Biệt Nghiệp Và Cộng Nghiệp
(
Trích Từ Thư Viên Hoa Sen )
Tiếp
theo chủ đề "Vô thường" NSGN
giới thiệu đến độc-giả chủ
đề "Nghiệp" qua cuộc đối
thoại giữa thầy Matthieu Recard, người
Pháp, tiến sĩ sinh vật học và nhà
khoa học Trịnh Xuân Thuận, người Mỹ
gốc Việt, giáo sư vật lý thiên
văn, giáo sư Ðại học Virginia, hiện
nghiên cứu tại Viện Công Nghệ học
California. Cuộc đối thoại này thuộc
chương VIII của tác phẩm Vô biên trong
lòng bàn tay (L'infini dans la paume de la main), xung quanh
các vấn đề; Khái niệm của Phật
giáo về nghiệp ? Thuyết nghiệp liên
hệ thế nào với luật nhân quả
và tư tưởng định nghiệp ? Nếu
theo đạo Phật, cái "ta" và con
người cá nhân là ảo ảnh thì
cái gì luân hồi trong sự tái sinh ?
Ðây là quan điểm của các nhà
khoa học, NSGN xin giới thiệu nguyên văn qua
bản dịch của GS. Minh Chi.
Matthieu Recard (Matthieu)
: Về từ nguyên mà nói, karma có
nghĩa là "hành động". Những
điều chúng ta làm, nói và suy nghĩ
không những có một tầm quan trọng về
đạo đức mà chúng còn tạo ra
thế giới của chúng ta. Nhận thức của
chúng ta đối với thế giới là
kết quả của toàn bộ thực nghiệm
của tâm thức chúng ta từ nhiều đời,
nhiều kiếp. Ngược lại, tâm thức
đó lại bị chi phối bởi cấu
trúc của thân thể, bộ não, và
hệ thần kinh chúng ta. Ðây là một
ví dụ nữa của luật tương tác
nhân quả (causalité réciproque). Chắc
chắn là con người nhận thức vũ
trụ khác với bầy ong và bầy dơi.
Cách thức hoạt động của tâm
thức chúng ta gắn liền với cái mà
chúng ta gọi là vũ trụ của
"chúng ta".
Do có những thực nghiệm
tương tợ nhau trong nhiều kiếp quá
khứ, mà có những cộng đồng
loài hữu tình có một nhận thức
tương tự nhau về thế giới. Ðó là
kết quả của cái mà đạo Phật
gọi là cộng nghiệp (karma collectif) nói
lên nhận thức chung của chúng ta đối
với thế giới , ngoài ra, còn có
biệt nghiệp (karma individuel) là kết quả
của kinh nghiệm cá nhân của mỗi
người.
GS. Trịnh Xuân Thuận
(GS. Thuận) : Nhận thức về thế giới
có thể khác nhau giữa các sinh vật trong
các thế giới khác nhau trong vũ trụ
này, thí dụ, những sinh vật sống ở
một hành tinh khác, có một vì sao
khác làm mặt trời, nhưng theo tôi
nghĩ, nhận thức của họ đối với
thế giới, có thể không khác biệt
lắm so với nhận thức của chúng ta,
bởi lẽ, tất cả đều cùng có
một lịch sử vũ trụ, giống nhau,
đều là sản phẩm của thay đổi
quá trình chuyển nghiệp, bằng cách
tác động vào nó, trước khi
hình thành quả vui hay buồn, tốt hay xấu.
Cũng như một quả bong bóng đang rơi,
chúng ta có thể bắt lấy nó và
ném lên ở một độ cao hơn.
Cuộc
sống chúng ta hạnh phúc hay bất hạnh
là kết quả của toàn bộ ý
nghĩ, lời nói và hành động của
chúng ta, được thực hiện trong vũ
trụ này, trong đời này hay là trong
các đời sống trước. Ðó là
một tổng thể hết sức phức tạp
của những yếu tố tương tác lẫn
nhau, mà chúng ta có thể thay đổi
quá trình, trong từng giây phút. Ðó
là thuyết bất định nghiệp của
đạo Phật, rất khác với các
thuyết quyết định luận hay số mệnh
luận.
Như
vậy, điều xảy ra cho chúng ta trong
đời này là kết quả trực tiếp
của hành động và tư duy của
chúng ta trong các đời sống trước.
Như vậy, phải chăng là thuyết nghiệp
có liên hệ với thuyết tái sinh,
thuyết luân hồi qua nhiều cuộc sống
nối tiếp nhau. Ðối với tôi, niềm tin
về thuyết tái sinh làm giảm nhẹ nỗi
lo âu trước sự chết, và cung cấp
một giải thích hợp lý cho sự xuất
hiện những đứa bé thiên tài. Mozart,
mới 5 tuổi đã là nghệ sĩ
dương cầm xuất sắc và đã
soạn được nhiều bản nhạcẦ
phải chăng trong cuộc sống trước, Mozart
đã là thiên tài âm nhạc ?
Thuyết tái sinh cũng giải thích vì sao
có những đứa trẻ, chưa lớn lên
đã mắc những chứng bệnh hiểm
nghèo và phải đau đớn vô cùng.
Phải chăng chính chúng phải gặt hái
hậu quả những hành động của
chúng trong một kiếp trước ?
Matthieu : Nếu không
tìn vào thuyết tái sinh, thì thật
là khó chấp nhận tình hình những
đứa bé "vô tội" phải gánh
chịu hậu quả những hành động
mà dường như chúng không có ý
niệm gì hết, không có trách nhiệm
gì hết. Nhưng thuyết tái sinh và
nghiệp sẽ giúp cởi bỏ thắc mắc
đó.
GS. Thuận : Ðạo Phật
nói không có "cái ta", cái ta
là không thật có . Nếu không có
cái ta thì ai hưởng hạnh phúc, ai chịu
bất hạnh ?
Matthieu : Ðúng là
có một sự liên tục cho phép nói
"tôi" hưởng hạnh phúc hay là
chịu nỗi bất hạnh, thế nhưng đó
chỉ là sự liên tục của một
cái gì thay đổi liên tục. Chính
sự liên tục đó tạo ra ảo ảnh
một cái gì có thật và bất
biến. Cũng như một người đứng xa,
nhìn con sông, hình như không chảy, hay
là nhìn một ngọn đuốc cháy
liên tục suốt đêm, nhưng ngọn
đuốc đầu đêm, ngọn đuốc
giữa đêm, và ngọn đuốc cuối
đêm không phải là cùng một
ngọn đuốc. Thậm chí, qua từng giây
phút, ngọn đuốc cũng đổi khác.
Không phải chỉ con người mà mọi
sự vật đều là những dòng chảy
liên tục của những hiện tượng
nối tiếp nhau và mỗi hiện tượng trong
dòng chảy liên tục đó cũng là
vô thường, biến đổi không vụ
nổ đầu tiên - Big bang, với các tinh
vân, sao và hành tinh v.vẦ Ðối với
hàng triệu triệu sinh vật không phải
loài người, sống trên trái đất
này cũng vậy, vì có cùng chung một
lịch sử vũ trụ, cho nên nhận thức
của chúng đối với thế giới có
thể không phải là khác nhau lắm.
Matthieu : Ðấy bất
quá là do chúng ta quá chấp thủ
vào nhận thức của chúng ta đối
với thế giới, đến mức chúng ta cho là
các sinh vật khác cũng thấy thế
giới, gần giống như chúng ta thấy.
Tôi cho rằng, con kiến hay con dơi nhìn thế
giới khác chúng ta rất nhiều. Quen thuộc
với ba chiều kích (dimension) của thời gian,
chúng ta mệt lắm mới mường tượng
chiều kích thứ tư, bây giờ các
nhà vật lý học nói có tới 10 hay
12 chiều kích ! Một sinh vật sống ở
bình độ thứ nguyên tử (subatomic, xem
ngữ vựng), chắc là thấy thế giới khác
chúng ta rất nhiều.
Ðức
Phật là bậc Toàn giác, hẳn là
cũng thấy thế giới rất khác với
chúng ta. Kinh Phật nói tới một số
thế giới và vũ trụ nhiều như
cát trong biển, và mô tả chúng một
cách rất hình ảnh và khác lạ.
Có những thế giới giống như bánh xe
quay vòng (phải chăng đó là những
tinh vân hình xoáy - galaxies spirales), những
vũ trụ hình giống miệng sư tử
(phải chăng đó là những lỗ đen -
trous noirs - là loại thiên thể đặc
biệt, có trọng lực bản thân lớn
đến nỗi, không có vật chất hay
ánh sáng nào có thể thoát ra
được), những vũ trụ hình dẹp
(phải chăng đó là vũ trụ có
không gian hai chiều?), những vũ trụ giống
như núi lửa đang phun (phải chăng
đó là những novae - là ngôi sao
bùng nổ rồi tan biến),
GS. Thuận : Hình ảnh của
các vũ trụ theo Phật giáo thật là
kỳ lạ. Ðức Phật có thể đã
nói tới những sinh vật không phải
là loài người, phát triển khác
hẳn chúng ta trong một môi trường
khác biệt hoàn toàn.
Matthieu : Theo vũ trụ quan
Phật giáo, có tới sáu loại chúng
sinh, trong số này chỉ có hai loại, chúng
ta còn nhận thức được, tức là
loài người và loài động vật,
còn bốn loại kia thì chúng ta không
biết được. Ðó là không kể
loài trời gọi là Vô sắc, tức
là không có sắc thân, là một
hình thái sống không thể nghĩ bàn
(bất khả tư nghì) đối với loài
người chúng ta.
GS. Thuận : Nếu hai loại
biệt nghiệp và cộng nghiệp theo Phật
giáo đều do quá khứ quyết định
thì phải chăng đây là một hình
thức của quyết định luận (determinisme) ?
Matthieu : Không, thuyết
nghiệp phản ánh luật nhân quả,
thuyết nghiệp không phải là quyết
định luận. Nghiệp là hành động,
nghiệp do hành động tạo ra, thì
nghiệp cũng do hành động của con người
mà thay đổi. Chúng ta có thể ngừng.
Norbert Wiener, một trong những cha đẻ của
môn "Thần kinh cơ giới học"
(Cybernetics) đã dùng hình ảnh của thi ca
để nói lên chân lý đó
của đạo Phật : "Chúng ta chỉ là
những dòng xoáy của một con sông
chảy vô tận. Chúng ta không phải là
một chất liệu tồn tại mãi, mà
là những nét đường luôn
được tái phục hồi".
Một
thế kỷ trước Tây lịch, Milinda, vua xứ
Bactriane, đã đặt câu hỏi đó
với Ðại đức Nagasena (Na Tiên Tỳ kheo) :
- "Bạch
Ðại đức, con người tái sinh với
người kiếp trước là một hay là
hai người?
- Không phải
là một người cũng không phải là
hai người.
- Hãy cho tôi
một ví dụ.
- Nếu chúng ta
thắp một bó đuốc, bó đuốc
có thể cháy suốt đêm không ?
-Tất nhiên
có thể
-Bó đuốc
cuối đêm có giống bó đuốc
nửa đêm và bó đuốc đầu
đêm hay không?.
-Không
- Như vậy
là có ba đuốc khác nhau ?
- Không, chỉ
có một bó đuốc đã cháy
suốt đêm.
- Thưa Ðại
vương, cũng như vậy, các hiện
tượng nối tiếp nhau liên tục, một
hiện tượng này nảy sinh, thì một
hiện tượng khác mất đi. Chính
vì lẽ đó, mà người tái sinh
không phải là một người, cũng
không phải là người khác, so với
người của đời sống trước".
Khái niệm
có một cái ta thường tại, hay một
tâm thức thường tại, thực nghiệm
hậu quả của những nghiệp tạo ra trong
quá khứ, và luân hồi liên tục
từ đời sống này qua đời sống
khác chỉ là một ảo tưởng. Cái
ta ảo tưởng đó tuy không có một
sự tồn tại tuyệt đối, nhưng vẫn
tồn tại tương đối, cho nên mới
có tạo nghiệp và chịu hậu quả
của nghiệp. Ðó là cái mà kinh
sách Phật gọi là cái ta giả (giả
ngã), cái ta quy ước.
Ngữ vựng :
Ðiều khiển
học : Từ thông dụng ở Việt
Vũ trụ song
hành (Univers parallèle) : Có những vũ
trụ song hành với vũ trụ chúng ta,
nhưng lại cách biệt hoàn toàn với
vũ trụ chúng ta, khiến không thể nào
quan sát được chúng. Tuy nhiên, môn
cơ học lượng tử dự đoán và
giả thiết phải có những vũ trụ song
hành như vậy với vũ trụ chúng ta.
Vũ trụ chu
kỳ (Univers cyclique) : Vũ trụ không có
điểm bắt đầu và điểm tận
cùng, mà phát triển qua các chu kỳ sinh
thành, phảt triển, hoại diệt.
Khoảng không
lượng tử (Vide quantique) : Khoảng không
chứa đầy những hạt ảo và phản
hạt ảo (particules virtuelles và antiparticules virtuelles).
Những hạt này gọi là ảo vì sinh ra
rồi diệt hay tức khắc với tốc độ
nhanh ngoài sức tưởng tượng, do vậy
mà không thể quan sát chúng
được. Hạt ảo bao giờ cũng
xuất-hiện với phản hạt ảo (xin xem
lại lời phát-biểu của giáo sư
Thuận).
Giáo Sư Minh
Chi Việt Dịch
(Nguyệt-san Giác Ngộ)