như vậy và họ rất lấy là
lạ. Những gói quà gửi về Hà Nội,
Huế cho tới Sài Gòn. Thầy trò
chúng tôi đều thực tập chuyện
gói quà, lấy dây để cột và viết
những hàng hướng dẫn trên nắp
hộp một cách rất khéo để không
bị hiểu lầm là bức thư có tính
cách chính trị.
Người họ Đào thì có thân nhân họ
Đào ở bên này gởi về, người họ
Lê thì có thân nhân người họ Lê
gởi về, toàn những cái thân, cái
tên hóa ra hết. Vì vậy mình cần
rất nhiều hóa danh và hóa thân,
ví dụ ở bên kia là Đào Duy Từ
thì bên này có cháu là Đào thị
Mây, bên kia là Lê Thương thì
bên này là Lê thị Phương Hương.
Như một phép lạ, có những văn
nghệ sĩ đã buông bút, không sáng
tác nữa vậy mà khi nhận được
những gói quà và những lời thăm
hỏi khơi gợi cảm hứng, đã thúc
đẩy họ họ sáng tác trở lại. Thầy
trò làm việc dưới sự chỉ huy của
sư cô Chân Không, sư cô rất giỏi
về lĩnh vực này, sư cô biết rất
rõ thuốc này là thuốc nào, đáng
giá bao nhiêu, làm sao để không
bị đánh lừa, làm sao để bán được
với giá cao nhất và những điều
đó đều được ghi lại trong những
bức thư.
Hồi ấy phải làm một cách rất là
kín đáo, để không ai biết là
mình làm việc cứu trợ xã hội.
Làm kín đáo thì bên kia mới có
an ninh và việc làm này hoàn
toàn không có danh, có lợi gì
hết. Mỗi tuần thầy trò nhịn đói
một buổi chiều để nhớ là bên quê
nhà dân mình đang đói khổ. Tôi
nhớ là thầy trò tôi đã sống một
cách rất xứng đáng trong thời
gian đó và vượt thắng được những
thất vọng, những u buồn, những
gánh nặng bằng phương pháp tiếp
xúc với những mầu nhiệm của sự
sống và nuôi lớn tình thương ở
trong trái tim của mình, chớ
không để cho nó khô héo và chết
dần chết mòn.
Trong cuộc đời có những lúc
chúng ta rơi vào tình trạng bế
tắc, không biết mình có thể làm
được gì nhưng một khi đã tìm ra
được một vài việc có thể giúp
cho chí hướng phục vụ, chí hướng
thương yêu được biểu hiện thì
trong người mình bỗng cảm thấy
nhẹ nhàng và mình có thể sống
vui được trong hoàn cảnh đó, còn
nếu như khi ấy mình bị hoàn cảnh
chi phối, mình sống một cách bất
động không tìm ra con đường nào
để đi hết thì rất là khó sống.
Nếu không có thơ, nếu không có
nắng, nếu không có bát canh khổ
qua, nếu không có hoàng hôn, nếu
không có những bước chân thiền
quán, nếu không có những dòng
ngoại sử, nếu không có những nắp
hộp để mình dàn trải tình thương
của mình vào đó thì làm sao mình
sống được? Và đó là nuôi tình
thương. Tình thương ở đâu mà
nuôi? Tình thương bên nhà hay là
bên này? Tình thương nằm trong
trái tim mình và mình phải nuôi
tình thương thì mình mới sống
được. Chừng nào tình thương của
mình chết là chừng đó mình cũng
chết luôn. Bởi vậy, người tu là
người phải biết nuôi tình thương
và có khi phải nuôi cho kín đáo,
đừng có rầm rộ. Ngoài ra cũng
phải nuôi mình bằng thơ nữa nếu
không mình cũng sẽ chết.
Bài thơ này có tựa đề là Thơ
Từng Ôm và Mặt Trời Từng Hạt.
Thường thường người ta nhìn mặt
trời như những luồng ánh sáng
nhưng ở đây mình thấy từng hạt.
Tại vì không có mặt trời thì làm
sao mà nước bốc thành hơi, hơi
trở thành mây và đến khi mây
nặng thì hóa thành mưa rơi xuống
dưới dạng những hạt nước và mình
phải thấy trong những hạt mưa có
mặt của mặt trời. Vì vậy mặt
trời có thể thấy được từng hạt
và thơ có thể thấy từng ôm, ta
dễ thấy một ôm hoa hay một ôm lá
nhưng ta cũng thấy được một ôm
mặt trời. Mình đã rất nhiều lần
ôm từng ôm mặt trời đưa vào
trong nhà, chất lại, nó là những
ôm củi, tại vì trong những ôm
củi đó có chất chứa mặt trời bên
trong.
Bài “Thơ từng ôm và mặt trời
từng hạt” sử dụng một hình ảnh
mầu nhiệm của tương tức và tương
tục để nói lên nếp sống lý tưởng
của mình. Tuy không có mục đích
để nói, nhưng tự thơ đã phản ảnh
lại sự sống hàng ngày của mình
và bài thơ nào cũng có chất liệu
của sự nuôi dưỡng. Nếu tình
thương của anh, của chị không
được nuôi dưỡng thì anh, chị sẽ
chết. Chết với tư cách của một
người làm cách mạng, chết với tư
cách của một người tu. Vì vậy
phải tự lo liệu cái thân của
mình mà lo cho thân mình tức là
lo cho lý tưởng của mình, lo cho
tăng thân của mình. Đừng bao giờ
để cho mình bị khô cạn, bị đốt
cháy, đừng để cho khổ đau tiêu
diệt mình, đừng để cho tuyệt
vọng xâm chiếm mình. Cuộc đời
của người đi tu cũng không khác
gì cuộc đời của một nhà cách
mạng. Biết bao nhà cách mạng đã
ngã gục trên con đường lý tưởng
của mình, biết bao người tu cũng
ngã gục trên con đường lý tưởng
của mình. Vì vậy cho nên cả
người cách mạng, cả người tu đều
phải biết giữ gìn thân tâm, phải
biết thương lấy mình, đó là kinh
nghiệm của tôi. Biết tự nuôi
dưỡng thân tâm thì mới có thể đi
xa được. Phải ngước lên để trông
thấy trăng sao, mà đừng đòi về
với cát bụi.
Giá trị của mình không phải nằm
ở chỗ mang nhiều khắc khoải,
thao thức. Nếu anh chị không có
nỗi thao thức trong lòng để đi
tới thì anh chị cũng chết. Nhưng
nếu anh chị bồn trồn khắc khoải
lắm anh chị cũng chết. Giá trị
của mình là ở chỗ biết giữ gìn
thân tâm, nuôi dưỡng tình thương
để gìn giữ cho năng lực đừng cạn
kiệt
12.02.2002 Làng Mai – Pháp
Hành phương nam
Hai ta lưu lạc phương Nam này
Đã mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Riêng ta với ngươi buồn vậy thay
!
Lòng đắng xá chi muôn hớp rượu
Mà không uống cạn mà không say !
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu chưa ai may !
Ngươi giam chi khí vòng cơm áo
Ta trói thân vào lụy nước mây
Ai biết thương nhau từ buổi
trước
Bây giờ gặp nhau trong phút giây
Nợ thế, trả chưa tròn một món
Sòng đời, thua đến trắng hai tay
Quê nhà xa lắc xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay
Tâm giao mấy
kẻ thì phương Bắc
Ly tán vì cơn gió bụi này
Người ơi ! Buồn lắm mà không
khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy
Vẫn dám ăn tiêu cho đến hết
Ngày mai ra sao rồi sẽ hay
Ngày mai, có nghĩa gì đâu nhỉ?
Cốt nhất cười vui trọn tối nay
Rẫy ruồng châu ngọc, thù son
phấn
Mắt đỏ lên rồi, cứ chết ngay.
Hỡi ơi !
Nhiếp Chính mà băm mặt
Giữa chợ ai người khóc nhận thây?
Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng
chén
Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay?
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự
Giày cỏ, gươm cùn, ta đi đây
Ta đi nhưng
biết về đâu chứ?
Đã dấy phong yên khắp bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi !
Thế nhân mắt
trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại
Hát rằng phương Nam ta với ngươi
Ngươi ơi ! Ngươi ơi ! Hề ngươi
ơi !
Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi !
Nguyễn Bính - Đa Kao 1943
Nguyễn Bính sinh vào năm 1918
với tên thật Nguyễn Trọng Bính
tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh,
xã Đồng Đội nay là xã Cộng Hòa,
huyện Vụ Bản, tỉnh Hà Nam Ninh
nay là tỉnh Nam Định.
Thuở nhỏ Nguyễn Bính không được đi học ở trường mà chỉ được học ở nhà với cha là ông đồ nho Nguyễn Đạo Bình và người cậu ruột là Bùi Trinh Khiêm dạy kèm. Ông mồ côi mẹ rất sớm, gia đình túng quẫn, lên 10 tuổi đã phải theo anh là Nguyễn Mạnh Phác ra Hà Nội sinh sống. Thời gian này ông được người anh dạy học ở nhà. Năm 13 tuổi ông đã bắt đầu làm thơ và năm 1937 được giải khuyến khích về thơ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi. Những năm đầu thập niên 1940, Nguyễn Bính nhiều lần lưu lạc vào miền Nam và đổi tên là Nguyễn Bính Thuyết. Năm 1943, Nguyễn Bính lại đi vào miền Nam lần thứ ba và đã gặp Đông Hồ, Kiên Giang. Đó là thời ông viết những bài Hành Phương Nam, Tặng Kiên Giang, Từ Độ Về Đây... Chính vì vậy ông được gọi là "thi sỹ giang hồ".
Năm 1947, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở miền Nam. Đến năm 1954, khi Hiệp định Genève chia đôi đất nước, Nguyễn Bính tập kết về Bắc năm 1955 và được bố trí phục vụ trong Hội Nhà Văn ở Hà Nội một thời gian. Năm 1956, ông được giao nhiệm vụ phụ trách tờ Trăm Hoa và tham gia vào phong trào Nhân văn - Giai phẩm. Đến năm 1958, bị buộc chuyển về tỉnh nhà Nam Định phục vụ trong Ty Văn hoá Nam Định cho đến khi mất.
Nguyễn Bính mất ngày 20 tháng 1 năm 1966, để lại cho đời nhiều tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang (1940), Tâm Hồn Tôi (1940), Hương Cố Nhân (1941), Mây Tần (1942), Người Con Gái Ở Lầu Hoa (1942), Tình Nghĩa Đôi Ta (1960), Tuyển Tập Nguyễn Bính (1984); kịch thơ Bóng Giai Nhân (1942); truyện thơ Truyện Tỳ Bà (1944)...
Source: langmai.org