BIỆN
CHỨNG PHÁP TRONG KINH KIM CƯƠNG
( Trích nguồn : Văn hoá phương Đông )
10.03.2006 - 22:34
|
|
|
|
Kinh Kim Cương Bát Nhă Ba La Mật (Prajna
Paramita) gọi tắt là Kim Cương Kinh tương
truyền được đức Phật Thích Ca Mâu Ni
thuyết pháp tại tịnh xá của ông trưởng
giả Cấp Cô Độc trong vườn của Thái
tử Kỳ Đà nước Xá Vệ.
Sau đó kinh này được ngài A Nan Đà kiết
tập và ngài Cưu Ma La Thập dịch từ Phạn sang
Trung Hoa. Đây là di sản văn hóa quư báu của tư
tưởng phương Đông nói chung và văn hoá
Phật giáo nói riêng là một trong những cuốn kinh
căn bản nhất của Phật giáo Việt Nam
cũng như Trung Quốc. Lục Tổ Huệ Năng (638
- 713) là người tiều phu đốn củi không biết
chữ, nhưng khi nghe kinh này đă tỏ ngộ.
Ở Việt
Nam Thanh Biện (tổ thứ 4 của thiền phái
Vinitaruci,mất năm 686) luôn chuyên tâm tŕ tụng kinh này. Vua
Lư Thái Tông (1028-1054) trong bài truy tán thiền sư Tỳ Ni
Đa Lưu Chi có nhắc tới Bát Nhă trong đó kinh
Lăng già và Kim Cương là phổ biến nhất ở
nước ta. Diệu Nhân ni sư cũng thường
dẫn kinh Kim Cương để thuyết pháp. Năm
1092-1101, niên hiệu Hội Phong đời Lư Nhân Tông,
triều đ́nh mở hội thi kinh Pháp Hoa và kinh Bát Nhă,
Thiền Nham (1093-1163, thế hệ thứ 13 ḍng Vinitaruci)
đỗ đầu. Diệu Nhân ni sư cũng
thường dẫn kinh Kim Cương để thuyết
pháp. Trí Thiền (thế hệ 16 ḍng Vinitaruci, mất
năm 1174) nghe Giới Không giảng kinh Kim Cương mà
giác ngộ v.v… và v.v… Hầu hết các nhà tu hành, cư
sĩ Việt
Nội dung chủ yếu trong kinh Kim Cương là câu
hỏi của ông Tu Bồ Đề với đức
Phật: "Làm sao hàng phục vọng tâm?" “Làm sao an
trụ chân tâm” . Muốn hàng phục vọng tâm và an trụ
chân tâm, Như Lai Phật Tổ đă khuyên phải giữ
tâm thanh tịnh, chớ nên sinh vọng
chấp nơi sắc trần, thanh trần, hương
trần, vị trần, xúc trần và pháp trần. Tóm
lại, đừng khởi vọng tâm trụ chấp vào
một nơi nào cả (ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ
tâm). Tại sao Phật Tổ lại khuyên như vậy?
Bởi lẽ, phàm cái ǵ có h́nh tướng đều là
hư vọng (Phàm sở hữu tướng giai thị
hư vọng). Như Lai dạy:
“Nhất
thiết hữu vi pháp
Như mộng
huyễn bào ảnh
Như lộ
diệc như điện
ưng tác
như thị quán".
Tất cả đều vận động biến
đổi trong từng giây phút, tất cả đều vô
thường trong từng sátna, bởi vậy, suy cho cùng
tất cả chỉ là ảo ảnh. Đó là phép biện
chứng triệt để đẩy đến tận
cùng. Theo học thuyết nhà Phật, mỗi sự vật
hiện tượng đều là sự kết hợp
động của những yếu tố động (các
pháp, các Dharma), bởi vậy, nó vừa là nó vừa không
phải là nó. Khi chúng ta đặt tên cho một sự
vật th́ chúng ta đă dùng ư chí của ḿnh để
nhốt sự vật này vào trong khái niệm của chúng ta.
Trong thực tế, sự vật này đang vận
động, c̣n khái niệm của chúng ta đă trở nên
khô cằn chết cứng. Chính v́ lẽ này mà Gớt đă
nói rằng mọi lư thuyết đều khô cằn, c̣n cây
đời măi măi xanh tươi. Khái niệm chỉ là h́nh
ảnh chết cứng của sự vật ở trong quá
khứ. Chúng ta nhận thức sự vật theo V.I Lênin,
từ bản chất cấp một đến bản
chất cấp hai cấp ba và tới vô hạn. Chúng ta không
bao giờ nhận thức được bản chất
cuối cùng, bản thể tuyệt đối. Sống trong
thế giới tương đối, ảo ảnh, chúng
ta thường bàn luận, nói về những cái
tương đối, ảo ảnh. Tất cả
đều là tương đối đó là tuyệt
đối. Bởi vậy, chúng ta không nên trụ chấp
vào một cái ǵ cả. Ngay Bát Nhă Ba La Mật cùng vậy.
Đức Phật dạy: “Tu Bồ Đề! Như Lai
nói Bát Nhă Ba La Mật tức không phải Bát Nhă Ba La Mật
thế mới gọi là Bát Nhă Ba La Mật hay "Tu Bồ Đề!
Bát Nhă Ba La
Mật = A (1)
Không phải Bát
Nhă Ba La Mật = A (2)
Bát Nhă Ba La
Mật (sau) = A(3)
Ta có một công
thức mà đức Phật dạy: A không phải là A
mới chính là A.
Ở đây (1)
và (3) là khác nhau. (1) vừa là nó, nhưng chỉ vừa
buột miệng nói ra th́ nó đă không c̣n là nó, tức là
không (1) hay (2). Như vậy, cả (1) lẫn không (1)
tức (2): mới đích thực là (1) hay (3). Điều
này cũng giống như nói vi trần mới đích
thị vi trần.
Thế giới phi thế giới thị danh thế
giới. Nói như thế mới phản ánh chính xác
hiện thực đang vận động. Phương
pháp đó được Như Lai Phật Tổ áp
dụng cho mọi cái. Chẳng hạn, Ngài dạy:
“Nhất thiết pháp giả”, tức phi nhất thiết
pháp, thị cố danh nhất thiết pháp"; “Như Lai
thuyết chư tâm, giả vi phi tâm, thị danh vi tâm”;
"Chúng sinh giả: Như Lai thuyết, phi chúng sinh,
thị danh chúng sinh”; “Sở ngôn thiện pháp giả, Như
Lai thuyết, tức phi thiện pháp thị danh thiện
pháp"; "Phàm phu giả, Như Lai thuyết, tức phi
phàm phu, thị danh phàm phu”; “Sở ngôn pháp tướng giả,
Như Lai thuyết, tức phi pháp tướng, thị danh
pháp tướng"; v.v..và v v
Cái mà chúng ta vừa gọi ra th́ đă không c̣n đúng
như vậy nũa rồi. Đó là đạo. Lăo Tử
nói: "Đạo bất khả ngôn, ngôn bất khả
đạo" là như vậy. Khi đă ngộ
đạo, khi đă có trí tuệ Bát Nhă th́ việc chấp
Ngă và Pháp sẽ không c̣n nữa, cho nên nói tên kinh, đến
vi trần, thế giới pháp, tâm chúng sinh, phàm phu,... sợ
chúng sinh, chấp tên kinh, chấp vi trần, thế
giới, pháp, tâm, chúng sinh, phàm phu, nên Phật Tổ đă
dùng trí tuệ Bát Nhă để phá chấp về những
cái đó. Đó là phép biện chứng trong kinh Kim
Cương, cái mà ngày nay chúng ta quen gọi là phép biện
chứng ngây thơ, nhưng theo tôi lại rất cao siêu.
Cách đây hơn -2500 năm mà đức Phật đă nh́n
ra như vậy th́ thật quả là vĩ đại.
Nhiều học thuyết sau này cho vận động là
tuyệt đối, c̣n đứng yên chỉ là trạng
thái cân bằng tương đối, tạm thời.
Nhưng trong cuộc sống hàng ngày họ vẫn bấu
víu vào cái đứng yên tạm thời, vẫn cho “cái
tôi", “cái ta" là quan trọng. C̣n nhà Phật đẩy
một cách triệt để từ “vô thường"
đến “vô ngă”. Cuộc đời con người
sống chưa được 100 năm ta cứ
tưởng là dài, và trong khoảng thời gian đó ta
tưởng rằng ta vẫn là ta, bởi vậy mà ta
chấp có “cái ta”, “cái ngă". Một trăm năm so
với vũ trụ bao la vô tận này th́ thật chẳng
thấm vào đâu. Nếu lấy một tíc tắc trong
vũ trụ bằng một trăm năm trên trái
đất th́ nhiều người chưa sống nổi
một tíc tắc, cũng giống như có những sinh
vật vừa nở ra đă chết. Biết đâu
một tíc tắc của con người lại là một
trăm năm đối với sinh vật phù du này. Có
điều chân lư càng cao xa tinh khiết th́ đối
với con người trần tục bụi bặm
lại càng khó áp dụng.
Mâu thuẫn là không mâu thuẫn mới chính là mâu thuẫn
c̣n không mâu thuẫn là mâu thuẫn mới chính là không mâu
thuẫn. Lôgíc và biện chứng của cuộc sống là
như vậy, và phép biện chứng trong kinh Kim
Cương chính là phép biện chứng của bản thân
cuộc sống.
HHL (Theo Triết lư
trong VHPĐ)