![]()
![]()
![]()
Biển lửa giữa hoa
sen
Trần Kiêm Đoàn
Nguồn : Art2All.net
Giở lại
lịch sử Phật giáo, một câu chuyện cổ
sơ, ṃn nhẵn, nhưng bao giờ cũng mới.
Mớikhôngphải v́ sự hùng biện của ngôn từ,
mà v́ sự im lặng. Sự lặng im đầy chánh pháp.
Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục th́
vị tổ đầu tiên của Thiền tông Trung Hoa là
Đạt Ma Tổ Sư. Cuộc đối thọai giữa
Tổ Đạt Ma và vua Lương Vũ Đế (502-549)
được truyền tụng hơn 15 thế kỷ qua
đă trở thành một biểu tượng về tinh
thần phá chấp khi nói đến Thiền trong
đạo Phật. Truyền Đăng Lục ghi cuộc
đối đáp này như sau:
Lương
Vũ Đế hỏi Tổ Đạt Ma: “Trẫm từ khi lên
ngôi đến nay đă cho xây chùa, dựng tượng, in
kinh, độ tăng rất nhiều. Vậy trẫm có
công đức ǵ chăng?”
Tổ Đạt
Ma đáp: “Chẳng có công đức ǵ cả.”
“Tại sao làm
Phật sự nhiều như thế lại không có công
đức?”
“Bởi v́
đó chỉ là những tiểu quả mà thôi. Đấy
chỉ là cái nhân giả lập như bóng theo h́nh, có mà
chẳng thật.”
“Vậy phải làm thế nào mới được xem là
công đức?”
“Phải tự
ḿnh rèn cho trí trong sạch, tâm thanh tịnh, tánh rỗng
lặng, thân an vui, như thế mới là Công Đức. Công
đức ở nơi tự tánh, chứ chẳng phải
do vật chất bên ngoài mang đến.”
Vua hỏi
tiếp: “Chân lư tối cao của bậc thánh là ǵ?”
“Khi tỉnh ra,
thông suốt rồi th́ không có ǵ gọi là thánh cả.”
“Người
trước mặt trẫm là ai?”
“Chẳng
biết!”
Vua Lương Vũ Đế không lănh hội
được, cuộc đối thoại chấm
dứt. Tổ Đạt Ma biết căn cơ không hợp,
lặng lẽ lên núi Tung Sơn, chùa Thiếu Lâm, trọn
ngày ngồi thiền đối diện với bức
tường trong suốt chín năm.
Khi không c̣n đối thoại th́ rút vào im lặng là
đạo lư của tư duy. Nói để mà nói, tranh
tụng hơn thua con gà hay cái trứng có trước, là
sự rỗng ṃn của nếp nghĩ và cũng là ngơ
cụt về những ư thức mới.
Bao nhiêu sách vở hơn ngh́n năm sau vẫn chưa nói
hết được phần tinh túy nhất của
sự im-lặng-muôn-trùng-tiếng-nói nầy.
Trong thế giới Thiền, phải chăng ngôn
ngữ chỉ là quy ước nghèo nàn, thô lậu; có khi
ồn ào mà vô nghĩa, bất lực trong sự chuyển
tải những suối nguồn tư tưởng thâm
diệu của con người?!
Khi nói đến thiền ngôn và thiền ngữ trong
nghệ thuật Thiền, thiền sư Khánh Hữu,
trụ thế ba trăm năm sau Sơ Tổ Đạt Ma,
đă làm bài kệ “Chân ngôn kư”, có đọan đại ư
nói rằng: Đáng xấu hổ thay những người
tự nhận ḿnh là Phật tử lại dùng miệng
lưỡi dung tục để nói chuyện Thiền môn
phi Phật pháp. Đáng thương thay những người
chưa nhảy qua miệng giếng tri thức đă
lạm bàn chuyện mây trời. Và tội nghiệp thay
những kẻ ngậm lời quỷ sứ phun mặt
chân nhân.
Cái hiện trạng đáng xót xa "Ngậm lời
quỷ sứ phun mặt chân nhân" h́nh như không
chỉ xẩy ra ngh́n năm trước mà vẫn lập
lại hoài cả ngh́n năm sau và thời nào cũng có...
Người viết bài nầy vốn là kẻ vô can
thế mà bỗng cảm thấy dị ứng
trước một hiện tượng nóng bỏng, xin
tạm gọi là "Hiện tượng luận bàn
về thầy/sư ông/thiền sưThích Nhất
Hạnh"! "Vô can" v́ tôi chẳng có một liên
hệ cá nhân nào với thầy Nhất Hạnh, ngoài
việc đọc một số sách của Thầy đă
xuất bản trong ṿng năm chục năm qua như muôn
ngh́n người khác. Xa hơn thế nữa, tôi đă
viết bài tham luận "Sự thống nhất cần
thiết của tính thuần Việt và Hán Việt trong ngôn
ngữ Phật giáo Việt Nam" để nói lên thái
độ không tán đồng về việc thầy
Nhất Hạnh chủ xướng đổi từ
Phật thành "Bụt". Theo chỗ hiểu của tôi
th́ Bụt là một hiền thánh, một vị "Tiên
Đất" thuần túy Việt
Về mặt đạo pháp, tôi vẫn c̣n xa lạ
với khuynh hướng hành Thiền đậm tính
"trú xứ" của Làng Mai. Và về sau nầy, tôi
cũng không c̣n thú đọc những tác phẩm giảng
pháp theo mô thức "văn nói" do các thiện giả
ghi lại đă làm nhạt bớt tính sáng tạo văn
chương, vốn rất uyển chuyển và tài hoa
của thầy Nhất Hạnh. Nói tóm lại là khi tự
soát xét lại chính ḿnh, tôi không có lư do để đứng
về phía đả kích gay gắt hay phía ca ngợi
nhiệt thành thầy Nhất Hạnh. Được học
tập từ nền văn hóa Việt Nam và
được cơ hội tiếp thu thêm văn hóa
xứ người trong một khoảng thời gian dài
gần ngang nhau ở quê nhà và quê người (trên
dưới 25 năm mỗi phía), tôi tôn trọng sự công
bằng và thẳng thắn trong đối thọai. Nói lên
lời ủng hộ hay bày tỏ thái độ phê phán
về một nhân vật nào đó là sinh hoạt b́nh
thường và lành mạnh của đời sống tâm lư
và tri thức cần được duy tŕ và phát huy trong
một xă hội nhân văn. Tuy nhiên, xă hội nhân văn
đ̣i hỏi cung cách văn hóa tối thiểu trong
tiếng khen cũng như lời chê. Khen ai lựa lời
thích hợp đă khó; chê ai chọn cách tŕnh bày mang tính
thuyết phục lại càng khó hơn. Cái triết xử
thế khôn khéo của dân gian Việt
Un đúc từ lịch sử dựng nước và
giữ nước gian nan; chịu đựng những
thăng trầm suốt ḍng lịch sử ngh́n năm
Bắc thuộc, trăm năm Tây đô hộ và bao năm
chinh chiến... đă để lại cho người
Việt một lối sống mềm dẻo, lối
xử thế khôn khéo. Dân tộc nào cũng có mặt
"giương" để chiến đấu và
mặt "thủ" để sinh tồn. Đấy là
lối ứng xử tinh tế, biết tiến, biết
thoái và biết lách ḿnh né tránh kẻ mạnh đúng lúc
để có lợi, để yên thân, để tránh
sự đương đầu trực diện với
một đối thủ mạnh hơn. Nếp sinh
hoạt tinh thần đó là tiền đề tạo ra
nguồn tâm lư tiểu xảo. Về mặt tích
cực, tâm lư tiểu xảo là vũ khí để sống
c̣n của dân tôc Việt
Cái giá phải trả của tâm lư tiểu xảo trong
lĩnh vực nhân văn là người Việt tuy thông minh
và sáng tạo, tự hào có bốn ngh́n năm văn
hiến, nhưng chưa un đúc được một
triết gia, một nhà tư tưởng hay một
triết lư dân tộc độc lập có tầm cỡ
trong lịch sử tư tưởng thế giới.
Nếp nghĩ nhỏ chỉ tạo ra được
những sản phẩm nhỏ. Thói quen tiểu xảo là
chuyên đè bẹp người bằng phương
tiện nhỏ nhen và vô minh. Không có thiện xảo mà
chỉ có thuần tiểu xảo th́ chính tác nhân tiểu
xảo đó là kẻ trước tiên tự d́m ḿnh
xuống trước mặt đối thủ của ḿnh
và vô h́nh chung hạ thấp nhân cách của ḿnh.
Trong rất nhiều trường hợp Thầy
Nhất Hạnh đă bị nh́n từ một góc
độ tâm lư tiểu xảo như thế.
Một người chỉ cần mang cái
"nghiệp" của người cầm bút thôi
cũng đủ bị đặt trên dàn phóng của
sự khen chê rồi. Huống hồ người đó c̣n
là một nhà sư có tăng đoàn và đường
lối riêng, một luận sư mang khuynh hướng
cải cách, một khuôn mặt nổi bật trong cộng
đồng tôn giáo thế giới như thầy Nhất
Hạnh th́ biển đời khen chê làm sao tránh khỏi.
Những b́nh luận, nhận định, phân tích,
chỉ trích, tán dương... xuất hiện quanh
chuyến đi Việt Nam của thầy Nhất Hạnh
là một phản ứng tất yếu, một h́nh thái sinh
hoạt tinh thần lành mạnh và cần thiết.
Lời khen chê xưa nay vốn là chuyện đời
thường. Nhưng khi sự lộng ngôn và hư luận
lại khoác áo "trung ngôn và chính luận" lập đi
lập lại một cách dai nhách v́ thiếu chất
tươi của tri thức như ḅ sữa gặm
cỏ cháy th́ quả là chuyện "lạ
thường" trong một xă hội b́nh thường!
Diễn đàn thông tin và nghị luận và quần chúng
đang bị coi thường quá đáng. Với tŕnh
độ dân trí của người Việt hải
ngoại sau mấy thập niên tiếp cận với
văn hóa Âu Mỹ, những khuynh hướng "ngu
dân" coi thường quần chúng tự nó đă chôn vùi
vai tṛ và tác dụng của chính nó. Hẳn nhiên, quần chúng
thầm lặng của thế kỷ 21 đă quá đủ
già dặn về cả hai mặt thông tin và tri thức
để cười rất "thiền" với
những kẻ đáng thương như lời sư
Khánh Hữu!
Trong một bối cảnh văn hóa lành mạnh,
hiện tượng luận bàn về thầy Nhất
Hạnh đáng lẽ phải trổ hoa, đâm chồi
nẩy lộc về nhiều mặt như tôn giáo,
triết học, giáo dục... th́ thực tế lại
đang phát triển theo chiều ngược lại.
Sự "thoái trào" của ư thức và tâm thức
đáng tiếc nầy xẩy ra v́ sự dung tục quá
đáng, đôi khi đến chỗ cực đoan của
phương pháp luận bàn. Nói về tu mà dùng lời
tục; nói về thiền mà thiếu mất một phong
thái và một ngữ cảnh về thiền; nói về
Phật giáo mà bám riết vào tinh thần chấp
trước cực đoan phi Phật giáo... là đem
sự ồn ào vọng động để truy t́m cái chân
tánh rỗng lặng của nhà Phật. Phải chăng
đây là sự nghịch lư mà một số người
đang vô t́nh hay cố ư theo đuổi?!
Như đă tŕnh bày ở trên, tôi không phải là
"fan", là đệ tử của thầy Nhất
Hạnh nên rất có thể sẽ không làm bằng ḷng
những phía cực đoan. Do vậy, những ḍng viết
về thầy Nhất Hạnh sau đây là những
hiểu biết rất khiêm tốn và đồng thời
cũng chỉ là những cảm nghĩ riêng của cá nhân
ḿnh để mong chia sẻ với những người
Việt có tâm hồn, khối người Việt tha
hương tỉnh táo nh́n thế sự qua cái nh́n khách quan
và thầm lặng.
* Huế là một thành phố
nhỏ nhắn miền Trung, một kinh đô cũ của
nước Việt
Mấy trăm cơ sở chùa chiền tu viện
của Huế không mang dáng vẻ phô trương mà ẩn
ḿnh trong mầu thiên nhiên của núi sông cây cỏ. Các tu
sĩ Phật giáo ở Huế cũng ḥa vào đời
sống đạm bạc của quần chúng mà
đặc biệt là quần chúng b́nh dân theo đạo
Phật. Các tu sĩ nhỏ tuổi thường
được gọi một cách thân mật là
"Chú". Các tu sĩ trẻ xưng là "Thầy"
và quư Thầy cao niên xưng là "Ôn" (Ôn = Ông, khác
với “ôn đới”, “ôn hoà”). Những danh xưng
đầy vẻ "đạo cao" như Thiền
sư, Sư ông, Đại đức, Thượng tọa, Ḥa
thượng... không hiện diện trong tương quan
sinh hoạt thực tế hàng ngày của đời
sống Phật giáo Huế. Và những chức vụ
"đức trọng" như Thượng thủ,
Pháp chủ, Tăng thống, Pháp sư, Tôn sư, Tổ
sư... lại càng xa lạ với tinh thần Phật giáo
hơn. Một nét khiêm cung và t́nh cảm điển h́nh trong
văn hóa Phật giáo Huế là các thiện nam, tín nữ
thường chỉ biết đến các bậc tu hành
đạo cao đức trọng qua danh tiếng của
ngôi chùa và tiếng "Ôn" rất điềm
đạm và từ ái như: Ôn Từ Đàm, Ôn Từ
Hiếu, Ôn Linh Mụ, Ôn Tây Thiên, Ôn Châu Lâm, Ôn Trà Am...
Thầy Thích
Nhất Hạnh là một tu sĩ Phật giáo xuất thân
từ Huế.
Với một bối cảnh tôn giáo như thế, trong
bài viết nầy, người viết xin được
dùng danh xưng "Thầy" rất gần gũi thay v́
phải dùng những danh từ tôn xưng xa lạ với
truyền thống Phật giáo, như đă tŕnh bày ở
trên khi nói về thầy Thích Nhất Hạnh và quư tu sĩ
Phật giáo khác.
Thầy Thích Nhất Hạnh là một trong những tu
sĩ Phật giáo Việt
Năm 1966,
thầy Nhất Hạnh rời Việt
Năm 2004,
thầy Nhất Hạnh về Việt
Bốn
mươi năm: Một chặng đường
lửa dậy!
Kinh Pháp hoa nói về lửa: "Ba cơi
không an, chẳng khác nhà lửa". Lửa tham sân si;
lửa nghi hoặc chấp trước; lửa kiêu
mạn; lửa ái dục... cứ ngấm ngầm ngày
đêm thiêu đốt tâm thức của chúng sanh.
Lửa tam muội, lửa ta bà, lửa từ bi, lửa
hận thù, lửa vô minh, lửa khai sáng và lửa duyên
nghiệp... vẫn trùng trùng dấy lên trong từng nhấp
nháy của cuộc sống. Có những ngọn lửa
dập tắt được, những vẫn có những
ngọn lửa vô h́nh không dập tắt được.
Người ta vẫn phải sống với lửa hàng
ngày. Con người tồn tại v́ con người
biết sống với lửa. Không để bị lửa
đốt cháy mà biến lửa thành một hơi ấm,
một phương tiện thiện xảo cho đời
sống thể chất lẫn tinh thần.
Hoa sen là một biểu tượng của tinh thần
Phật Giáo. Đó là ư niệm "gần bùn mà chẳng hôi tanh
mùi bùn". Đó là h́nh ảnh bàn tay mở ra hứng lấy
những khổ đau, hận thù, sinh diệt triền
miên. Nếu chỉ có mùa đông lạnh lẽo mà không có
lửa hạ, sẽ không có hoa sen. Nếu không có khổ
đau của chúng sinh th́ đức Phật và đạo
Phật không có lư do ra đời và tồn tại
để giải bớt khổ đau. V́ thế, h́nh
tượng hoa sen trong biển lửa là h́nh ảnh dấn
thân của người Phật tử giữa cuộc
đời đầy tương tranh và đau khổ.
Biển lửa giữa hoa sen là biểu tượng của
sự trang bị tinh thần và trí tuệ Phật tánh,
bồ tát hạnh, sẵn sàng dấn thân vào đau khổ
để diệt mầm đau khổ và tiếp cận
với tương tranh để hóa giải tương
tranh.
Thầy Nhất Hạnh trở về Việt Nam sau 40
năm lưu vong trong một hoàn cảnh như hiện nay
là đi trong biển lửa giữa hoa sen. Vào những
năm đầu thập niên 1960, bên cạnh đời
sống tu sĩ, thầy Nhất Hạnh c̣n là một nhà
văn, nhà thơ có khuynh hướng cải cách và gần
gũi với tuổi trẻ qua h́nh thức mang triết lư
tư tuởng Phật giáo và nếp sống thiền
vị vào những tác phẩm sáng tạo văn
chương. Những tác phẩm văn học của
thầy Nhất Hạnh như T́nh người (bút
hiệu Tâm Quán), Nẻo về của ư, Nói với
tuổi hai mươi, Bông hồng cài áo, Đạo Phật
hiện đại hóa... đă gây một tiếng vang và
có tác động tích cực vào đại chúng Việt Nam
trong nội bộ Phật giáo cũng như ngoài xă hội,
đặc biệt là giới trí thức và tuổi trẻ
miền Nam đương thời.
Cuộc chiến tranh Việt
Sáng lập trường Trường Thanh niên Phụng
sự Xă hội năm 1965 là một khuynh hướng
dấn thân rất mới của tuổi trẻ theo
kiểu Kiboutz của Do Thái. Đó là trường huấn
luyện thanh niên thiện nguyện với chiều
hướng phục vụ làng xă Việt Nam bằng
sức bật, kiến thức, tài năng và tấm ḷng
của tuổi trẻ, chung tay xây dựng đất
nước khi chiến tranh chấm dứt. Bên cạnh
đó là những tác phẩm văn chương mang
tiếng nói tha thiết kêu gọi ḥa b́nh của thầy
Nhất Hạnh, một cách vô h́nh chung, bị coi như
một sự cổ xúy và đồng lơa với phong trào
phản chiến đang nổ ra trên toàn thế giới và
tại các thành thị miền
Tháng 5 năm 1966, thầy Nhất Hạnh
được đại học Cornell ở Mỹ
mời diễn thuyết ḥa b́nh. Với tuổi 39, đây
là bước khởi đầu cho những loạt
diễn thuyết và gặp gỡ các nhân vật thời
danh như Robert McNamara, Eugene McCarthy, Martin Luther King và
được hội kiến với đức Giáo Hoàng
Paul VI vào ngày 16 tháng 7 năm 1966. V́ những cuộc vận
động hoà b́nh nầy, Chính phủ miền
Đối với chính quyền Việt
Nói lên điều nầy, chủ tâm người
viết chỉ mong nói đến "thầy Nhất
Hạnh như thầy Nhất Hạnh". Nghĩa là
tránh quan điểm phong thánh hay "tả quỷ"
dễ dăi để tâng bốc quá đà hay miệt thị
đầy định kiến đối với một
nhân vật nào đó xuất phát từ sự chủ quan
đầy cảm tính v́ sự ngưỡng mộ hay tâm lư
chống báng nặng cảm tính nhất thời.
Trong mắt nh́n của những người t́m hiểu
khách quan, bản thân và sự nghiệp của thầy
Nhất Hạnh được ghi nhận như sau:
Đứng về mặt tôn giáo,
thầy Nhất Hạnh là một nhà tu; một nhà nghiên
cứu Phật học có chiều sâu với một
phương pháp luận kết hợp hài ḥa giữa tính
lô-gích phương Tây và tính trực cảm phương
Đông.
Đứng về mặt văn
học nghệ thuật, thầy Nhất Hạnh là một
nhà văn, một nhà thơ. Đặc biệt thầy
Nhất Hạnh là một tác giả Việt Nam đầu
tiên ở nước ngoài đă viết cả trăm tác
phẩm văn chương và khảo luận về tôn
giáo, xă hội, triết học bằng tiếng Việt mà
trong đó đă có đến vài chục tác phẩm
viết trực tiếp hay được dịch ra
bằng tiếng Anh. Trong số sách bằng tiếng Anh
về lĩnh vực tôn giáo được xuất bản
lưu hành khắp thế giới, có khoảng 10 cuốn
sách tiếng Anh của thầy Nhất Hạnh thuộc và
hàng sách bán chạy (best seller). Có những cuốn đă phát
hành khắp thế giới với hàng triệu ấn
bản.
Để thẩm định giá trị hành động hay
tác dụng ư thức của một nhân vật, một con
người th́ điều cần yếu trước tiên
phải có là sự công bằng và cách nh́n tỉnh táo. Sự
tâng bốc hay bài xích cá nhân mang tính cực đoan,
định kiến và bảo thủ sẽ trở thành
mồi lửa rơm bùng lên đốt cháy một cách nhanh
nhất giá trị và sự đáng tin cậy của
nhận định chính nó. Trong chiều hướng
đó, thử theo dơi và ghi nhận những nét nổi
bật trong chuyến đi về thăm Việt
Ngày 11 tháng 01 năm 2005, thầy Nhất Hạnh cùng
với tăng thân Làng Mai rời Pháp về Việt Nam trong
một chuyến thăm viếng và truyền pháp kéo dài 3
tháng (12-01-2005 đến 11-4-2005). Đây không đơn giản
là một cuộc hành hương hay một chuyến
viếng thăm tập thể tuỳ nghi hay tùy thích
của cả hai phía Việt
Nội dung và tinh thần cơ bản của các
buổi giảng pháp, các khóa tu học của thầy
Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai trong suốt 3 tháng du
hành khắp cả ba miền Bắc Trung Nam không có ǵ khác
lạ với tinh thần thiền Làng Mai và sinh hoạt tu
học do Thầy hướng dẫn tại Pháp và các
nước ngoài.
Đến đây, tưởng cũng nên dừng lại
một chút để điểm qua khái niệm Thiền
học truyền thống Việt Nam và Thiền Làng Mai
của thầy Nhất Hạnh có ǵ khác biệt...
Thiền Việt Nam và Thiền Làng Mai
Vài nét về
Thiền Việt:
Thiền hay thiền na (Phạn ngữ: Dhyăna; Nhật
ngữ: Zen; Anh ngữ: Meditation) là một tên gọi
tương đối gần gũi với đạo
Phật để chỉ một h́nh thức tu
dưỡng tinh thần bằng nhiều phương pháp
khác nhau, nhưng h́nh thức phổ quát nhất vẫn là sự
trở về suy tư và soi rọi chính ḿnh trong tĩnh
lặng.
Lịch sử Thiền gắn liền với lịch
sử tri thức của con người. Đây là một h́nh
thức tĩnh tâm an dưỡng được nhiều
tôn giáo sử dụng để đạt trạng thái
tỉnh giác nội tại. Nếu tôn giáo là câu trả
lời tạm thời cho những câu hỏi, những
thắc mắc chưa có lời giải đáp dứt khoát
của con người th́ Thiền chính là một
phương tiện trực tiếp để con
người tự ḿnh đi t́m một cách trả lời
tương đối hợp với căn cơ của
chính ḿnh. Bởi vậy, nếu có bao nhiêu lối nh́n,
lối suy tư về cuộc sống th́ có bấy nhiêu
khái niệm hay cách định nghĩa "Thiền là
ǵ?"
Qua nhiều chặng đường h́nh thành và phát
triển đời sống tâm linh của con người,
h́nh thức tĩnh tâm - Meditation - đến với các tôn
giáo khác như đạo Chúa, đạo Hồi,
đạo Ấn, đạo Do Thái... như một thí
nghiệm đến rồi đi, không ở lâu. Riêng
với đạo Phật th́ h́nh thức tĩnh tâm đó
đă gắn liền và dung hợp với bản chất
"tâm không, tự độ" điển h́nh của
đạo Phật. Do đó, thiền tu, thiền hành,
thiền định... đă biến thành một h́nh
thức tu tŕ xương sống của Phật giáo.
Trong đạo Phật, người tập Thiền
nhờ định tâm, định trí mà đạt
đến một trạng thái sâu lắng của tâm
thức. Tâm và thức của người hành thiền
phải trải qua nhiều chặng, trong đó ḷng tham
dục và các pháp bất thiện sẽ bị rũ bỏ
dần dần nhờ sự lắng đọng chuyên tâm suy
tưởng của hành giả. Cuối cùng, người
hành thiền sẽ đến được trạng thái
tỉnh giác và an lạc.
Thiền phương Đông h́nh thành và phát triển trong
khoảng thế kỷ thứ 6, 7 khi Bồ Đề Đạt
Ma từ Ấn Độ mang pháp Thiền của đạo
Phật sang Trung Hoa. Nhà Phật học danh tiếng
người Đức, H. W. Schumann đă nhận xét:
"Thiền tông có một người cha Ấn Độ
nhưng đă chẳng trở nên trọn vẹn nếu
không có người mẹ Trung Quốc..."
Thiền Trung Hoa là một sự hoà quyện giữa
Thiền tông và Lăo giáo nên từ Sơ Tổ Đạt Ma
đến Lục tổ Huệ Năng (638-713), Thiền
Trung Hoa phát triển sâu rộng trong giới vua quan, quư
tộc, học giả, trí thức mà ít thâm nhập vào
quần chúng b́nh dân.
Thiền Việt Nam rất khác với tinh thần
Thiền học Trung Hoa và Nhật Bản v́ Phật giáo
Việt Nam là một nền Phật giáo nhập thế,
không tách rời hẳn với khung cảnh chính trị,
văn hoá và xă hội đồng thời. Tuy vẫn duy tŕ
được phần tinh yếu của nguyên lư "tùy
duyên bất biến" trong đạo Phật, nhưng
nhiều thiền sư trong lịch sử như Khuông
Việt, Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Tuệ Trung
Thượng Sĩ... vẫn góp phần xây dựng
đất nước một cách tích cực trong vai tṛ lănh
đạo tinh thần và tham vấn trong công cuộc
trị nước an dân.
Trong bối cảnh truyền thừa của Phật
giáo Á châu, chưa đất nước nào mà khái niệm
Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa lại có
sự gắn kết và hỗ tương hài hoà trong công
cuộc hoằng pháp độ sanh trong suốt cả
chiều dài lịch sử như Phật giáo Việt Nam.
Đại thừa nhập thế, nhưng vẫn
thường xuyên đi và về để tiếp cận
với ḍng suối trong mát đầu nguồn của tinh
thần Tiểu thừa, nguyên thủy. Có thể nói
bước tiến xă hội hóa và Việt
Đạo Phật truyền vào Việt
Vài nét về
Làng Mai và "Thiền Làng Mai"
Ngay khi có tin thầy
Nhất Hạnh và phái đoàn tăng thân Làng Mai về
thăm viếng và mở những buổi pháp thuyết và
pháp đàm tu học tại Việt Nam, giới Phật
tử tại quê nhà cũng như khắp năm châu
phản ứng lạc quan cũng nhiều mà bi quan cũng
lắm. Giới lạc quan th́ cho rằng, thầy Nhất
Hạnh sẽ là một thiện duyên để góp phần
khơi ḍng nguồn suối sức mạnh hóa giải
vốn tiềm tàng từ bên trong nội bộ Phật
giáo. Từ đó, Phật tử xuất gia cũng như
tại gia có thể tùy duyên phân thân h́nh thức nhưng tinh
thần th́ vẫn ḥa hợp. Giới bi quan th́ cho rằng,
sự về thăm quê hương của thầy Nhất
Hạnh chỉ có lợi cho thế quyền chứ
chẳng mang lại lợi ích ǵ cho Phật giáo. Sự hoài
nghi không vọng động là một biểu hiện ư
thức lành mạnh tạo sự quân b́nh cho ḍng tri thức
của xă hội có điều kiện tiến hóa.
Ngược lại, chỉ có sự cực đoan và
cuồng tín - tiêu biểu là sự khen hoặc chê quá đà
và vội vă, thậm chí đôi khi thô thiển trong ngôn
từ và thô bạo trong luân điểm - mới tàn phá và
chận đứng ḍng tiến hóa cần thiết của
tri thức mà thôi.
Trong khi sinh hoạt của thầy Nhất Hạnh
bị "cấm vận" trong nước từ
trước 1975 th́ thầy đă kiên tŕ t́m một
hướng đi riêng từ bên ngoài đất
nước.
Một hướng đi mà nhân loại đang cần
và trong hoàn cảnh nào cũng được tôn vinh, đó
là con đường của t́nh thương và tinh thần
đấu tranh cho lẽ phải để hóa giải
hận thù bằng phương pháp không bạo động.
Mahatman Gandhi, Martin Luther King, Đạt Lai Lạt Ma, Desmond
Tutu... là những nhà tranh đấu đ̣i tự do và
quyền làm người cho khối người bị áp
bức bằng phương tiện bất bạo
động mà nhân loại, không phân biệt mầu da hay
chủng tộc, hằng ngưỡng mộ. Thầy
Nhất Hạnh đă theo con đường của
những nhà đấu tranh bất bạo động
đi trước bằng môt tinh thần uyển chuyển
và sáng tạo rất Đông phương, đặt căn
bản trên tinh thần cốt tủy từ bi, trí tuệ
của Phật giáo. Làng Mai được thành lập trong
tinh thần tu dưỡng và khai sáng đó.
Làng Mai là một trung tâm thiền tập tọa lạc
tại miền Tây
Những năm đầu, nhiều cây hồng ăn
trái (persimon) đă được trồng lên cho nên trung tâm
thiền tập này được gọi là Làng Hồng.
Nhưng sau đó, 1250 cây mai thuộc loại pruniers d'Agen,
rất ngọt và đậm đà, đă được
trồng bằng tiền túi của thiếu nhi gốc
Việt Nam về tu học, cho nên Làng Hồng đă
đổi tên thành Làng Mai - tiếng Pháp là Village des pruniers,
tiếng Anh là Plum Tree Village, gọi tắt là Plum
Village. Tên chữ của Làng là Đạo Tràng Mai Thôn.
Mấy năm đầu th́ Làng Mai chỉ có hai xóm: Xóm
Thượng và Xóm Hạ. Nhưng v́ nhu cầu càng ngày càng
lớn của thiền sinh, Làng Mai mở thêm các xóm như:
Xóm Thượng, Xóm Hạ, Xóm Trung, Xóm Đoài và Xóm Mới. Xóm
Thượng đă trở thành chùa Pháp Vân, tên chữ là
Thệ Nhật Sơn Pháp Vân Tự. Xóm Hạ đă trở
thành chùa Cam Lộ, tên chữ là Mai Hoa Thôn Cam Lộ Tự.
Xóm Mới đă trở thành chùa Từ Nghiêm, tên chữ là
Thiên Ư Thôn Từ Nghiêm Tự. Xóm Mới có thêm Xóm Mới
Đầu Thôn và Xóm Mới Lưng Đồi để đủ
cung ứng nơi cư trú cho thiền sinh tới thực
tập càng lúc càng đông. Ngoài ra, Xóm Mới cũng mới
có thêm một ngọn đồi và một con suối
gọi là Đồi Dương Xuân và Suối Dương Xuân,
một niềm vui lớn cho các vị thường trú. Chùa
Pháp Vân là thiền viện của các vị xuất gia nam,
chùa Từ Nghiêm là thiền viện của các vị
xuất gia nữ. Trong số các thầy và các sư cô, có
nhiều vị gốc Anh, gốc Pháp, gốc Ḥa Lan,
gốc Mỹ, gốc Ái Nhĩ Lan, Úc... Làng Mai cũng là trú
sở của Viện Cao đẳng Phật học,
nơi đào tạo các vị giáo thọ xuất gia và
tại gia. Tại Đạo Tràng Mai Thôn, ngoài chúng xuất
gia, cũng có chúng tại gia thường trú, tu học
rất tinh chuyên.
Mỗi năm Đạo Tràng Mai Thôn tổ chức những
khóa tu mùa Hè, mùa Thu, mùa Đông, v.v... Số thiền sinh về
tham dự hàng năm có thể lên tới nhiều ngàn
người. Đa số là người ngoại quốc,
tới từ khoảng ba mươi quốc gia. Đạo
Tràng Mai Thôn đă trở nên một thiền viện
quốc tế. Tại Làng Mai, thầy Nhất Hạnh
đích thân giảng dạy và hướng dẫn các khóa tu
học cùng với sự phụ tá của gần hai
chục vị giáo thọ thường trú, phần lớn
là giới xuất gia (Theo Làng
Mai Website).
Với sự ra đời của Làng Mai, thầy
Nhất Hạnh đă tiếp nối phát huy tinh thần
đại chúng hóa của Phật giáo Việt Nam,
đưa tinh hoa của Thiền tông và Tịnh độ
đến gần với mọi người không phân
biệt chủng tộc hay hoàn cảnh xuất thân. Đối
với xă hội Âu Mỹ, đời sống đua chen
vật chất và ṿng quay quá nhanh của cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật đă làm cho tinh thần
cũng như thể chất con người thường
xuyên lắc lư theo đà quán tính của cuộc sống
hàng ngày. Sự ra đời của máy vi tính, điện
thọai cầm tay và phương tiện truyền thông
tinh vi, nhanh như ánh sáng khiến cho con người mất
chỗ trú ẩn. Con người bị đào bới
tận gốc rễ từ trong nếp suy tư, giữa ư
thức và vô thức. Cả vũ trụ vật lư nầy
đều bị đào xới và ô nhiễm. Núi, rừng,
sông, biển... cùng lắm th́ cũng chỉ là chỗ trú
thân và trú chân chứ không thể nào là chỗ an trú của
tinh thần. Thiền bỗng trở thành một giải
pháp. Đa số, người Âu Mỹ ngồi Thiền không
phải để t́m sự giải thoát thành Phật mà
để thành Người, một con ngườn an
lạc, đỡ bị bức xúc hay căng thẳng.
Thế thôi.
Bên cạnh Thiền Ấn Độ, Nhật Bản, Trung
Hoa, Tây Tạng, Đài Loan, Đại Hàn... th́ Thiền học
Việt Nam theo mô thức Làng Mai (cũng gọi là Thiền
Làng Mai) cũng được hàng ngàn, hàng vạn
người Âu Mỹ quan tâm t́m hiểu và theo học. Trong
hiện trạng sinh hoạt văn hóa và tâm linh tại các
nước Âu Mỹ, phải khách quan để thấy
rằng, thầy Nhất Hạnh là một trong những
hiện tượng hiếm hoi về sự thành công
của một nhà sư Phật giáo Việt Nam trong cộng
đồng thế giới. Ttrong gần 40 năm qua,
thầy Nhất Hạnh đă liên tục mở những
khóa tu học cho cả Việt
Đặc biệt tại Mỹ, những buổi nói
chuyện về các đề tài Thiền học và cách
ứng xử với cuộc sống hàng ngày trước
mắt bằng tinh thần Thiền học do thầy
Nhất Hạnh thuyết giảng và hướng dẫn
tại nhiều nơi trên đất Mỹ thường
thu hút đông đảo người nghe. Những hội
trường rộng mênh mông không c̣n chỗ trống. Nét
đặc trưng của các khóa tu học hay thuyết
giảng về Thiền của thầy Nhất Hạnh là tính
chất đơn giản và thực dụng, rất
hợp với căn cơ của người Mỹ và
người Việt trong xă hội công nghiệp Âu Mỹ.
Thính chúng không cần phải có một căn bản giáo lư
hay một quá tŕnh tu học vẫn theo dơi và hiểu
được.
Từ một cơ sở lư thuyết cao siêu, trừu
tượng và đặt trọng tâm vào tự lực
tự chứng của Thiền học, thầy Nhất
Hạnh đă đưa ra những phép tu, phương pháp
thực hành và lề lối suy niệm rất đơn
giản vào đại chúng.
Sau đây thử ghi lại một trong năm bài tập
thiền tập có hướng dẫn rất dễ làm theo
phương pháp của thầy Nhất Hạnh. Ai cũng
có thể tập thử để thấy tính chất
thực tiễn của thiền. Bốn bài đầu có
tác dụng nuôi dưỡng. Bài thứ năm có tác dụng
trị liệu, tất cả được trích trong sách Sen
búp từng cánh hé.
Bài tập thứ nhất:
1.
Thở vào, tâm
tĩnh lặng. Thở ra, miệng mỉm cười.
Tĩnh lặng. Mỉm cười.
2.
Thở vào, an trú trong
hiện tại. Thở ra, giây phút đẹp tuyệt
vời. Hiện tại. Tuyệt vời.
Nhiều người bắt đầu thực tập
thiền bằng bài tập này. Có nhiều người dù
đă thực tập bài tập này trong nhiều năm
vẫn c̣n tiếp tục thực tập, bởi v́ nó
tiếp tục đem tới nhiều lợi lạc cho
hành giả.
Thở vào, ta chú tâm tới hơi thở: Hơi thở
vào tới đâu ta cảm thấy tĩnh lặng tới
đó, giống như khi ta uống nước mát;
nước đi tới đâu th́ ruột gan ta mát tới
đó. Trong thiền tập, hễ tâm tĩnh lặng th́
thân cũng tĩnh lặng, bởi v́ hơi thở có ư
thức đem thân và tâm về một mối. Khi thở ra
ta mỉm cười, để thư giăn tất cả
các bắp thịt trên mặt (có khoảng 300 bắp
thịt trên mặt ta). Thần kinh ta cũng
được thư giăn khi ta mỉm cười. Nụ
cười vừa là kết quả của sự tĩnh
lặng do hơi thở vào đem lại, mà cũng vừa
là nguyên nhân giúp ta trở nên thư thái và cảm thấy
sự an lạc phát hiện rơ ràng thêm. Hơi thở
thứ hai đem ta về giây phút hiện tại, cắt
đứt mọi ràng buộc với quá khứ và mọi
lo lắng về tương lai, để ta có thể an
trú trong giây phút hiện tại. Sự sống chỉ
mặt trong giây phút hiện tại, v́ vậy ta phải
trở về giây phút ấy để tiếp xúc với
sự sống. Hơi thở này giúp ta trở về sự
sống chân thật. Biết ḿnh đang sống và biết
ḿnh có thể tiếp xúc với tất cả mọi
mầu nhiệm của sự sống trong ta và xung quanh ta,
đó là một phép lạ. Chỉ cần mở mắt
hoặc lắng nghe là ta tiếp nhận được
những mầu nhiệm của sự sống. V́ vậy
cho nên giây phút hiện tại có thể là giây phút đẹp
nhất và tuyệt vời nhất, nếu ta thực
tập sống tỉnh thức bằng hơi thở. Ta có
thể thực tập hơi thở thứ nhất
nhiều lần trước khi đi sang hơi thở
thứ hai. Bài này có thể thực tập bất cứ
ở đâu: trong thiền đường, trên xe lửa,
trong nhà bếp, ngoài bờ sông, trong công viên, trong các tư
thế đi, đứng, nằm, ngồi và ngay cả lúc đang
làm việc (Theo Website Làng Mai)...
Phật giáo
Việt
Lịch sử đạo Phật đă chứng minh
rằng, pháp nạn do tác động của hoàn cảnh và
thế lực khách quan, cho dù bạo liệt đến
đâu, cũng dễ t́m ra phương thức giải
trừ. Nhưng pháp nạn do tác động nội tại
"sư tử trùng thực sư tử nhục"
sẽ tạo nên một sự khủng hoảng thật
xót xa:
Môi hở th́
lạnh tới răng.
Trùng trong sư
tử tự ăn thịt ḿnh.
Sự bất đồng nội bộ thường là
nguyên nhân của sự phân hóa có khi vô phương hóa
giải nếu không có một nguồn suối sức
mạnh dấy lên và tỏa chiết từ bên trong.
Hiện trạng Phật giáo Việt
Phật giáo Việt
Về mặt cấu trúc, hệ thống thế
quyền nhà nước Việt
Trên thực tế th́ hầu hết quư Tăng ni và
Phật tử chọn một thái độ tu hành thầm
lặng. Một sự thầm lặng tích cực trong tinh
thần "tùy duyên bất biến" của Phật
giáo, xả bỏ những hệ lụy nhân sinh và chính
trị để an tịnh tiến bước trên
đường Đạo. Như trong thư của thầy
Thích Viên Định (GHPGVNTN) gửi thầy Thích Nhất
Hạnh đề ngày 19-01-05 cũng đă xác định
khuynh hướng nầy: "Như chư tăng ở
Già Lam - G̣ Vấp, hơn 70, 80 vị, cùng ở chung, cùng
ăn chung, cùng tụng kinh, bố tát chung, cùng hoà hợp,
nhưng trong đó có vị theo Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống nhất, có vị theo Giáo hội
Phật giáo Việt Nam của Mặt-trận, có sao đâu.
Chùa Giác Hoa ở B́nh Thạnh cũng vậy, trên 40 tăng
chúng cùng tu học, có vị này vị khác chứ có theo Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất hết
đâu, nhưng vẫn hoà hợp bố tát, có chia rẽ ǵ
đâu."
Trong lĩnh vực tôn giáo và tâm linh, sự phân hóa không
đồng nghĩa với vết cắt h́nh tướng
vật lư. Khi một vết cắt đă có, nếu nó không
hiện diện bên ngoài th́ nó sẽ lắng vào bề sâu.
Người theo đạo Phật nói chung, sau những
biến cố của đất nước và đạo
pháp, nhất là trong thời buổi mà các phương
tiện truyền thông đại chúng quá nhanh chóng và tinh
xảo nầy, không ai c̣n dễ dăi "giao khoán"
đức tin Tam Bảo của ḿnh vào tay bất cứ
một thế lực nào. Ngoại trừ những nhóm
mưu cầu đặc quyền đặc lợi
(interest groups) từ tôn giáo, Phật tử Việt
Sự tương tranh và phân hóa trong cuộc đời
thường đă quá sức chịu đựng của
người Phật tử nên họ t́m đến Đạo
như một chỗ dựa tinh thần. Họ là những
ḍng sông mệt mỏi v́ đă trải qua nhiều sóng gió,
giờ muốn t́m về với biển khơi an lạc
thái hoà. Cuộc đời mỗi người quá ngắn
và sự kiên nhẫn của mỗi người đều
có giới hạn để họ có đủ nhiệt
t́nh đối diện với một "Pháp Nạn
tự thân" ngay trên con đường học Đạo.
Phật tử trong nước cũng như ngoài
nước đă trực hay gián tiếp biểu tỏ 3
thái độ: (1) Theo Giáo hội Phật giáo Thống
nhất, (2) theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hoặc
(3) bên nào cũng theo hay không theo bên nào cả mà tự
lập nhóm chyên tu hay cá nhân tu hành độc lập tại
gia.. Nếu không có một người dân nào muốn làm
dân một non sông hận thù và chia cắt th́ cũng
chẳng có một người Phật tử nào lại
muốn quư Tăng Ni trong hàng giáo phẩm quay lưng lại
với nhau.
Cư sĩ Nguyên Trung trong bài viết: "Tâm lư tiểu
xảo và tinh thần hóa giải của Phật giáo
Việt
"Trong suốt 20 năm qua, Phật giáo Việt
Câu hỏi tự nó không đợi một câu trả
lời mà cần một sự trầm tư suy nghĩ...
MỘT GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỢP NHẤT
vẫn là khát vọng chính đáng của tất cả hàng
Phật tử xuất gia cũng như tại gia.
Thầy
Nhất Hạnh và chuyến viếng thăm Việt Nam
Giữa ḍng suy tư và
trong một hoàn cảnh phân hóa vừa tŕnh bày ở trên,
thầy Nhất Hạnh đă hướng dẫn 190
Tăng thân Làng Mai (quy tụ từ 30 quốc gia khác nhau)
từ Pháp về Việt Nam trong một chuyến viếng
thăm 3 tháng vừa mang tính chất hành hương,
vừa mang tính chất thuyết giảng và tu học,
vừa mang tính chất thăm viếng.
Người ta sẽ rất ngạc nhiên nếu không
có phản ứng nào từ phía quần chúng trong cũng
như ngoài nước về chuyến viếng thăm
nầy. Và, người ta sẽ ngạc nhiên nhiều
hơn nếu chỉ có một phản ứng xuôi
chiều, nghĩa là chỉ có ủng hộ hay chống
đối. Người ở trong cũng như
người ở ngoài đạo Phật hằng quan tâm
đến sinh họat văn hóa và xă hội đều
muốn biết và muốn nghe diễn tiến và tác
dụng của chuyến đi nầy một cách khách quan
và trung thực. Tôn giáo, tự bản chất, là một
hiện thể ra đời để làm giảm bớt
sự thống khổ về tinh thần của nhân
loại. Thế giới nầy lại là một hợp
thể từ đơn giản đến phức
tạp; từ thấp đến cao. V́ vậy, con
đường của tôn giáo là con đường trung
đạo. Sự cực đoan trong tôn giáo sẽ đi
ngược lại tinh thần tôn giáo. Thay v́ tôn giáo ra
đời để hóa giải những tranh chấp,
hận thù và đau khổ, th́ chính sự cực đoan
sẽ làm cho tôn giáo vong thân, cùng gieo rắc hận thù và
đau khổ.
Sự cực đoan trong môi trường truyền thông
qua h́nh thức ca tụng quá đà hay lời lẽ
đả kích thô bạo trong thông tin và b́nh luận về
tôn giáo chẳng những không mang lại một ư nghĩa
lợi ích nào cho ai mà chỉ tự trở thành
chướng ngại đối với đa số
quần chúng thầm lặng theo dơi. Điều nầy cũng
đây đó xẩy ra một cách đáng tiếc trong
chuyến về thăm Việt
Mỗi cá nhân hay nhóm phái đều có một góc nh́n riêng.
Nói như thiền sư Viên Minh: "Cũng chỉ là
một ḍng nước mà con cá th́ thấy đó là lẽ
sống, ngạ quỷ thấy đó là máu mủ tanh hôi,
người thấy đó là ḍng nước mát, bậc
thiên nhân thấy đó là huyết mạch của
đất trời... và đến cái nh́n tánh không của
Phật giáo th́ thấy đó chỉ là Không!" Trước
một đối tượng, mỗi phía nh́n một cách
không những hoàn toàn khác nhau mà có khi c̣n đối chọi
lẫn nhau từ hiện tượng đến bản chất.
Cũng chỉ là vấn đề thầy Nhất
Hạnh và tăng thân Làng Mai về Việt
Người quan tâm đến lễ nghi, quan cách th́
nhắc đến h́nh ảnh Phật tử cờ
quạt đưa đón sắp hàng dài cả cây số và
đợi chờ từ khi trời chưa sáng để
đón thầy Nhất Hạnh.
3- Người
thích chuyện Vơ hiệp kiểu quần hùng Thiếu Lâm
tự th́ chú tâm đến chuyện thầy Nhất
Hạnh gơ
cửa đứng chờ mà các
thầy Tuệ Sỹ, Huyền Quang, Quảng Độ không
mở.
4-Người
ưa chuyện "Đồ tể quăng dao thành
Phật" th́ kể chuyện những đại lễ
quy y tập thể của Phật tử
thuộc nhiều thành phần xă
hội với thầy Nhất Hạnh.
5-Người
chuộng việc tham thiền th́ nhắc nhở thiền
Làng Mai: “Thở vào tâm rỗng lặng, thở ra miệng
mỉm cười..." trong các
khoá tu học của thầy Nhất Hạnh.
6-Người
mến đạo Phật th́ cho thầy Nhất Hạnh
đă làm được việc lớn là ḥa hợp được
hai khối tu sĩ
thuộc cả hai Giáo hội
Phật giáo Thống nhất và Việt Nam ở các chùa
Từ Đàm, Từ Hiếu, Linh Mụ,
Linh Quang... vốn dĩ đă
không hoà hợp suốt 20 năm nay, lần đầu cùng
ngồi lại bố tát (sinh hoạt tu
học thường kỳ
của giới tu sĩ) với nhau và ra thông cáo chung sẽ
ḥa hợp bố tát lâu dài.
7-Người
đeo nặng căn cơ dục tính th́ cứ đem
thầy Nhất Hạnh với sư cô Chân Không làm
đối tượng vu
vạ, gán ghép theo tầm nh́n và
cảm quan phù hợp với nhăn quan tính dục riêng ḿnh.
8-Người
có khuynh hướng chính trị cực hữu th́ suy
đoán rằng, thầy Nhất Hạnh về nước
là theo khuynh
hướng thân cộng, làm
lợi cho phía nhà cầm quyền Việt
9-Và
người thích đội nón quai... da, quyết đoán
giản đơn th́ đồng hóa luôn thầy Nhất
Hạnh là cộng sản
cho nó...
khớp với lập trường quan điểm đă
dấy lên và xẹp xuống từ 1963!
Đối với
khối người thầm lặng, tỉnh táo theo dơi t́nh
h́nh, người ta không ngạc nhiên về sự khen chê,
đả kích nhưng lại ngạc nhiên và thất vọng
về sự đơn giản đến độ nghèo
nàn, thấp kém của chiến thuật và nội dung
đả kích. Khai thác dữ kiện làm căn bản cho
sự chống báng một nhà sư với tầm vóc
như thầy Nhất Hạnh mà người ta chỉ có
thể đưa ra những "chứng lư" ở tŕnh
độ ngồi lê đôi mách, thiên hạ đồn
rằng trong các con hẻm Việt
Thất
vọng và hy vọng
Sau ba tháng thăm viếng, lắng nghe, thuyết
giảng không ngừng nghỉ... phái đoàn thầy
Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai đă đưa ra
một thông điệp nhất quán và xác tín, rằng là:
Chỉ có Tấm ḷng, T́nh thương và Trí tuệ mới
đủ sức hóa giải những hiểu lầm, nghi
kỵ, phân hóa, đổ vỡ... do con người gây ra và
con người hứng chịu. Cuối chuyến đi,
thầy Nhất Hạnh đă đưa ra những
đề nghị: Sáu điểm về sự cởi
mở của Đảng Cộng sản Việt
Trước khi về Việt Nam, từ năm 1998,
thầy Nhất Hạnh và Đạo Tràng Mai Thôn chính
thức được mời thuyết giảng tại
Trung Quốc. Năm 2000, Trung Quốc Phật giáo Hiệp
hội đă gửi một phái đoàn đại diện
tất cả 48 tỉnh hội Phật giáo Trung Hoa lục
địa do ông Dương Đồng Tường, thứ
trưởng và vụ trưởng Quốc gia Tôn giáo
Vụ, hướng dẫn qua thăm Đạo Tràng Làng Mai.
Sau đó là những cuộc thăm viếng và thuyết
giảng ch́nh thức của phái đoàn thầy Nhất
Hạnh tại Đại Hàn. Măi đến năm 2004, sau
gần một năm thương thuyết gay go giữa
chính quyền Việt
Nêu lên những dữ kiện kiểm chứng
được trên đây, tôi không nhắm mục đích
phê phán hay biện minh cho ai cả. Đây không phải là hành
trạng mang tính "thâm cung bí sử" của một nhà
tu thường thấy trong các tuồng tích. Đây là một
thực tế rơ ràng mà mọi người đều có
thể nh́n thấy, theo dơi và kiểm chứng
được, nếu cần. Chuyến đi về nước
của thầy Nhất Hạnh là cả một câu
chuyện dài với nhiều t́nh tiết. Có nhiều t́nh
tiết là câu hỏi mà phải cần thời gian mới thấy
được đáp án. Những đáp án trong đạo
Phật vượt ra ngoài tầm nh́n hạn hẹp
của các khẩu hiệu chính trị nhất thời và
sự suy diễn tùy tiện một chiều.
Sau 30 năm cuộc chiến Mỹ / Việt chấm
dứt, hơn một nửa tổng dân số 84 triệu
người Việt Nam trong và ngoài nước ra
đời từ sau năm 1975. Thế hệ tiền
chiến Mỹ / Việt chỉ c̣n là vang bóng. Thế
hệ chiến tranh Mỹ / Việt đang lụi tàn
dần theo ngày tháng và thế hệ trẻ, thế hệ
đàn em, thế hệ hậu chiến Mỹ / Việt
đang từng bước thay cho thế hệ đàn anh
lên cầm vận mệnh của đất nước.
"Tre tàn măng mọc" là quy luật nhân sinh tất
yếu và khách quan. Thế giới đang bước vào
thế kỷ 21 với tốc độ siêu đẳng
để đưa quần thể loài người
gần lại với nhau như một "làng địa
cầu" mà có thể xóm Đông là Việt Nam và xóm Tây là
Mỹ quốc.
Cùng với cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật nói chung, trong lĩnh vực truyền thông, tin
học, tốc độ nháy mắt và khối
lượng khổng lồ của mạng lưới
thông tin liên lạc đă tác động tận gốc
rễ của đời sống tri thức. Những
huyền thoại một thời đang nhường
bước cho hiện thực và dữ kiện. Tri
thức con người không c̣n dễ bị thuyết
phục bằng niềm tin thuần túy không cần kiểm
chứng như thời quá khứ.
Trong lĩnh vực tôn giáo và thần học, nhân loại
đang bước qua bóng tối của sự khải
huyền (mythologization) để bước vào
ngưỡng cửa "giải huyền"
(demythologization) của thế kỷ 21 nhằm đánh tan
những huyền thoại, phá bỏ bức màn u tối
của t́nh trạng vô minh để khai sáng. Người
Việt
Theo thống kê mới nhất của cơ quan
Truyền thông Phật giáo Á Châu (Asian Buddhist Information.
December, 2004. Volume VI- 2A) th́ 95 phần trăm tuổi trẻ
thế hệ từ 15 đến 30 tuổi tại Trung
Hoa, Việt Nam, Đại Hàn hoàn toàn không quan tâm hay thiếu
sự hiểu biết căn bản về Phật giáo.
Thống kê này c̣n cho biết là tỷ số giới trẻ
"mù tịt tôn giáo" thấp hơn đối với
các hệ thống tôn giáo có tổ chức sinh hoạt
chặt chẽ như Thiên Chúa giáo, Tin Lành... Trước
một thực trạng như thế, sự hiện
diện của thầy Nhất Hạnh và Tăng Thân Làng
Mai là một sự dấn thân tiếp cận tích cực
để góp phần tạo điều kiện và
phương tiện thuận lợi cho sự giới
thiệu một h́nh thái sinh hoạt Phật giáo đặc
biệt của Đạo Tràng Làng Mai. Nếu có chăng sự
hoài nghi và thất vọng khởi lên từ phía nầy hay
phía khác th́ đấy cũng là những phản ứng tâm
lư thông thường và dễ hiểu trong một hoàn
cảnh tế nhị như hiện nay. Thế nhưng
niềm hy vọng về một tương lai tốt
đẹp hơn cho Phật giáo tại quê nhà cũng
đồng thời dâng cao sau chuyến viếng thăm
của thầy Nhất Hạnh
Cầu
nguyện cho Dân tộc và Đạo pháp có đủ thiện
duyên để hóa giải những xung đột và phi lư
đang trùng trùng biến hiện trong biển lửa
giữa hoa sen.