Bí Quyết Ðể Sống Khỏe
Trần Anh Kiệt
Sưu tập & Chuyển ngữ
---o0o---
Ðây không phải là quyển sách về y khoa quy ước
mà chỉ là một quyển sưu tập tài liệu y học dân gian cổ
truyền để quý độc giả tham khảo. Người viết không chịu
trách nhiệm về những hậu quả bất lợi, nếu có, xảy ra cho
người áp dụng.
Lời Người Viết
Trong những năm vừa qua, một số
bằng hữu đã tặng tôi các tài liệu về dưỡng sinh và sức
khỏe. Rồi một thời gian sau, có vị lại hỏi tôi : “Những
tài liệu mà tôi đã tặng anh hồi đó, anh còn cất giữ hay
không ? Nếu còn cho tôi mượn lại để photocopy vì tôi đã
làm thất lạc hết rồi”. Do đó tôi đã phải soạn lại và
đôi khi chính mình cũng không tìm lại được những tài
liệu quý báu kia. Cho nên tôi nghĩ cách tốt nhất để giữ
gìn các tài liệu này là nên tập trung lại thành một
quyển sưu tập, rồi in ấn đàng hoàng để phổ biến trong
giới đồng hương và thân hữu của mình để sau này khỏi bị
thất truyền.
Những tài liệu dưỡng sinh mà tôi hiện có gồm những bài
luyện tập về khí công, án ma và các bài thuốc dân gian
cổ truyền. Một số bằng Việt ngữ, một số khác thì bằng
tiếng Hoa hoặc Anh ngữ. Tuy các phương pháp chữa trị này
không phải thuộc về kiến thức y khoa quy ước, nhưng qua
kinh nghiệm của một số người áp dụng thì cho rằng nó có
công hiệu thật sự nếu chúng ta thực hành một cách nghiêm
chỉnh và đàng hoàng như trong tài liệu hướng dẫn.
Trong quyển Bí Quyết Ðể Sống Khỏe mà chúng tôi đã
xuất bản hồi năm 2002, chỉ võn vẹn có một dịch phẩm tài
liệu duy nhất “Kiện Khương Trường Thọ Thập Bí Quyết”,
có nghĩa là 10 phương pháp để làm cho thân thể được
khỏe mạnh và sống trường thọ, do nhà xuất bản Thánh
Thiên Ðường Ðạo Tràng ở thành phố Ðài Trung (Ðài
Loan) phát hành.
Quyển sách này hướng dẫn chúng ta dùng đầu ngón tay để
nhấn (áp chỉ) vào huyệt đạo hoặc dùng bàn tay xoa bóp
(án ma) những điểm trọng yếu của cơ thể. Ðây là một lối
trị bệnh theo phương pháp cổ truyền và rất phổ biến của
người Trung Quốc.
Nhận thấy các phương pháp này rất giản dị, dễ tập và rất
hữu ích để duy trì sức khỏe và phòng chống bệnh tật, nên
tôi đã chuyển dịch sang Việt ngữ để phổ biến nội bộ
trong các bạn đồng hương và bà con của mình ở hải ngoại
để tùy nghi ứng dụng. Trong kỳ tái bản lần này, tôi xin
bổ sung thêm một số tài liệu mới mà tôi đã sưu tập được
từ các thân hữu. Trong những lần tái bản sau, nếu có
được những tài liệu mới khác, tôi sẽ bổ túc thêm để
quyển sưu tập này càng ngày càng phong phú hơn.
Vì lẽ tôi không tìm được địa chỉ của các tác giả những
tài liệu nói trên, nên không thể gởi thư để xin phép và
cám ơn được. Nhân đây tôi xin mượn trang Lời Người
Viết này để xin quý vị thông cảm và chấp thuận cho
tôi được đăng lại những tài liệu hữu ích của quý vị đã
phổ biến, hầu tiếp tay với quý vị để san sẻ những kho
tàng quý báu này cho bà con được thụ hưởng chung.
Sau cùng, chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý bà con và
quý thân hữu đã gởi tặng các tài liệu quý báu trên cho
chúng tôi để hình thành quyển sưu tập này.
Sydney, ngày 15 tháng 5 năm 2004
Trần Anh Kiệt
Bài I: Mười Phương Pháp Ðể Kiện Thân và Sống Trường Thọ
(Kiện Khương Trường Thọ
Thập Bí Quyết)
Nguyên bản Hoa Ngữ của
Thánh Thiên Ðường Ðạo Tràng ở Ðài Trung (Ðài Loan) phát
hành
Lời tựa của
ngài Diêu Trì Kim Mẫu
Sách Y Học Cổ Ðiển Nội Kinh của Trung Quốc có
viết: Thượng công trị vị bệnh, trung công trị
dĩ bệnh. Có nghĩa trị bệnh chưa đến là thượng sách,
còn trị bệnh đã phát khởi rồi chỉ là trung sách
mà thôi. Hay nói đúng hơn người xưa cũng đã quan niệm
một cách thiết thực về việc bảo vệ sức khỏe là phòng
bệnh tốt hơn chữa bệnh.
Ngày nay, Nam Cực Tiên Ông nhận thấy các môn sinh Thánh
Thiên của Ngài đã hết sức cần lao tâm lực để phụng sự
đạo pháp và chúng sinh, nên đã giáng cơ chỉ dẫn để phù
trợ cho họ luôn được sức khỏe dồi dào. Thứ đến là Ngài
cũng nhìn thấy nhân loại tại thế gian điêu linh, đã bị
dày vò bởi bệnh hoạn khổ sở và nguy khốn, nên đã cho phổ
biến 10 bí quyết phòng chống bệnh tật bằng phương pháp
ngoại khoa để tự chữa. Phương pháp này là cách hướng dẫn
mọi người tự khám phá ra các điểm trọng yếu của mạch lạc
hầu dùng áp chỉ hay án ma để điều hòa sự luân lưu máu
huyết trong cơ thể. Cách thức thực hành rất giản dị và
chúng ta ai nấy cũng đều có thể áp dụng được một cách dễ
dàng.
Ngoài ra, đối với những người đã chịu nhiều đau khổ vì
bệnh tật, thuốc men không chữa dứt, áp dụng thêm phương
pháp ngoại khoa này để phối hợp chữa trị thì kết quả sẽ
càng hữu hiệu thấy rõ.
Hy vọng những vị có lòng từ tâm, thương yêu đồng loại,
hãy vì sự đau khổ của chúng sinh mà phổ biến quyển sách
hữu ích này đến tận tay nhiều người thì công đức vô vàn
biết mấy.
Thiên Vận Giáp Tý Niên, ngày 12 tháng 2.
DIÊU TRÌ KIM MẪU
Ðài Trung Thánh Thiên Ðường
Sau Ðây Là Nội Dung Mười Bí Quyết
Ðể Sống Khỏe và Trường Thọ Của Nam Cực Tiên Ông
Quyển sách nhỏ Kiện khương Trường Thọ Thập Bí Quyết
này chẳng qua chỉ là những phương pháp áp dụng trong
vòng 10 phút đồng hồ để tự chữa một số bệnh tật thông
thường. Trong vòng mười phút thôi, chúng ta có thể tự
mình đả thông các huyệt đạo quan yếu liên hệ.
Mười phương pháp vận động kinh mạch toàn thân này rất
giản dị. Chúng ta có thể áp dụng tại bất cứ nơi chốn nào
và thời điểm nào trong ngày cũng rất thích hợp nên rất
tiện lợi cho mọi người trong mọi lứa tuổi. Chúng ta
không cần phải mua sắm dụng cụ thể thao, không cần đóng
học phí cho trường huấn luyện mà ở tại nhà hoặc tại văn
phòng hay nơi làm việc cũng có thể tùy tiện thực tập
trong vòng giây lát.
Mọi người trong chúng ta nếu muốn được sống khỏe, sống
vui và sống trường thọ, xin hãy áp dụng các phương pháp
dưỡng sinh này ngay từ bây giờ thì hiệu lực vô cùng hữu
ích.
Các phương pháp châm cứu, áp chỉ, án ma trong y học cổ
truyền Trung Quốc hoàn toàn dựa trên nền tảng lấy sự vận
hành của kinh mạch làm chủ yếu. Tuy nhiên châm cứu quan
trọng hơn và có tính cách chuyên khoa hơn. Do đó người
áp dụng phương pháp này phải là những nhà y học chuyên
nghiệp. Còn áp chỉ và án ma là thứ yếu, là phụ kiện, và
trong dân gian ai cũng có thể học được để tự chữa bệnh
cho chính mình hoặc cho chính người thân của mình. Tuy
nhiên không phải vì thế mà kém phần công hiệu. Vả lại,
nếu chúng ta áp dụng thường xuyên mỗi ngày không những
phòng chống được bệnh tật mà còn được khỏe mạnh, kéo dài
được tuổi thanh xuân và trường thọ nữa. Khi nhức đầu thì
mình trị nhức đầu, đau chân thì trị đau chân..., liên
tục trấn áp bịnh tật không cho nó có cơ hội phát khởi
thì thử hỏi sao mà không thể sống khỏe được.
Về vấn đề vận hành kinh mạch trong cơ thể của con người,
chúng ta có thể phân chia làm mười bộ phận và vị trí
khác nhau.
1.
Mắt : Tình Minh Huyệt và Thái Dương Huyệt.
2.
Tai : Phía sau ót có huyệt Minh Thiên Cổ.
3.
Mũi : Nghinh Hương Huyệt.
4.
Miệng: Phương pháp vận động của môi và răng.
5.
Mặt : Tất cả các huyệt đạo trên mặt.
6.
Cổ : Phía trước và phía sau của cổ.
7.
Ngực : Các kinh mạch tiếp cận ở phổi.
8.
Tay : Hiệp Cốc Huyệt, lòng bàn tay và lưng
bàn tay.
9.
Thắt lưng : Huyệt Mạng Môn ở phía sau thắt lưng.
10.
Chân : Huyệt Túc Tam Lý.
Những huyệt đạo trong mười bộ phận của cơ thể con người
rất quan trọng và mỗi huyệt phụ trách các nhiệm vụ khác
nhau. Cho nên nếu hàng ngày chúng ta xoa bóp hay uốn nắn
nó, làm cho nó được linh hoạt thì khả năng tiêu trừ bịnh
tật rất cao. Giống như cơ thể của chúng ta, sau một ngày
làm việc mệt mỏi cũng cần phải được nghỉ ngơi bằng giấc
ngủ và dùng ba bữa ăn để bồi dưỡng. Phương pháp áp chỉ
hay án ma này rất dễ thực hành. Chỉ cần nhớ một điều là
trước khi áp dụng, chúng ta phải xoa mười đầu ngón tay
và lòng bàn tay cho nóng gọi là để cho có tĩnh điện rồi
mới bắt đầu thực hành.
Phương Pháp Thực Hành
1.-Mắt Và Thị Giác: Trong dân gian chúng ta
thường nói, mắt là cửa sổ của tâm hồn, là cơ quan trọng
yếu của con người giúp chúng ta trông thấy và phân biệt
được mọi vật cụ thể ở chung quanh mình và trong phạm vi
sinh hoạt. Chung quanh của mắt được bố trí các huyệt đạo
như sau: Tình Minh huyệt, Ty Trúc Không huyệt và Ðồng Tử
Giao huyệt v.v...
Những huyệt đạo này có nhiệm bảo vệ và dinh dưỡng cho
mắt luôn luôn được khỏe mạnh và trong sáng. Cho nên hàng
ngày chúng ta phải xoa nắn các huyệt đạo này để cho nó
lúc nào cũng linh hoạt nhờ máu huyết lưu thông điều hòa
dể nuôi dưỡng các thần kinh của mắt và thị giác. Nếu
chúng ta kiên tâm áp dụng hàng ngày có thể chận đứng
được sự phát sinh của các chứng bệnh cận thị, viễn thị,
loạn thị, đục nhân mắt và võng mô bị kết mạc. Ngoài ra
phương pháp này cũng còn làm cho mắt trông lanh lẹ và có
thần sắc.
Ðây là phương pháp xoa mắt theo lối áp chỉ. Hai bàn tay
được xoa đi xoa lại nhiều lần làm cho nóng các ngón tay
để phát sinh ra tĩnh điện. Sau đó dùng hai ngón giữa ấn
lên Tình Minh Huyệt của hai mắt, kéo vòng lên chân mày
tới Ty Trúc Không Huyệt, vòng xuống Ðồng Tử Huyệt và sau
cùng trở lại Tình Minh Huyệt coi như xoa được một vòng
(Xem hình B và C). Sức mạnh ấn xuống trong lúc xoa mắt
vừa phải, không quá mạnh mà cũng không quá yếu. Trong
khi xoa, đôi mắt nhắm lại, sau khi xoa xong, không nên
mở mắt liền mà phải tiếp tục nhắm mắt từ 30 giây đến một
phút
Trong khi chưa mở mắt ra, chúng ta dùng đầu của hai ngón
tay cái ấn lên huyệt Thái Dương, di động vòng vòng trong
một vòng tròn nhỏ, từ 21 tới 36 lần. (Xem hình D).
Phương pháp này có thể làm cho tỉnh não sau khi làm việc
mệt nhọc vì vận dụng trí óc nhiều và cũng chữa được
chứng nhức đầu rất hay.
2.-Xoa Tai: Chung quanh tai của con người có rất
nhiều huyệt đạo (Hình E). Các huyệt đạo này lại liên
quan đến hầu hết các bộ phận trong cơ thể. Cho nên chỉ
cần xoa bóp hai bên tai là có thể đã đánh thức sự vận
hành của các cơ quan trong toàn thân. Cách xoa là áp hai
lòng bàn tay vào tai, kẹp phần dưới của hai vành tai
giữa hai ngón trỏ và ngón giữa rồi xoa theo cử động đưa
lên đưa xuống từ 21 đến 36 lần. (Xem hình F). Sau khi
xoa, toàn thân cảm thấy sảng khoái và ấm áp. Sau đó dùng
hai bàn tay áp chặt để bịt kín hai lỗ tai lại. Các ngón
tay hướng về phía sau và bợ lấy sau ót. Ngón trỏ đè lên
ngón giữa, dùng sức bật ngón trỏ ấn mạnh xuống từ 21 đến
36 lần. Vì hai lỗ tai đã bị bịt kín, nên chúng ta nghe
được âm thanh phát xuất như tiếng trống mà các môn sinh
bên Ðạo Gia gọi là Minh Thiên Cổ. Âm thanh này giúp cơ
thể trì hoãn sự lão hóa, trị được chứng ù tai và chữa
được bệnh cao huyết áp.(Hình G).
3.-Xoa Mũi: Dọc theo sóng mũi có các huyệt đạo
Tình Minh, Tiểu Nghinh Hương, Tỷ Thông và huyệt Nghinh
Hương (Xem hình H). Phương pháp này có thể chữa được các
chứng bệnh về mũi như nghẹt mũi, viêm mũi và chảy mũi
v.v...Mỗi ngày chỉ cần xoa mũi hai lần có thể giảm bịnh
và đồng thời tinh thần cũng được minh mẫn. Vì những
người bị bệnh mũi, tinh thần không được tỉnh táo, hay lừ
đừ, trí nhớ kém, không thể tập trung tinh thần nên học
bài lâu thuộc. Chỉ cần chữa cho mũi được thông thì tinh
thần và trí nhớ sẽ hồi phục lại như xưa.


Trước hết chúng ta dùng hai ngón tay giữa cọ xát lại với
nhau đến khi nóng lên, rồi đặt hai ngón tay này lên hai
bên mũi xoa lên xoa xuống. Xoa lên đến điểm cao nhất là
huyệt Tình Minh và thấp nhất là huyệt Nghênh Hương (xem
hình I). Cử động từ 21 đến 36 lần. Mỗi lần cử động là kể
luôn hai động tác xoa lên và xoa xuống.
4.- Xoa Miệng: Miệng gồm môi và răng. Môi thì gồm
có môi trên và môi dưới. Môi trên có huyệt Hòa Giao và
môi dưới có huyệt Thừa Tương (Hình J). Kích động hai
huyệt này giúp chúng ta ngừa được các chứng cảm mạo,
sưng nướu và chảy máu răng. Thực hành bằng cách đặt môi
trên và môi dước ở giữa hai ngón tay trỏ và ngón tay
giữa, rồi kéo qua kéo lại theo cử động chiều ngang (Hình
K). Mỗi lần xoa như vậy từ 21 đến 36 cử động. Xong rồi
chúng ta cắn răng nghe cọc cọc từ 21 đến 36 lần. Phương
pháp này là một cách dưỡng sinh hữu hiệu do các môn sinh
Ðạo Gia đã thực hành từ thuở xa xưa để duy trì sức khỏe.
Phần đông người ta bắt đầu từ 60 tuổi trở lên, răng cỏ
ít nhiều cũng bị lung lay hay bị rụng. Tuy nhiên các vị
Ðạo Gia ở Trung Quốc đã thực hành phương pháp cắn răng
như thế. Họ coi như là một thứ công phu để giữ cho răng
được bền vững, nên có người đã già mà răng vẫn còn đầy
đủ và rắn chắc.
5.- Xoa Mặt: Trên mặt có rất nhiều huyệt đạo liên
quan đến nhiều bộ phận trong cơ thể của con người như
Thừa Khấp, Tứ Môn, Thần Giao, Quan Giao, Ðịa Thực và Ðại
Nghinh (Xem hình L). Xoa mặt không những khích động sự
tuần hoàn của máu điều hòa đến tận các mao huyết quản.
Do đó dung nhan được hồng hào, tươi nhuận và kéo dài
được tuổi thanh xuân. Ngoài ra nó còn làm cho một số cơ
quan khác trong cơ thể vận hành linh hoạt, trợ giúp sức
mạnh cho ngũ tạng lục phủ.
Ðặt hai bàn tay và các ngón tay lên mặt ở hai bên mũi.
Lòng bàn tay hướng vào trong, tiếp xúc với da mặt (Hình
M). Xoa lên xoa xuống từ 21 đến 36 lần. Tiếp tục áp dụng
phương pháp này trong vài tháng sẽ thấy công hiệu phi
thường. Nhất là đối với phụ nữ, các mụn nhọt và tàn nhan
sẽ đần dần phai nhạt vì máu huyết đã được lưu thông điều
hòa và các tuyến mồ hôi lâu nay bị bế tắc sẽ có cơ hội
tái hoạt động và bài tiết các chất cặn bã ra ngoài để da
được sạch sẽ và trơn láng.
6.- Xoa Bóp Cổ: Cổ là cơ quan trung gian nối tiếp
giữa não bộ ở đầu và các dây thần kinh cùng huyết mạch
đi khắp cơ thể. Khí quản, thực quản, động mạch, tỉnh
mạch đều thông thương ngang qua cửa ải này. Phía sau của
cổ có đến 12 kinh mạch, trong đó có Túc Thái Dương Bàng
quang kinh, Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu kinh, Túc Thiếu
Dương Ðảm kinh v.v... điều khiển cử động và sự vận hành
các bộ phận trong cơ thể. Ngần ấy công việc đủ biết cổ
quan trọng như thế nào. Những học sinh và sinh viên vận
dụng trí não quá nhiều, cảm thấy mệt mỏi không muốn đọc
sách thêm nữa, có thể xoa bóp ở phía sau cổ, sẽ thấy
tinh thần sảng khoái và minh mẫn trở lại. Xoa cổ cũng là
một động tác nhằm khích động sự hưng phấn của não bộ,
làm cho tinh thần được phấn khởi.
Cách xoa là dùng bàn tay trái bóp nhẹ lên phía trước cổ,
đặt cổ giữa gọng kềm của ngón tay cái và 4 ngón tay khác
còn lại; ngón cái bên trái, còn ngón trỏ và 3 ngón kia
thì ở bên mặt (Hình N). Xoa bóp bằng cách kéo từ trên
xuống dưới từ 21 đến 36 lần động tác. Sau đó dùng trọn
lòng bàn tay mặt ôm sau cổ lên chí ót. Xoa bóp cũng bằng
cách kéo từ trên xuống dưới từ 21 đến 36 lần (Hình O).


7.- Xoa Bóp Ngực: Ngực là cơ quan tiếp cận với
các tạng phủ bên trong của thân thể. Tuy nhiên xoa ngực
gặp phải khó khăn hơn những động tác khác vì tất cả mọi
người đều mặc áo, và người ta không thể tùy tiện cởi áo
trước mặt mọi người. Ðối với nam giới, chúng ta có thể
dùng hai lòng bàn tay đặt lên ngực trái và ngực phải rồi
xoa bóp theo cử động lên xuống. Riêng đối với nữ giới,
không cần cởi áo. Chỉ cần đặt hai lòng bàn tay lên ngực
và cũng xoa lên xoa xuống, lòng ngực và phổi sẽ cảm thấy
thoải mái, kích động sự vận hành của kinh mạch và các
huyệt đạo liên quan đến các bộ phân khác được thông
thương như bao tử, ruột non, ruột già, gan, thận, tim,
phổi v.v... Riêng đối với thai phụ, áp dụng phương pháp
này, sau khi sanh sẽ có rất nhiều sữa cho con bú.
8.- Xoa Tay: Phương pháp xoa tay rất giản dị và
rất dễ thực hành; đi, đứng , nằm, ngồi gì đều có thể xoa
được nên rất tiện lợi.
Trước hết dùng hai lòng bàn tay ma sát lại với nhau đến
khi thấy nóng. Rồi dùng lòng bàn tay phải xoa lên lưng
bàn tay trái từ 21 đến 36 lần. Sau đó đổi thế, dùng bàn
tay trái xoa lên lưng bàn tay phải cũng theo cử động lên
xuống, và cũng từ 21 đến 36 lần (Hình P).
Xong động tác xoa lưng bàn tay, đến lượt xoa cổ tay.
Dùng lòng bàn tay mặt nắm lấy cổ tay trái và xoa bằng
cách kéo lên kéo xuống. Sau đó đổi thế dùng bàn tay trái
nắm cổ tay mặt và xoa lên xoa xuống. Mỗi bên xoa từ 21
đến 36 lần động tác (Hình Q).
Ðộng tác xoa tay này tuy rất đơn giản, nhưng công hiệu
vô cùng. Vì trên tay có những huyệt đạo sau đây: Thủ
Thái Âm Phế Kinh (liên quan đến phổi), Thủ Dương Minh
Ðại Trường Kinh (liên quan đến ruột già), Thủ Thái Âm
Tâm Kinh (Tim), Thủ Thái Dương Tiểu Trường Kinh (ruột
non)....Vì chúng ta chỉ học cách thực hành, nên không
cần đi sâu vào chi tiết các huyệt đạo phân bố như thế
nào. Thực ra các huyệt đạo trên tay đóng vai trò vô cùng
quan trọng trong việc bảo trì sức khỏe của con người.
Rất tiếc có nhiều người không hề quan tâm đến lối chữa
trị thông thường nhưng rất hữu hiệu này mà chỉ cầu cạnh
vào thuốc men mà thôi.
9.- Xoa Bóp Thắt Lưng: Thắt lưng là nơi có rất
nhiều huyệt đạo chủ yếu như Luyến Khu, Mệnh Môn, Dương
Quang v.v...(Hình R). Hàng ngày cần phải xoa bóp khu vực
quan trọng này để cho nó ấm lên, thì máu huyết sẽ lưu
thông điều hòa làm cho thận, gan, ruột....đều được khỏe
mạnh. Ðặc biệt cách xoa bóp này cũng làm cho cột xương
sống linh hoạt, Tủy sống là nơi tạo ra máu huyết cho cơ
thể, là tổng bộ của hệ thần kinh. Dùng hai bàn tay xoa
với nhau cho thật nóng, úp lòng bàn tay lên hai bên
xương sống và ngang thắt lưng, xoa lên xoa xuống cho
thắt lưng nóng lên, từ 21 đến 36 động tác. Xoa như vậy
thường xuyên mỗi ngày từ hai hoặc ba lần sẽ trị được
chứng đau lưng rất hay. Tuy thuốc trị đau lưng nhanh
chóng hơn, nhưng nó có tính cách nhất thời. Còn trị đau
lưng bằng cách xoa bóp mỗi ngày như vậy bệnh sẽ không
tái phát mà còn ngừa được nhiều chứng bệnh khác phát
sinh.
10.- Xoa Bóp Chân: Chân có hai nơi quan trọng cần
phải xoa bóp mỗi ngày. Ðó là xương đầu gối và huyệt Túc
Tam Lý cách nắp xương đầu gối 25cm. (Hình S) và ở mặt
trước của ống quyển (ống chân). Theo y lý Ðông Phương,
đầu gối là nơi phát xuất ra các bệnh phong thấp, đau
khớp xương và là trung khu gây cho xương bị lão hóa. Ðể
phòng ngừa các bệnh tật này thường xảy ra cho người
trọng tuổi, hàng ngày chúng ta phải xoa bóp nó thì bảo
đảm xương cốt rắn chắc, vững vàng không thua sức lực của
thời niên thiếu là bao nhiêu.
Trước hết là xoa bóp xương đầu gối. Phương pháp thực
hành là ngồi trên một chiếc ghế thật vững. Ðặt hai lòng
bàn tay lên trên hai đầu gối. Tay trái đặt lên trên gối
trái, tay phải đặt trên gối phải. Rồi bắt đầu xoa đầu
gối theo động tác vòng tròn, cũng từ 21 đến 36 lần. Sau
đó xoa huyệt Túc Tam Lý ở ống chân. Túc Tam Lý có nghĩa
là đi bộ ba cây số. Từ đó chúng ta thấy rằng mọi sự đi
đứng của con người đều nhờ ở lực của huyệt Túc Tam Lý.
Bởi thế, ở Trung Quốc thời xưa, phần đông khi dự định đi
bộ đường xa, người ta thường châm cứu huyệt Túc Tam Lý
để đi đường ít bị mỏi mệt. Ngoài ra đối với những người
ăn uống khó tiêu hóa, thận suy, hàng ngày năng xoa bóp
huyệt đạo này, bảo đảm ăn uống biết ngon và tiêu hóa
bình thường trở lại, không còn lo lắng về bệnh bao tử và
đường ruột nữa. Ðể thực hành, chúng ta ngồi trên ghế,
dùng hai bàn tay xoa huyệt này theo chiều lên xuống, mỗi
lần là 36 động tác.
Tóm lại, trên đây là mười bí quyết xoa bóp huyệt đạo để
thân thể được khỏe mạnh và sống trường thọ. Mỗi ngày
chúng ta chỉ cần bỏ ra khoảng 10 đến 15 phút để thực
hành phương pháp này liên tục càng lâu ngày, chúng ta sẽ
cảm thấy sức khỏe có chiều hướng tiến bộ, ít bệnh tật và
yêu đời hơn. Ðặc biệt đối với người trọng tuổi, vào mùa
lạnh, cần quan tâm đến việc xoa bóp huyệt đạo nhiều hơn.
Không phải ở trong nhà có máy sưởi, mặc áo ấm là có thể
chống lạnh đầy đủ. Chống lạnh bằng cách này, thân thể co
rút, không hoạt động dễ gây ra nhiều loại bệnh tật. Ðiều
cần yếu chúng ta phải tập thể dục, đi bộ và xoa bóp
huyệt đạo thì sự chống lạnh của cơ thể mới có tính cách
tự nhiên và còn đề phòng được bệnh tật phát sinh nữa.






Bài II: Ðạt Ma
Dịch Cân Kinh
(Nguyên bản Việt ngữ của
Bác sĩ Lê Quốc Khánh
đăng trong nhật báo Người
Việt ở Hoa Kỳ)
Bài này được đăng trên nhật báo Người Việt lần đầu
vào ngày 17 tháng 11 năm năm 2000. Tiếp theo trên số báo
ra ngày 24 tháng 2 mới đây cũng đăng thêm bài Kinh
nghiệm Tập Ðạt Ma Dịch Cân Kinh. Nay do sự yêu cầu của
nhiều độc giả, chúng tôi in lại bài đầu tiên về Dịch Cân
Kinh để độc giả tiện tra cứu và tìm hiểu thêm.
Lời thưa : Sau khi đọc lần đầu tập tài liệu
Ðạt Ma Dịch Cân Kinh, tôi chỉ mỉm cười, không mấy
tin tưởng vì thấy phương pháp chữa trị những bịnh nan y
một cách dễ dàng và quá đơn giản.
Tôi cũng xin tự giới thiệu để quý vị thấy rằng tôi đã
được đào tạo và phục vụ Tây y qua nhiều thời kỳ. Ðến nay
tôi đã có bốn mươi chín năm y nghiệp, đã từng làm việc
trong các bịnh viện Quân và Dân Y lớn nhất nhì trong
nước Việt Nam Cộng Hòa, đã từng làm việc với người Pháp.
Mỹ và Phi Luật Tân; đã từng là cộng sự viên của Bác sĩ
Ðinh văn Tùng, nghiên cứu chữa trị binh ung thư qua phẫu
thuật (1936-1965). Tôi muốn nói rằng tôi có lý do để tin
tưởng Tây y là một ngành khoa học có nhiều thành tích
đáng tin cậy trong việc bảo vệ sức khỏe của con người.
Cũng vì vậy mà tôi gần như có thái độ thờ ơ khi tiếp
nhận Ðạt Ma Dịch Cân Kinh.
Thế rồi một hôm, có người bạn cùng tuổi với tôi (sanh
năm 1932) đi xe đạp ghé thăm. Tôi được nghe anh kể là
anh đã khám bịnh ở Bịnh viện Chợ Rẩy, qua các xét nghiệm
y khoa tối tân và các bác sĩ đã định bịnh cho anh:
-
Ung thư gan
-
Lao thận.
Anh thấy hoàn toàn thất vọng. Vì nếu vấp phải một trong
hai chứng bịnh ấy cũng đủ chết rồi, huống chi mắc cả hai
chứng bịnh nan y cùng một lúc. Cuối cùng anh có được tập
tài liệu Ðạt Ma Dịch Cân Kinh. “Cái phao mà anh đã
níu được khi đang chới với giữa biển khơi”. Anh cố
gắng tập, kiên trì thực hiện theo đúng tài liệu, và kết
quả là anh đã thắng bịnh tật. Hiện nay anh sống khỏe
mạnh bình thường, làm việc hớt tóc, có khi anh phải đứng
hàng giờ để làm công việc, thế mà anh vẫn bình thường
như bao người khác. Từ đó đến nay, đã bốn năm, anh vẫn
tập đều đặn. Nhìn tư thế và sắc diện, không ai nghĩ là
anh đã mắc phải bịnh nan y. Thỉnh thoảng anh đi xe đạp
đến thăm tôi. Cũng từ đó, tôi chú tâm nghiên cứu Dịch
Cân Kinh. Ðầu năm 1986, tôi đã truyền đạt tài liệu này
cho một người bạn trẻ bị bịnh lao phổi, không được điều
trị đúng cách vì hoàn cảnh bản thân cũng như xã hội vào
thập niên 80. Cuối cùng anh đã gầy guộc chỉ còn có 32kg
trong cơ thể suy nhược, đã mấy lần cứ tưởng là không qua
khỏi. Và anh đã vớt vát chút hy vọng còn lại, anh đã tập
Yoga. Kết quả cơ thể có phần nào phục hồi nhưng vẫn yếu
đuối. Suốt mùa Ðông, anh vẫn không ra khỏi nhà, nhìn sắc
diện, vẫn lộ những nét bịnh hoạn.
Sau khi nhận được tập tài liệu Ðạt Ma Dịch Can Kinh,
anh đã cố gắng kiên trì luyện tập, thời gian đầu bạn
tôi cũng gặp những phản ứng như ghi trong tài liệu. Dần
dần anh qua được bước đầu vất vả, và gần cuối năm 1986,
sau bốn tháng luyện tập, anh đã ho tống ra một khối
huyết cứng to bằng trứng chim cút, và sau đó anh từ từ
hồi phục sức khỏe, da dẻ hồng hào, vẻ mặt vui tươi, và
mãi đến nay anh vẫn giữ được sắc thái của người bình
thường không bịnh hoạn.
Một trường hợp khác, bạn tôi, sinh năm 1931, bị bịnh
Parkinson đã bốn năm nay, đã chữa trị Ðông, Tây y, thuốc
gia truyền và nhân điện...Lẽ dĩ nhiên là bịnh không
khỏi. Vì bịnh Parkinson cho đến nay, loài người vẫn bó
tay.
Sau khi nghiên cứu và luyện tập Ðạt Ma Dịch Cân Kinh,
bạn tôi cũng gặp phản ứng như ghi trong tài liệu. Tuy
vậy, anh vẫn kiên trì tập đều đặn. Tuy hiện nay bịnh
Parkinson không lành hẵn, song bịnh được ngăn chận giới
hạn ở mức chỉ rung có hai bàn tay. Còn các khớp, nhất là
khớp tay và chân, vẫn cử động bình thường, không gặp một
khó khăn trở ngại nào mà lẽ ra, đúng theo các triệu
chứng điển hình, thì bịnh càng lâu, các khớp bị cứng và
hạn chế cử động cho đến một lúc nào đó sẽ bị cứng khớp,
không cử động được nữa. Bịnh kéo dài bốn năm nay nhưng
anh vẫn sinh hoạt bình thường, có nghĩa là bịnh bị ngăn
chận ở một mức độ có thể chấp nhận được.
Một trường hợp nữa là một anh bạn sinh năm 1930 bị béo
phì, cao huyết áp, rối loạn tiêu hóa kinh niên. Từ hơn
ba mươi năm nay, anh đã dùng vô số thuốc Ðông, Tây y và
châm cứu nhưng vẫn quanh quẩn hết chứng này đến tật
khác, không ngày nào vắng thuốc. Anh đã tiếp nhận Dịch
Cân Kinh, và sau thời gian tập luyện cũng có những phản
ứng như đã ghi trong tài liệu, và sau đó, anh phục hồi
sức khỏe, nhất là rối loạn tiêu hóa không còn nữa, ít
khi phải dùng thuốc trị cao huyết áp. Anh ca ngợi
Dịch Cân Kinh là môn thuốc trị bá bịnh.
Qua bốn trường hợp mà tôi đã theo dõi hai năm nay, chưa
phải là nhiều, tôi đã phải công nhận Ðạt Ma Dịch Cân
Kinh là một phương pháp chữa được nhiều bịnh hiểm
nghèo mà hiện nay Tây y nhiều khi phải bó tay.
Ðọc qua tài liệu Dịch Cân Kinh, chúng ta thấy vấn đề kỹ
thuật luyện tập không có gì khó khăn, rất dễ tập. Ðiều
cần nhấn mạnh ở đây là ý chí, quyết tâm. kiên trì và
thường xuyên. Nếu vượt qua được những điều này, tôi tin
chắc rằng chúng ta sẽ gặt hái được những kết quả mỹ mãn.
Năm 1943, khi giảng lớp Quân y Khóa 1, Phân khu Bình Trị
Thiên và Trung Lào, thầy tôi, Bác sĩ Bùi Thiện Sự đã
nói: “Nghề nghiệp của chúng ta có nhiệm vụ cao cả là
phụng sự và làm vơi đi những đau khổ của nhân loại”.
Ðể ghi nhớ lời dạy ấy của Thầy, tôi nguyện truyền đạt
cho bất cứ ai, những gì mà tôi nghĩ sẽ giúp ích được cho
mọi người.
Bây giờ tập tài liệu Ðạt Ma Dịch Cân Kinh đối với tôi là
một phương thuốc quý giá giúp cho đời. Tôi đã hối hận về
nỗi thờ ơ của mình buổi ban đầu, khi mới tiếp nhận tài
liệu này.
Miền Ðông ngày 7 tháng 3 năm 1997
Bác sĩ Lê Quốc Khánh
Ðạt Ma
Dịch Cân Kinh
Năm 917 (sau Tây lịch), Ðạt Ma Tổ Sư Ấn Ðộ sang Trung
Quốc thuyết pháp và truyền giáo, sau ở lại Trung Sơn, Hà
Nam, xây dựng chùa Thiếu Lâm, đã có nhiều đệ tử nhập môn
học Phật để mai sau đi truyền giáo. Ông nhận thấy nay
đem một tín ngưỡng đi truyền tụng có khi trái với tín
ngưỡng của dân bản xứ, dễ xảy ra xung đột. Do vậy các đệ
tử của ông vừa lo học lý thuyết Phật Pháp vừa phải luyện
võ để tự vệ (Môn phái Thiếu Lâm xuất hiện và tồn tại đến
ngày nay).
Nhiều người xin nhập môn nhưng thể lực kém, không thể
luyện võ được, Tổ Sư bèn truyền đạt một phương pháp
luyện tập được gọi là Ðạt Ma Dịch Cân Kinh để
chuyển biến thể lực yếu kém thành mạnh khỏe. Cách tập
đơn giản nhưng hiệu quả to lớn vì tiêu trừ được các bịnh
tật hiểm nghèo.
Ngày nay người ta nghiên cứu là phương pháp này chữa
được rất nhiều bịnh, ngay cả bịnh ung thư cũng khỏi và
bây giờ người ta áp dụng lý thuyết khí huyết của Ðông y
để chứng minh. Sức khỏe của con người liên quan chặt chẽ
với khí huyết, về điều này thì ta thấy rõ ràng.
Trong Ðông y, cái gọi là huyết thì không thể hạn chế và
tách ra từng mặt như máu loãng hay đặc, hồng cầu nhiều
hay ít, sắc tố như thế nào...mà nghiên cứu, mà dùng cách
nhìn nhận toàn diện của quá trình sinh lý và quá trình
tuần hoàn của huyết mà xem xét. Theo Ðông y, mộy khi khí
huyết không thông là tắt kinh lạc, do vậy các phế vật
trong cơ thể cần thải mà không thải ra được. Vì máu lưu
thông chậm, nên các chất keo, dịch, gân và các chất
khô... không đủ nhiệt năng nên công năng của máu giảm
sút không thể thải được những chất cần thiết trong cơ
thể ra ngoài.
Luyện Dịch Cân Kinh, tay vẫy đúng phép, miệng, dạ dày
mở, máu mới sinh ra nhiệt năng đầy đủ, làm các vật chèn
ép mất thăng bằng trong cơ thể bị xóa bỏ thì mới khỏi
bịnh.
Vậy theo Dịch Cân Kinh, cơ hoành lên xuống dễ dàng,
ruột, dạ dày, thận tiếp được khí nên gây được tác dụng
hưng phấn. Khi chức năng của máu tăng, thì giúp được
việc tống cựu nghinh tân tốt, khí huyết thăng bằng là
khỏi bịnh. Một số người sau đây đã luyện tập Dịch Cân
Kinh có hiệu quả:
-
Cụ Quách Chu, 78 tuổi, phát hiện u ở não và ở
phổi. Luyện tập ngày ba buổi. Mỗi buổi 1800 lần. Tập
đều sau ba tháng thì tan khối u và khỏi bịnh.
-
Ông Trương Công Phát, 43 tuổi, phát giác ung thư
máu, luyện tập Dịch Cân Kinh ngày 3 buổi, mỗi buổi 4800
lần (có dùng dưỡng tâm can), sau ba tháng khỏi bịnh. Ðã
ba năm nay vẫn khỏe mạnh.
-
Cụ Từ Mạc Ðính, 60 tuổi, ung thư phổi, và bán
thân bất toại. Luyện tập sau 3 tháng thì hết bán thân
bất toại, kiểm tra khối u cũng tan mất.
Nguyên nhân bịnh ung thư trên thế giới đang bàn cãi,
ngay thuốc dưỡng tâm can cũng không phải là thuốc đặc
hiệu chữa trị mà là giúp tim hoạt động tốt để thải chất
độc.
Vì quá trình sinh lý cơ thể của con người là một quá
trình phát triển, nó mang một nội dung đấu tranh rất
phức tạp giữa cái sống và sự chết. giữa lành mạnh và
bịnh tật, giữa già háp và trẻ dai. Nhưng kết quả cuộc
đấu tranh là các nhân tố nội tại quyết định chớ không
phải do hoàn cảnh bên ngoài.
Vậy cơ thể con người là một chỉnh thể hoạt động. Trong
vận động các lục phủ ngũ tạng đều dựa vào nhau tức là
tương sinh, ức chế lẫn nhau tức là tương khắc. Nhưng khí
huyết có tác dụng đến khắp tất cả các lục phủ ngũ tạng,
cho nên việc phát sinh bịnh ung thư cũng do khí huyết
lưu thông không chu đáo mà ra. Ðông y đã xác định là
cuộc đấu tranh của cơ thể với bịnh ung thư là một cuộc
đấu tranh nội bộ ở trong cơ thể con người. Từ đó mà xây
dựng quan điểm cho rằng bịnh ung thư là bịnh chữa
được.
Ðương nhiên bịnh tật là do sự trì trệ khí huyết mà nó
làm cho hao tổn thêm khí huyết. Vậy công việc luyện tập
cho khí huyết thay đổi là tự chữa được bịnh. Từ đó mà
tạo được lòng tin vững chắc của người bịnh đối với việc
tự chữa được bịnh ung thư, để tập trung tinh thần và ý
chí đầy đủ để luyện tập Ðạt Ma Dịch Cân Kinh, vì phương
pháp này thay đổi và tăng cường khí huyết. Nó cũng chữa
được bịnh trĩ nội và trĩ ngoại. Ông Hà Thúc Nguyên bị
trĩ nội và chứng đầy bụng, chỉ tập một tháng là khỏi.
Luyện tập Dịch Cân Kinh thấy ăn tốt ngủ ngon là việc phổ
biến tốt, đã làm tăng sức khỏe các bịnh nhân nói chung
và chữa được nhiều chứng bịnh như : suy nhược thần kinh,
cao huyết áp, bịnh tim các loại, bán thân bất toại, bịnh
thận, hen suyễn, lao phổi, trúng gió méo mồm và lệch
mắt.
Ðông y cho rằng vấn đề cơ bản của bịnh tật là do khí
huyết (âm, dương) mất thăng bằng mà sanh ra. Luyện Dịch
Cân Kinh là giải quyết vấn đề này. Nên đối với đa số các
loại bịnh, nhất là bịnh mãn tính đều có thể chữa được
cả.
Phương
Pháp Luyện Tập Dịch Cân Kinh
Ðầu tiên là nói về tư tưởng:
Phải có hào khí, nghĩa là có quyết tâm luyện tập cho đến
nơi đến chốn, vững vàng, tin tưởng, không vì lời bàn ra
tán vào mà chán nản bỏ dở.
Phải lạc quan, không lo sợ đang mang bịnh mà mọi người
gọi là hiểm nghèo, phải tin tưởng rằng mình sẽ thắng
bịnh do việc luyện tập Dịch Cân Kinh.
Tư Thế Luyện Tập :
1.
Lên không xuống có: Trên phải không, dưới nên có.
Ðầu treo lơ lửng, miệng không hoạt động, bụng phải mềm,
lưng thẳng, thắt lưng mềm dẻo, hai cánh tay phải vẫy,
cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay mềm, hai bàn tay ngửa ra
phía sau xòe ra như cái quạt. Trong khi vẫy, hậu môn
phải thót, gót chân lỏng, hậu môn phải chắc, bàn chân
phải cứng, các ngón chân bám chặt như bám trên đất trơn.
Ðây là những quy định cụ thể của các yêu cầu cơ bản khi
tập luyện Dịch Cân Kinh.
2.
Dựa theo yêu cầu này, khi tập vẫy tay thì cơ
hoành trở lên phải giữ cho được trống không, buông lỏng,
thảnh thơi, đầu không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào
việc luyện tập. Xương cổ buông lỏng để có cảm giác như
đầu treo lơ lửng, mồm giữ tự nhên, không mím môi, ngực
trên buông lỏng để phổi tự nhiên. Hai cánh tay để tự
nhiên giống như hai mái chèo gắn vào vai. Từ cơ hoành
trở xuống phải giữ cho chắc đủ sức căng, bụng dưới thót
vào, hậu môn nhích lên, mười ngón chân bám sát mặt đất,
gót chân để phẳng lên mặt đất. Bắp chân trong trạng thái
căng thẳng, xương sống thẳng như cây gỗ. Khi vẫy tay nhớ
nhẫm câu: “Lên có xuống không”. Nghĩa là lấy sức
vẫy tay về phía sau (lên), khi tay trả lại phía trước là
do quán tính, không dùng sức đưa tay ra phía trước
(xuống).
3.
Trên ba dưới bảy : Là phần trên để lỏng độ ba
phần khí lực, phần dưới lấy gân sức độ bảy phần khí lực.
Vấn đề này quán triệt đầy đủ thì hiệu quả sẽ tốt.
4.
Mắt nhìn thẳng : không nghĩ ngợi gì cả, miệng
nhẫm đếm số lần vẫy.
Các bước tập cụ thể như sau :
a)
Ðứng hai bàn chân bằng khoảng cách hai vai.
b)
Hai cánh tay duỗi thẳng theo vai, các ngón tay
xòe thẳng, lòng bàn tay quay ra phía sau.
c)
Bụng dưới thót lại, lưng thẳng. Bụng trên co lại,
cổ để lỏng, đầu và miệng bình thường.
d)
Các đầu ngón chân bám trên mặt đất, gót sát đất,
bắp chân và đùi chân căng thẳng.
e)
Hai mắt chọn một điểm ở đàng xa làm mục tiêu để
nhìn, không nghĩ ngợi lung tung, luôn chú ý vào các ngón
chân đang bám đất. Ðùi và bắp chân cứng. Thót hậu môn
thật chặt và nhẩm đếm.
f)
Dùng sức vẫy hai tay về phía sau, khi trả hai bàn
tay về phía trước, chú ý để nó buông theo quán tính,
tuyệt đối không dùng sức. Tuy nhiên chân vẫn lấy gân
cứng lên, hậu môn vẫn thót và co lại không lơi lả.
g)
Vẫy tay từ 200, 300, 400,500, 600, 700 lần, dần
dần tăng lên đến 1800 lần vẫy (tương đương với 30 phút).
h)
Phải có quyết tâm đều đặn tập trung vào sự luyện
tập, không nên nóng, tập nhanh, tập nhiều vì dục tốc bất
đạt. Nhưng cũng không nên tùy tiện, bữa tập nhiều, bữa
tập ít hoặc nghỉ tập, vì như vậy sẽ làm mất lòng tin
trong sự luyện tập, khó có hiệu quả.
Bắt đầu tập luyện, không nên làm tổn thương các ngón
chân (Sau mỗi buổi tập, vuốt ve các ngón chân mỗi ngón
chín lần). Nôn nóng muốn khỏi bịnh này mà dùng nhiều sức
sẽ không đem lại kết quả. Có quyết tâm nhưng phải từ từ
tiến dần mới đúng cách và kết quả tốt. Nếu tinh thần
không tập trung, tư tưởng phân tán thì khí huyết loạn
xạ, và không chú ý đến “trên nặng dưới nhẹ” là sai hỏng.
Khi đã vẫy tay đến 600 lần trở lên thì thườg hay có
trung tiện (đánh giấm), hắt hơi và hai chân nhức mỏi,
toát mồ hôi, mặt nóng bừng..... chỉ là hiện tượng bình
thường, đừng lo ngại. Trung tiện và hắt hơi là do nhu
động của đường ruột tăng lên đẩy mạnh cơ năng tiêu hóa.
Chân mỏi là do khí huyết dồn xuống cho hợp với vũ trụ là
“Thiên khinh Ðịa trọng” (Trên nhẹ dưới nặng), đấy là quy
luật sinh hợp với vũ trụ: Thiên khinh Ðịa trọng.
Sở dĩ bịnh gan là do khí huyết của tạng gan không tốt
gây nên khi bị tích lũy làm cho gan khó bài tiết. Do đó
ảnh hưởng đến ống mật và cả tỳ vị. Luyện Dịch Cân Kinh
có thể giải quyết được vấn đề này, nếu sớm có trung tiện
là kết quả tốt.
Về bịnh mắt, luyện Dịch cân kinh là có thể khỏi chứng
đau mắt đỏ với các chứng đau mắt thông thường, cận thị,
thậm chí chữa được cả chứng đục thủy tinh thể. Trong nội
kinh có nói mắt nhờ huyết mà nhìn được. Khi khí huyết
không dẫn đến được các bộ phận của mắt thì thường sinh
ra các bệnh tật của mắt.
Ðôi mắt là bộ phận của thị giác và cũng là bộ phận quan
trọng của cơ thể.
Những Phản Ứng Khi Luyện Tập Dịch Cân Kinh
Khi luyện tập, cơ thể có những phản ứng nhưng tất cả đều
là hiện tượng thải bịnh, không nên lo nghĩ. Sau đây là
34 phản ứng thông thường và còn nhiều phản ứng khác
không kể ra hết được.
|
1) Ðau buốt, |
18) Ðầu nặng, |
|
2) Tê dại, |
19) Hơi thở nhiều, thở dốc, |
|
3) Lạnh, |
20) Nấc, |
|
4) Nóng, |
21) Trung tiện, |
|
5) Ðầy hơi, |
22) Gót chân nhức như mưng
mũ, |
|
6) Sưng, |
23) Cáu trắng dưới lưỡi, |
|
7) Ngứa, |
24) Ðau mỏi toàn thân, |
|
8) Ứa nước giải, |
25) Da cứng, da chân chai
rụng đi, |
|
9) Ra mồ hôi, |
26) Sắc mặt biến đi, |
|
10) Cảm giác như kiến bò, |
27) Huyết áp biến đổi, |
|
11) Giật gân, Giật thịt , |
28) Ðại tiện ra máu, |
|
12) Ðầu khớp xương có tiếng
kêu lụp cụp, |
29) Tiểu tiện nhiều, |
|
13) Cảm giác máu chảy dồn
dập, |
30) Nôn mửa, ho, |
|
14) Lông tóc dựng đứng,
|
31) Bịnh từ trong da thịt
bài tiết ra, |
|
15) Âm nang to lên, |
32) Trên đỉnh đầu mọc mụt, |
|
16) Lưng đau, |
33) Ngứa từng chỗ hay toàn
thân, |
|
17) Máy mắt, mi giật, |
34) Chảy máu cam. |
Các phản ứng
trên đây là do trọc khí bài tiết ra ngoài cơ thể, loại
trừ các thứ ứ đọng gọi là bịnh tật. Khi có sự phản ứng
là có sự xung đột giữa chánh khí và tà khí, nếu ta vẫn
tập luyện sẽ sản sinh ra các chất bồi bổ có lợi cho
chánh khí. Ta tập đúng cách và làm tăng sức đề kháng, nó
đẩy cặn bã trong cơ, gan, thần kinh và các tế bào khác
mà mạch máu lưu thông bình thường không thải nổi. Nhờ
luyện tập Dịch Cân Kinh mà khí huyết lưu thông mới đưa
nổi cặn bã ra ngoài nên mới sinh ra phản ứng.. Vậy không
nên lo sợ, cứ tiếp tục tập như thường. Có một phản ứng
hiển nhiên là đã khỏi một căn bịnh. Cứ tập luyện đều đặn
sẽ đạt hiệu quả tốt.
Luyện tập dịch cân kinh đạt được 4 tiêu
chuẩn sau :
-
Nội trung : Tức là nâng cao can khí lên,
then chốt là điều chỉnh tạng phủ, lưu thông khí huyết.
Thông khí sẽ thông suốt lên đến đỉnh đầu.
-
Tứ trưởng tố : Tức là tứ chi phối hợp với
các động tác theo đúng nguyên tắc luyện tập. Tứ trung tố
song song với nội trung sẽ làm cho tà khí bài tiết ra
ngoài, trung khí dồn xuống, cơ năng sinh sản ngày càng
mạnh.
-
Ngũ tam phát : Nghĩa là 5 trung tâm của
nhiệt dưới đây hoạt động mạnh hơn lúc bình thường. Ðó là
Bách Hội: Một huyệt trên đỉnh đầu, Gio cung :
huyệt ở hai bàn tay, Dũng tuyền: huyệt ở hai
gan bàn chân.
Khi luyện tập
thì 5 huyệt này đều có phản ứng và hoàn toàn thông suốt
. Nhâm đốc và 12 kinh mạch đều đạt tới hiệu quả, nó làm
tăng cường thân thể, tiêu trừ các bịnh nan y mà ta không
ngờ.
-
Lục phủ minh : Ðó là ruột non. ruột già,
mắt, dạ dày, bong bóng tam tiêu sẽ thông suốt, nghĩa là
không trì trệ. Lục phủ có nhiệm vụ thâu nạp thức ăn,
tiêu hóa, bài tiết được thuận lợi nên không trì trệ, ứ
đọng, cơ năng sinh sản có sức tiếp, giữ vững trạng thái
bình thường của cơ thể tức là Âm Dương thăng bằng, cơ
thể thịnh vượng.
Một số điều cần lưu ý khi luyện tập :
1)
Số lần vẫy tay không dưới 800 lần, từ 800 lần trở
lên dần dần đến 1800 lần (khoảng 30 phút) mới tới ngưỡng
cửa của điều trị. Người bịnh nặng có thể ngồi mà vẫy
tay, tuy nhiên phải nhớ thót hậu môn và bấm 10 đầu ngón
chân.
2)
Số buổi tập : Sáng thành tâm tập mạnh, Trưa trước
khi ăn tập vừa. Tôi trước khi ngủ tập nhẹ.
3)
Có thể tập nhiều tùy theo bịnh trạng. Có những
bịnh nhân nâng số lần vẫy tay lên đến 5 hay 6 ngàn lần
trong mỗi buổi tập. Nếu sau khi tập thấy ăn ngon ngủ
tốt, tiểu và đại tiện thấy điều hòa, tinh thần tỉnh táo,
thì chứng tỏ số lần vẫy tay khi luyện tập là thích hợp.
4)
Tốc độ vẫy tay : Theo nguyên tắc thì nên chậm.
Bình thường thì vẫy 1800 lần là hết 30 phút. Vẫy lúc sau
hơi nhanh hơn lúc đầu một chút. Khi đã thuần thì vẫy hẹp
vòng. Bịnh nhẹ thì nên vẫy nhanh và dùng sức nhiều hơn.
Bịnh nặng thì nên vẫy hẹp vòng và chậm, bớt dùng sức.
Vẫy tay nhanh quá làm cho tim đập nhanh, mau mệt, mà
chậm quá thì không đạt tới mục đích. Vì luyện tập là cần
có mạch máu lưu thông.
5)
Khi vẫy tay dùng sức nhiều hay ít, nặng hay nhẹ ;
Vẫy tay là môn thể dục chữa bịnh chớ không phải là một
môn thể thao khác biệt. Ðây là môn thể dục mềm dẻo, đặc
điểm của nó là dụng ý không dùng sức, nhưng nếu vẫy tay
nhẹ quá cũng không tốt, bởi vì bắp vai không lắc mạnh
thì lưng và ngực không chuyển động nhiều, tác dụng sẽ
giảm đi. Vẫy tay không chỉ có chuyển động cánh tay mà
chính yếu là chuyển động hai bắp vai. Bịnh phong thấp
thì nên dùng sức ở mức nặng một chút. Bịnh huyết áp thì
nên dùng sức ở mức nhẹ và vẫy tay chậm.
Nói tóm lại phần lớn tự mình nắm vững tình trạng, phân
tích các triệu chứng sau khi nghe sự nhận xét của mọi
người, tự mình cảm nhận sự biến chuyển trong cơ thể:
nhanh nhẹn, hồng hào, tươi tỉnh hay là xấu hơn trước. Tự
mình suy nghĩ rồi quyết định cách tập trên nguyên tắc là
tập thế nào cho cảm thấy thoải mái, dễ chịu là đúng, là
tốt nhất. Ðông y cho rằng động tác nhẹ là bổ ích (ích
lợi cho cơ thể), còn động tác mạnh là loại bỏ các chất
cặn bã có hại cho cơ thể (bệnh tật). Lý luận này đang
được nghiên cứu.
Khi vẫy tay về phía sau dùng sức bảy phần. Khi vẫy tay
về phía trước thuộc về quán tính, còn chừng 5 phần.
Ðếm số lần vẫy tay, đếm không phải để nhớ mà có tác dụng
làm cho đầu óc bình tỉnh, có tác dụng tốt cho não được
căng thẳng và không nghĩ ngợi lung tung. Chân âm được
bồi dưỡng.
Hoàn cảnh khi luyện tập (nơi chốn) : Không có khác biệt,
ở nơi đâu cũng tập được. Dĩ nhiên nơi nào không khí
trong lành và yên tĩnh vẫn tốt hơn.
Trước và sau khi tập : Trước khi tập, đứng bình tỉnh cho
tim được thoải mái, đầu óc được yên tĩnh để chuyển hóa
về tâm lý và sinh lý. Ta có thể làm những động tác nhẹ
nhàng, thoải mái như trong môn khí công. Sau khi tập
cũng phải bình tĩnh vê 10 đầu ngón tay và 10 đầu ngón
chân đủ 9 lần. Người không đủ bình tĩnh, nên cần chú ý
đến điểm này,
Luyện tập Dịch Cân Kinh đúng phép : Sau khi tập thấy
ngứa và bụng nhẹ nhàng, hơi thở điều hòa, mắt sáng, nước
giải ứa ra nhiều, đại tiện dễ dàng, ăn ngon ngủ tốt,
tinh thần tỉnh táo, bệnh tật bớt dần, thì đó là đã luyện
tập Dịch Cân Kinh đúng phép. Sau khi luyện tập, đa số
thấy có phản ứng, nhưng về hiệu quả thì rất khác nhau.
Nguyên nhân chính là khi tập, tư thế có thích hợp với
người tập hay không.
Khi tập cần chú ý các điểm sau đây :
-
Nửa thân trên buông lỏng (thượng hư)
-
Nửa thân dưới giữ chắc, căng mạnh (hạ thực),
-
Khi tay trả về phía trước, không dùng sức (nhẹ),
-
Tay vẫy về phía sau, dùng sức (nặng, mạnh),
-
Mỗi lần tập tăng dần số lần vẫy tay,
Tập ngày 3
buổi, kiên quyết tự chữa bịnh cho mình.
1.
Sự liên quan giữa tinh thần và hiệu quả khi tập
luyện : Hết lòng tin tưởng, kiên quyết tới cùng. Tập đủ
số lần nhứt định, tập thường xuyên thì hiệu quả rất tốt.
Nếu khi tập khi nghỉ, không đủ số lần tập nhất định,
trong lòng còn nghi hoặc, bị động theo dư luận, thấy
phản ứng lo sợ vội bỏ tập thì nhất định không hiệu quả.
2.
Vẫy tay có sinh ra bệnh gì không ? Có thể sinh
bịnh do tư thế không đúng, làm sai nguyên tắc. Nhưng
trong trường hợp này cũng han hữu, không tới 1%.
3.
Khi tập nên tránh đứng đầu ngọn gió cả mùa hè lẫn
mùa đông. Tóm lại cần lưu tâm những điểm sau :
-
Khi tập luôn bám chặt các ngón chân vào mặt đất.
-
Thót hoặc co hậu môn thật mạnh để giữ thế “thượng
hư hạ thật”.
-
Vẫy tay từ ít tới nhiều và phải đạt 1800 trở lên
mới có hiệu quả.
-
Khi gặp phản ứng đừng ngại, đó là diễn biến tốt,
cứ tập số lần như cũ. Khi hết phản ứng sẽ tăng số lần
vẫy tay lên.
-
Giữ vững lòng tin, kiên trì quyết tâm tin tưởng,
tập luyện tới cùng, chắc chắn sẽ đẩy lùi các bịnh tật ta
đang mắc phải.
-
Luyện tập Dịch Cân Kinh không chỉ chữa khỏi bịnh
mà còn là một phương pháp phòng bịnh rất hữu hiệu.
Bài III: Kinh Nghiệm Tập Ðạt Ma Dịch Cân Kinh
(Nguyên bản Việt ngữ của
ông Huỳnh Bửu Khương,
đăng trên nhật báo Người
Việt ở Hoa Kỳ)
Nhân đọc bài Ðạt Ma Dịch Cân Kinh của Bác sĩ Lê Quốc
Khánh đăng trên nhật báo Người Việt số ra ngày 17 và 18
tháng 11 năm 2000 và thấy rất vui mừng khi biết tập Ðạt
Ma Dịch Cân Kinh có thể chữa được nhiều bịnh nan y,
trong đó có cả bịnh ung thư. Do đó tôi muốn góp thêm ý
kiến bằng cách nói lên kinh nghiệm bản thân về việc tập
Ðạt Ma Dịch Cân Kinh để giúp quý độc giả hiểu rõ hơn
cách luyện tập và củng cố lòng tin vào phương pháp tập
luyện này.
Vào năm 1974, anh Nguyễn Kim Tri, Thiếu tá ở Võ Phòng
phủ Tổng Thống cho chúng tôi bản phóng ảnh của quyển Ðạt
Ma Dịch Cân Kinh bằng chữ Tàu và khuyên chúng tôi nên
tập luyện theo sách ấy, rất tốt cho sức khỏe, vì đây là
cách luyện tập của chùa Thiếu Lâm dành cho môn sinh
luyện trước khi học võ. Sau đó chúng tôi nhờ người dịch
đại ý của quyển sách và tập luyện. Sau bốn tháng luyện
tập, mọi người trong phòng của tôi (Khối Ðặc Biệt, Trung
Tâm Phối Hợp thi hành Hiệp Ðịnh Ba Lê, Phủ Tổng Thống)
đều đạt kết quả tốt. Người nào không có bịnh thì đều lên
cân, da dẻ hồng hào thấy rõ. Người nào có bịnh thì bớt
bịnh. Ông Long, thư ký đánh máy, bị huyết áp cao, thì
sau bốn tháng tập, huyết áp xuống mức bình thường. mặc
dầu ông không có uống thuốc. Lúc ấy ngày nào tôi cũng
tập 1200 cái đánh tay. (Lúc mới khởi sự tập 200, rồi sau
tăng dần).
Sau tháng 4 năm 1975, suốt thời gian ở trong các trại
cải tạo từ miền Nam ra tới miền Bắc, ngày nào tôi cũng
tập Dịch Cân Kinh một lần, và vẫn giữ mức 1200 cái vẫy
tay. Nhờ vậy mặc dầu ăn đói và rất ốm yếu, tôi vẫn có
thể chịu được và ít bị bịnh. Anh em nói vì tôi là “quan
văn” trong ngành võ (Luật sư tòa Thượng Thẩm Sài Gòn,
Thiếu Tá) nên không có sức chịu đựng bằng các anh em
khác, phần đông là Tiểu Ðoàn trưởng tác chiến, Quận
Trưởng hoặc Hạm trưởng Hải quân, cấp chỉ huy Biệt Kích
Dù, An Ninh Quân đội v.v...
Hồi mới ra Hoàng Liên Sơn ở huyện Văn Chấn, thuộc tỉnh
Nghĩa Lộ cũ, vào tháng 7 năm 1976, mỗi lần đi lấy gạo,
tôi cùng một anh nữa khiêng lối 20 hay 25 kí lô và đi
lối 7 hay 8 cây số đường rừng. Khi về gần đến trại có
đèo 19 tháng 5 rất cao, thường tôi yêu cầu anh cùng
khiêng với tôi ngồi nghỉ một chút rồi mới đi tiếp. Sau
đó tôi nói với Thầy Thuần, một Ðại Ðức, Thiếu tá Tuyên
úy Phật Giáo, người ở cùng một láng và cùng tập Dịch Cân
Kinh với tôi mỗi ngày, về việc tôi qua không nổi Ðèo 19
tháng 5 rất cao. Thầy nói “Bác cứ tập lên 2000 cái cho
tôi, bác sẽ qua nổi đèo ấy”. Nghe lời Thầy Thuần, tôi
tập lên đến 2200 cái đánh tay mỗi ngày. Và lối nửa tháng
sau, khi đi lấy gạo, tôi được giao phải vác một mình 20
kí. (Vì họ cho rằng chúng tôi ra Bắc đã một thời gian
lâu rồi nên đủ sức để vác 20 kí đi xa), nặng gấp đôi lần
trước, thế mà khi qua đèo 19 tháng 5, tôi qua luôn,
không phải ngừng lại để nghỉ như trước. Tôi biết ngay là
nhờ tập Dịch Cân Kinh theo lối Thầy Thuần chỉ, nên mới
đạt được kết quả ấy. Chớ việc ăn uống thì chúng tôi vẫn
bị đói dài dài. (Ở miền Bắc, trong 3 năm đầu, gia đình
không được gởi thực phẩm cho chúng tôi). Hồi đó tôi tập
nổi 2200 cái đánh tay cho mỗi lần và nhờ hàng ngày tôi
phải leo núi, đồi, phải làm việc nặng nên chân mạnh hơn
lúc ở Sài Gòn. Chân phải mạnh, rắn chắc thì tập mới
được, vì suốt buổi tập mình phải đứng tấn.
Tôi còn nhớ có một hôm chúng tôi phải khiêng một khúc
cây to. Anh bộ đội nói “chỉ cần mười người khiêng cây
này, anh nào yếu cho khỏi khiêng”. Tôi đưa tay lên
xin khỏi khiêng vì tôi biết là tôi yếu nhất trong
các anh em. Ðồng thời có một anh nữa, anh Duyệt, cũng
đưa tay. Anh bộ đội ngó tôi và nói: “Anh không yếu bằng
anh này”, vừa chỉ anh Duyệt. Sau đó tôi nhìn lại thì
thấy anh Duyệt mặt mày xanh xao mặc dầu thật sự anh mạnh
hơn tôi. Nhờ tập Dịch Cân Kinh mỗi ngày, nên dầu ăn đói,
nhưng da tôi không xanh mét như một số anh em khác. Tập
Dịch Cân Kinh giúp mình luôn luôn ngủ ngon và không bao
giờ bị táo bón, máu huyết được lưu thông mạnh trong thời
gian tập, nhờ đó da dẻ chúng ta luôn được hồng hào và
bệnh tật tan biến đi.
Sau đây tôi xin nói về cách tập thế nào cho đúng. Khi
chúng tôi mới có cuốn Ðạt Ma Dịch Cân Kinh, chúng tôi
coi theo hình vẽ trong đó mà tập theo. Sau lối hai tuần
tập luyện, chúng tôi thấy không có kết quả gì cả. Do đó
chúng tôi phải nhờ người dịch cuốn sách ấy. Và khi tập
đúng cách rồi thì kết quả thấy rất rõ.
Tôi xin diễn tả tư thế và việc phải làm của một người
tập Dịch Cân Kinh.
1.
Người tập Dịch Cân Kinh nên đi giày hay dép,
không nên đi chân đất. Hai chân dang ra, khoảng cách
giữa hai ngón chân cái bằng khoảng cách của hai vai. Hai
bàn chân đứng song song với nhau. Mười ngón chân bám
chặt xuống giày hay dép.
2.
Gồng cứng (lên gân) bắp chuối và bắp vế chân. Hậu
môn nhíu lại và thót lên. Suốt buổi tập, hai chân như
trồng cây xuống đất, từ thắt lưng trở xuống luôn luôn
cứng nhắc, không suy suyển. Tóm lại, đó là thế đứng tấn
của người luyện võ. Nếu đã dang hai chân đúng tầm, đã
gồng (lên gân) hai chân thật chắc, bám mười ngón chân
thật chặt xuống dép hoặc giày, nhíu hậu môn lại và thót
lên rồi thì ta thấy từ thắt lưng trở xuống chân thật là
chắc nịch. Và trong suốt buổi tập ta phải luôn chú ý đến
phần từ thắt lưng trở xuống và làm đúng như thế. Nếu ta
không chú ý đến phần này thì công phu luyện tập sẽ mất
gần hết, không mang lại kết quả mong muốn.
3.
Ðầu như dây treo (giống như có sợi dây treo mình
lên vậy) để cổ được thẳng, mặt ngó về phía trước, nhìn
một điểm cao hơn mình một tí để cổ không rùng xuống.
4.
Ở miệng, hai môi chạm nhẹ vào nhau, không mím môi
cũng không hở môi. Hai hàm răng chạm nhẹ vào nhau, đầu
chót lưỡi để trên nướu răng trên (để luồng điện được lưu
thông).
5.
Ở mỗi bàn tay, 5 ngón luôn dính vào nhau (chớ
không phải xòe ra, sách có vẽ hình rất rõ về điểm này).
Khi đánh tay, lòng bàn tay hướng về phía sau (tức là mu
bàn tay đưa về phía trước).
Ðộng tác duy nhất là đánh hai tay từ phía trước ra phía
sau. Khi đưa hai tay ra phía trước, hai cánh tay sẽ hợp
với thân người thành một góc 30 độ, khi đánh tay ra phía
sau thì hợp thành một góc 60 độ. Tóm lại khi đánh tay ra
phía sau sau thì đánh hết tay. Khi đưa tay ra phía trước
chỉ là một cái trớn của việc đánh tay ra phía sau còn
lại mà thôi. Do đó chỉ có 30 độ. Mỗi lần đánh tay từ
phía trước ra sau thì kể là một cái đánh tay. Khi mới
bắt đầu tập, nên khởi sự đánh tay 200 cái cho mỗi lần
tập. Nếu muốn mau có kết quả thì mỗi ngày tập hai lần
vào buổi sáng và chiều. Còn nếu có ý chí lớn hơn nữa thì
tập mỗi ngày ba lần (sáng, trưa và chiều) càng tốt. Tập
ở ngoài sân hay ở trong nhà đều được, miễn là ở nơi
thoáng khí và yên tịnh. Không nên tập sau khi ăn cơm no.
Khi thấy mệt là nghỉ ngay, không nên tập quá sức. Khi
thấy còn có thể tập được nữa mà không mệt thì nên tiếp
tục tập cho đúng sức mình.
Khi mới tập, khởi sự bằng 200 cái đánh tay mỗi lần tập.
Về sau khi thấy còn có thể tập thêm thì tăng lên dần,
thí dụ 250, 300, 350, v.v...Hồi tôi mới tập, một thời
gian ngắn sau là tôi đã lên tới 1200 cái đánh tay cho
mỗi lần tập (trong 15 phút). Hồi đó còn trẻ nên tôi đánh
rất nhanh và mỗi ngày tôi chỉ tập có một lần. Sau khi
tập xong, ta thấy khát nước (thì nên uống nước ngay), đó
là tập vừa sức. Sau khi tập, tôi thường đi chậm bằng
cách giở chân lên cao, vừ co dãn hai cánh tay. Có người
mới khởi sự đã tập trên 1000 cái thì mặt bị nổi mụn
ngay. Nếu tập đúng cách, tôi thấy không có phản ứng gì
cả, mà càng ngày ta càng thấy khỏe ra. Mình tập được
nhiều hay ít là do mình có thể đứng tấn được bao lâu,
chớ không phải ai muốn tập bao nhiêu lần cũng được. Còn
nếu đánh tay để đếm số lần cho thật nhiều mà không gồng
lên cho hai chân thật cứng chắc và nhíu hậu môn lại,
thót lên thì sẽ không đạt được kết quả mong muốn. Về tốc
độ đánh tay thì sách nói đánh tay nhanh như người đi
đánh đồng xa. Ðánh tay càng nhanh thì máu huyết lưu
thông càng mạnh trong thời gian ấy, và sẽ cuốn theo mọi
bịnh tật. Sách nói muốn tập để trị bịnh thì nên tập từ
2000 đến 3000 cái đánh tay mỗi ngày trong vòng lối 30
phút.
Và sau đây là hai nguyên tắc quan trọng cần phải áp dụng
trong lúc tập :
Thượng tam hạ thất: Nếu trong thời
gian tập, mình dùng mười phần sức lực thì từ thắt lưng
trở xuống mình dùng đúng 7 phần và phải luôn luôn chú ý
đến việc gồng cứng (lên gân) hai chân, nhíu hậu môn lại
và thót lên. Từ thắt lưng trở lên, mình dùng 3 phần sức
lực. Ðó gọi là thượng tam hạ thất, thượng hư hạ thực.
Trên ba dưới bảy hay trên hư dưới thực. Trong việc đánh
tay cũng thế, khi đưa tay ra phía sau thì dùng 7 phần
sức lực, đưa ra trước thì chỉ dùng có 3 phần. Trước 3
sau 7 hay trước hư sau thực. Ðánh tay ra phía sau mới
thực là cần thiết và phải đánh cho hết tay.
Tâm bình khí tịnh : Trong suốt thời
gian tập ta không được suy nghĩ điều gì (điều này hơi
khó), ngoại trừ việc nhẩm đếm số lần đánh tay. Ðó
là tâm bình. Còn khí tịnh là trong thời gian tập ta thở
bình thường, chớ không phải thở theo nhịp tay. Có một
môn phái thở theo nhịp tay, nghe nói đó là phái Võ Ðang.
Nhưng phái Thiếu Lâm Tự thì không thở theo nhịp tay. Hồi
tôi ở Hoàng Liên Sơn, tôi tập không thở theo nhịp tay,
còn thầy Thuần thở theo nhịp tay. Nhưng cả hai chúng tôi
đều đạt được kết quả tốt.
Sau cùng tôi xin nói một vài kinh nghiệm trong khi tập :
Nếu đánh tay nhanh mà ta thấy tê mười đầu ngón tay thì
đó vì là ta không nhíu hậu môn và thót lên, hoặc là vì
ta để hở mười ngón tay.(Bàn tay năm ngón phải để dính
với nhau, không được hở, điều này trong sách có hình vẽ
rõ lắm).
Nếu lúc tập mà ta thấy đầu hơi nặng là vì cổ ta không
thẳng, đầu không như dây treo. Luồng điện thay vì đi
xuống lại đi ngược chiều lên đầu. Hồi ở Hoàng Liên Sơn,
tối nào tôi cũng ra sân tập và đeo bao tay vì trời lạnh.
Khi đánh tay được lối 1500 cái trở lên là tôi thấy ấm
người, khỏi mang bao tay nữa, và mỗi cái đánh tay tôi
nghe như có hai luồng điện chạy xuống hai chân vậy. Bây
giờ đã lớn tuổi, tôi chỉ tập nổi tối đa trên dưới 800
cái đánh tay mỗi lần mà thôi.
Thêm vào đó ngày nào tôi cũng đi bộ ít nhất nửa giờ và
tôi thấy rất tốt cho sức khỏe, rất tốt cho việc tập Dịch
Cân Kinh. Trong tất cả các môn tôi đã tập (hồi ở Việt
Nam, tôi tập dưỡng sinh trong vườn Tao Ðàn), tôi nhận
thấy môn Dịch Cân Kinh của Ðạt Ma Tổ Sư là hữu hiệu hơn
cả. Nhưng điều cần yếu là phải tin tưởng và kiên nhẫn
tập đều đặn thì mới có kết quả.
Orange, 12/12/2000
Huỳnh Bửu Khương
Bài IV:
Khí Công Tâm Pháp Dưỡng Sinh
(Nguyên bản Việt ngữ do
thân nhân của chúng tôi ở Santa Ana,
California, Hoa Kỳ gởi
tặng)
Bộ Khí Công Tâm Pháp Dưỡng Sinh gồm bốn bài, mỗi bài có
bốn động tác tập bằng cây gậy, tổng hợp có tất cả 16
động tác. Các động tác trong bộ Khí Công Tâm pháp Dưỡng
Sinh này do cụ Mai Bắc Ðẩu sáng nghiệm và được Thiền sư
Sơn Tịnh biên soạn thành bài hướng dẫn tóm gọn, có hình
vẽ, giúp các bạn dễ nhớ và dễ thực tập.
Công Năng và Lợi Ích
Khí công Dưỡng sinh pháp mầu
Mười sáu động tác ngăn ngừa ốm đau
Chữa lành trăm bệnh khác nhau
Sống lâu trẻ khỏe sạch làu âu lo.
Tâm an sáng rỡ trăng ngàn
Khí lực sung mãn Thiên đàng nhân gian.
Ðời vui chân bước nhẹ nhàng
Nụ cười tỉnh thức thênh thang nẻo về.
Bốn Câu Kệ Toát Yếu
Khí công Dưỡng Sinh thập lục đoạn
Bá bệnh tiêu trừ thể kiện đoan
Thần khí tinh minh như nhật nguyệt
Thân tâm nhất vị tánh huy hoàng.
Dịch Nghĩa
Mười sáu động tác khí công
Dưỡng sinh đệ nhất phổ thông muôn người
Giúp cho thần sắc sáng tươi
Trị ngừa trăm bệnh sống đời an vui.
Công năng của
16 động tác Khí Công Tâm pháp dưỡng sinh là ngăn ngừa
bịnh tật và chữa trị bịnh tật rất thần hiệu. Nếu ta kiên
nhẫn luyện tập mỗi buổi sáng chừng 30 phút thì trong sáu
tuần lễ là ta thấy có kết quả ngay : ăn ngủ điều hòa,
thần sắc tươi nhuận, thân thể cường dũng, tâm tư thơ
thới, nhẹ nhàng và tràn đầy an lạc. Trong mỗi bài, mỗi
động tác có công năng trị liệu và ngăn ngừa các chứng
bịnh khác nhau, ta sẽ nói tới ở nội dung của mỗi bài
thực tập.
Bộ Khí Công Tâm Pháp Dưỡng Sinh này rất thích hợp cho
mọi lứa tuổi già và trẻ. Người lớn tuổi khi tập động tác
nên chậm rãi, thong thả và mỗi động tác chỉ tập từ 5 lần
đến 10 lần. Các bạn trẻ khi tập, động tác có thể nhanh
hơn một chút để tạo sự linh hoạt, vui tươi và mỗi động
tác chỉ tập chừng 10 lần đến 20 lần. Sau mỗi động tác,
chúng ta có thể buông thả bằng 5 hơi thở trong tư thế
nghỉ hay hai tay cầm gậy đưa lên khỏi đầu và từ từ hạ
thấp tới rún, đưa lên hít vào và khi hạ thấp thì thở ra.
Muốn đạt được kết quả tốt và toàn phần trong việc phòng
bịnh và chữa các chứng bịnh nan y, ta phải phát nguyện
ăn nhiều rau cải và cốc loại theo chế độ dưỡng sinh, tập
bỏ việc ăn thịt, cai rượu, cai cà phê và thuốc
lá.
Nhớ yêu cây gậy Dưỡng Sinh
Ðể cho thân khỏe tâm tình sáng tuơi
Một đời ngắn lắm bạn ơi
Sống vui nhẹ khỏe để vơi khổ sầu.
Bài Tập Số 1

(Có bốn động tác)
1. Khán Thiên (Nhìn Trời)
Ngước mắt nhìn trời xanh
Hai tay uốn gậy vòng
Chuyển bả vai xương sống
Khỏe, lưng già không cong
Cách tập: Hai tay cầm gậy từ từ đưa lên đầu và
vòng lui phía sau lưng, đồng thời hít vào bằng mũi. Khi
gậy xuống sát tận mông thì dừng lại và nín thở một giây.
Kế đến từ từ trả gậy về phía trước, đồng thời thở ra
bằng miệng. Tư thế nghỉ, nhìn hình vẽ (1) và tư thế tập,
nhìn hình vẽ (2).
2. Kiến Ðịa (Nhìn đất)

Gậy choàng phía sau lưng,
Chân thẳng cúi gập đầu,
Ðẩy gậy chồm phía trước
Trị nhức đầu đau lưng.
Cách tập: Hai tay cầm gậy choàng phía sau lưng,
xem hình vẽ (3). Hai chân đứng thẳng, đầu từ từ cúi
xuống đất và nhìn lui phía sau. Hai tay đưa gậy lên cao
và chuyển ngang qua đầu, hình vẽ (4). Khi di chuyển động
tác cúi nhìn đất, miệng từ từ thở ra, kế đến nín thở một
giây, rồi từ từ đứng thẳng dậy và hít vào bằng mũi.
3. Tả hữu chuyển biên (Quay sang trái và sang
phải)

Tay gác gậy lên vai
Quay phải trái thở đều
Nghiêng ép xoay bao tử
Tẩy độc tố ra ngoài.
Cách tập: Gậy gác lên vai, sải dài hai tay choàng
lên hai đầu gậy, đứng thẳng người vững chãi, xoay qua
trái và qua phải. Ðộng tác đi theo hơi thở vào, ra, sâu
và chậm. Luôn luôn hít vào bằng mũị thở ra bằng miệng,
hít, nín, thở.
4.
Tả hữu Ðịa Thương (Trái phải lên xuống)
Tay gác cây lên vai
Trái phải nghiêng xuống lên
Chuyển bả vai cột sống
Ép ruột già ruột non.
Cách tập: Ðặt gậy lên vai, dang hai tay nắm hai
đầu gậy, xoay đầu gậy tay phải chấm sát xuống bên chân
trái, xem hình vẽ (7), rồi quay đầu gậy bên trái chấm
sát bên chân bên phải, hình vẽ (8). Khi đầu nghiêng
xuống đất, mũi từ từ hít vào, và đầu nhấc lên, miệng từ
từ thở ra với nhịp : hít, nín, thở.
Lợi ích và công năng của 4 động tác trong bài tập
số 1, nhờ điều động hơi thở vào ra, sâu và dài, giúp
buồng phổi tiếp nhận được không khí trong lành bên ngoài
để được tăng dung lượng oxy, thông khí huyết và đủ nội
công lực đẩy các độc tố (như thán khí) ra ngoài, trợ các
tuyến thần kinh tiếp thêm năng lượng, sung sức để kháng
chống các độc tố bên ngoài xâm nhập, giúp trung tâm thần
kinh não bộ được buông thư, thoải mái và sáng suốt.
Hiệu dụng trực tiếp là làm cho các đầu khớp xương, đặc
biệt là cột xương sống được dẻo dai, nhờ tiếp thu nhiều
không khí thiên nhiên mà hòa tan các chất muối đọng lại
trong các khớp xương, nên khi lớn tuổi, các khớp xương
không bị co rút, teo gân và chống trạng thái cong tay,
còm lưng, lỏng xương tủy, tê bại.
Tác dụng trị liệu của một số kinh mạch có liên quan đến
bốn động tác của bài thứ nhất như chữa bệnh ho, suyễn,
đau xương sườn, đau hai bả vai, đau lưng, viêm cổ họng,
nhức khuỷu tay, nhức đầu, mất ngủ, đau răng, ù tai, ra
mồ hôi trộm, nghẹt mũi, hồi hộp. yếu tim, kinh phong,
chóng mặt, cảm cúm, ăn uống không tiêu,táo bón, sình
bụng, no hơi, ợ chua và tạng tỳ yếu.
Bài một chữa trị khớp xương
Gia tăng khí lực an khang tâm thần
Tạng tỳ được mạnh thập phần
Khí lực sung mãn sống đời trăm năm.
Bài Tập Số 2
Có bốn động tác
1. Thiên Tàng Cước (Ðá chân lên trời)

Gậy đưa cao lên đầu
Hạ thấp chân đá lên
Giữa dưới thông huyệt đạo
Gan, tỳ tạng, lực tăng.
Cách tập: Hai tay đưa gậy qua ngang trên đầu, mắt
nhìn theo gậy và hít sâu vào, kế đến hai tay đưa gậy
xuống trước mặt và từ từ thở ra bằng miệng, đồng thời đá
chân lên gậy. Ðá gậy chân trái rồi tuần tự đổi qua đá
chân bên phải, xem hình vẽ (10), hình vẽ (9) là tư thế
dự bị.
2. Tả Hữu Cước
(Ðá trái và đá phải)
Gậy qua phải đá trái
Gậy qua trái đá phải
Toàn thân hình kích động
Mông bàn tọa lưu thông.
Cách tập: Hai tay cầm gậy chéo thẳng qua chân bên
phải, đá chân phải qua hông bên trái, từ từ hít vào và
khi trả chân về thì từ từ thở ra. Gậy chéo qua hông
trái, đá chân trái, gậy chéo qua hông phải đá chân phải.
Hơi thở vào ra tương tự : hít, nín, thở, dài, sâu, chậm.
3. Trụ Tấn Long Vương (Thế Rồng Chầu)
Quỳ
gối chân chống đất
Ngước mặt nhìn trời cao
Cây vòng lưng lên xuống
Chân cột sống đã thông.
Cách tập: Chân trái quỳ trên mặt đất, mắt ngước
nhìn trời (hình vẽ (16). Hai tay đưa gậy vòng qua đầu
rồi đưa xuống lưng và từ từ hít vào, khi gậy trả về phía
trước, thì từ từ thở ra. Hít, nín, thở, sâu, chậm, dài.
4. Lưỡng Thủ Tiếp Túc (hai tay chạm hai bàn chân)

Chân thẳng cúi đất nhìn
Cây đưa cao khỏi đầu
Giãn chân vai lưng cổ
Ngực, bụng huyệt đả thông.
Cách tập: Ðứng thẳng hai chân, đưa tay thẳng qua
đầu, từ từ thở ra và khi cúi xuống thì từ từ hít vào.
Ðưa gậy lên, mắt luôn luôn nhìn theo sự di chuyển của
cây gậy. Hơi thở đều và liên lạc qua ba ý thức: hít,
nín, thở, đều đặn, chẫm rãi, thanh thản, mỉm cười và
buông thả.
Lợi ích và tác dụng trong 4 động tác của bài tập
số 2:
a) Phòng bịnh: Bốn động tác trên đây có khả năng điều
hòa các chức năng bị rối loạn của hai hệ tiêu hóa và
tiết niệu sinh dục như: dạ dày yếu, chướng bụng, đầy
hơi, táo bón, ăn không tiêu, tinh thần bị căng thẳng,
suy nhược cơ thể.Thường tập luyện bài số hai này để chữa
bịnh nhức đầu và đau bao tử là có công hiệu thần diệu và
cấp kỳ.
Chữa trị các bịnh căn bản : Bị viêm tinh hoàn, bế kinh,
viêm buồng trứng, đau eo lưng, chân tay bị tê lạnh hay
ra mồ hôi trộm, đầu gối tê cứng, áp huyết cao, bị suyễn,
đau gan, kinh nguyệt không đều hoặc quá nhiều, đau eo
lưng, bịnh sốt rét, liệt dương, đau bụng quặn kinh niên,
tức ngực, yếu sức mệt lã, viêm tử cung, thiếu máu, viêm
phổi, biếng ăn, khó ngủ hoặc trong giấc ngủ thường mộng
mị, chiêm bao dữ.
Nhức đầu táo bón kinh niên,
Ruột thắt bụng quặn nối liền bên nhau
Suyễn, ho, dương liệt, ngực đau
Bài hai thực tập trước sau bền lòng
Toại nguyền thỏa dạ ước mong
Trẻ, vui, khỏe, đẹp từ trong ra ngoài
Bạn ơi đừng có dễ duôi
Biếng lười, cha đẻ dưỡng nuôi bịnh tình.
Bài Tập Số 3
Có bốn động tác
1. Bán Nguyệt Thưởng (Nhìn trăng lưỡi liềm) :

Gậy choàng thẳng vai hông
Uốn lưng mắt nhìn trời
Ðã xương mông xương sống
Chữa nhức đầu máu cao.
Cách tập: Tay phải cầm đầu gậy trên, tay trái cầm
đầu gậy dưới, choàng đặt dọc theo xương sống, mắt nhìn
trời. Ưởn bụng, ngửa lưng uốn vòng theo gậy và từ từ hít
vào. Trả gậy về phía bụng và từ từ thở ra. Chuyển gậy
qua phía vai trái, rồi chuyển gậy qua phía vai phải theo
nhịp hơi thở vào, ra thong thả.

2. Yến Ðảo Phi (Chim én lượn)
Tay cầm gậy đưa cao
Nghiêng gậy uốn thành vòng
Giãn hông phải hông trái
Chữa mắt mờ ù tai

Cách tập: Hai tay đưa gậy cao lên khỏi đầu,
nghiêng qua trái qua phải, khi nghiêng hông từ từ hít
vào, khi trả về từ từ thở ra. Nghiêng xuống chéo gậy
xuôi về trước bụng và chuyển ngược chiều quay. Hơi thở
luôn luôn theo nhịp : Hít, nín, thở đều đặn như trong
tất cả các động tác khác.
3. Khán cước ( Nhìn gót chân)
Tay đưa gậy hông phải
Mắt nhìn gót chân trái
Quay ngược chiều chuyển động
Ðại tiểu tràng tương thông.
Cách
tập: Hai tay cầm gậy đưa nghiêng về phía hông phải,
quay mặt nhìn gót chân trái, bụng có cảm giác bị ép góc
và từ từ hít vào. Trả gậy lại với tư thế đứng thẳng và
từ từ thở ra. Hít, nín, thở đều đặn theo nhịp thở ra vào
của động tác.
4. Thần Quy Luyện Kiếm (Rùa Thần luyện kiếm)
Gậy áp sát cổ đầu
Ưởn bụng nghiêng cổ tránh
Ðả thông lưng đầu bụng
Khí huyết tạng lưu thông.
Cách tập: Tay phải cầm gậy, tay trái chống nạnh,
quay gậy ngang cổ, nghiêng đầu tránh thoát. Quay khoảng
5 hơi thở rồi quay gậy ngược trở lại cũng cỡ 5 hơi thở.
Kế đến đổi gậy qua tay trái và quay gậy giống như tay
phải đã làm. Hơi thở vào, ra, sâụ chậm, dài. Hít, nín,
thở.
Lợi ích và tác dụng trong 4 động tác của bài tập
số 3 :
a) Giúp bài tiết: Các chất cặn bã trong khi ăn, uống,
hít và thở. Phát triển chức năng tống khứ các độc tố ra
khỏi cơ thể. Hệ thống bài tiết có một chức năng vô cùng
quan trọng. Nhờ sự bài tiết tốt mà bao tử, ruột già,
ruột non, lục phủ ngũ tạng và các kinh mạch, khí huyết
không bị ô nhiễm và suy yếu. Bằng vào sự tập luyện 4
động tác của bài số 3 mà bộ tiêu hóa bài tiết tất cả các
chất cặn bã còn sót lại. Bài tiết theo đường tiêu hóa và
trên da có ba triệu tuyến mồ hôi để đào thải trược khí
và các chất độc ra ngoài. Cơ thể của một người có trên
dưới một trăm tỷ tế bào đang sống trong một môi trường
lỏng, hằng ngày tự cung cấp thức ăn, nước uống và khí
thở ra tích tụ không biết bao nhiêu độc tố. Các động tác
tập trên đây làm cho cường thịnh hai quả thận, gan, lá
lách, mật và buồng phổi, đồng thời cũng làm mạnh các cơ
quan khác.
b) Kích thích: các tuyến nội tiết đưa thẳng vào máu,
giúp cho thần kinh mạnh, phát triển trí nhớ và tình cảm,
khiến cho việc học hành mau thành đạt, trẻ, khỏe lâu già
và tránh được bịnh phì mập, làm cho thân hình đẹp, thon
và cân đối. Trừ tận gốc bịnh tiểu đường, lên máu, chóng
mặt, xâm xoàng, ăn uống chóng tiêu, ngủ nghỉ ngon giấc
và trừ được mọi ưu não (chứng trầm cảm ?)
Sáng ra cầm gậy dưỡng sinh
Tâm hồn nhẹ khỏe thân hình đẹp xinh
Thở, cười, sáng nhẹ tâm linh
Sống trong tĩnh thức người mình đều vui.
Bài Tập Số 4
(Có bốn động tác)
1. Uyển Thân Kích Tạng (Nghiêng người kích động
tạng phủ)
Gậy vác ngang bả vai
Nghiêng trái phải giãn hông
Ðầu tim gan kích động
Chữa bệnh thận yếu tỳ.

Cách tập:
Ðặt gậy lên vai, đặt hai bàn tay lên nấm hai đầu gậy, tư
thế lỏng và buông thả. Nghiêng đầu về phía hông bên
phải, đồng thời từ từ hít vào và khi trả lại tư thế quân
bình, từ từ thở ra. Cứ như vậy tuần tự nghiêng qua trái
và qua phải, theo dõi hơi thở vào ra sâu chậm, hít, nín,
thở, đều đặn theo sự di chuyển của mỗi động tác.

2. Canh Ðiền (làm ruộng : Ngồi trên gót chân)
Gót chân nhón thẳng người
Hơi thở nhẹ vào ra
Ðứng ngồi xúc tác bụng
Tỉnh thần khí điều hòa.
Cách tập:
Tay cầm gậy đưa thẳng quá đầu, nhón hai gót chân lên
cao, mười ngón chân chịu sức nặng toàn thân, ngồi xuống
trên hai gót chân và từ từ hít vào. Khi đứng dậy, chậm
rãi và từ từ thở ra. Hít, nín, thở.
3. Càn Khôn Lưu Chuyển (Chuyển động toàn thân)
Thân lượn tợ rồng bay
Lưng uốn quay vòng cầu
Quay trái chuyển quay phải
Thư dãn toàn châu thân.

Cách tập: Hai tay cầm gậy xoay nằm ngang trên
phía đầu, nửa người trên ưỡn ra phía sau, hai cùi chỏ
thẳng và vòng quanh trả gậy về phía trước. Hơi thở ra
vào theo nhịp quay từ trái qua phải và từ phải qua trái,
hít, nín, thở.
4. Thuyền Quá Giang (Ðò qua sông)
Vững tay chèo khoan thai
Trị cảm mạo nhức đầu
Ðả thông thần kinh tọa
Ðò tới bến nhiệm mầu.

Cách tập: Hai tay cầm gậy, đứng theo tư thế người
chèo đò. Khi hít vô, nửa người trên hơi ngả về phía sau,
và khi thở ra, nửa người trên hơi cúi xuống phía trước,
hai tay đẩy gậy về phía trước, cùng lúc hai gót chân
nhón lên, mười ngón chân bấm xuống mặt đất. Có thể chèo
xuôi, rồi chèo ngược và đổi tư thế đứng của chân và tay
cầm gậy.
Lợi ích và tác dụng trong 4 động tác của bài tập
số 4:
a) Chữa bịnh liên quan tinh thần: Người tâm thần
rối loạn vì có nhiều lo âu bực dọc, xung đột vấn đề tình
cảm, bất hòa với người thân, không thích nghi với công
ăn việc làm, tiếp xúc với đời sống mới, quá cố gắng
trong khi học hành, làm ăn v.v...Người chuyên tập bốn
động tác trên nhờ sức vận chuyển cột sống, kích thích
hai huyệt kinh nhâm và đốc mạch, làm tác động vào các
trung khu thần kinh não, tuyến nội tiết nên khai thông
được các mạch máu bị nghẽn, các dây thần kinh yếu hoặc
tê liệt được hoạt động trở lại bình thường, điều hòa âm
dương và hóa giải các chức năng thần kinh bị rối loạn
được quân bình trong toàn cơ thể.
b) Chữa bịnh liên quan đến các bộ phận vật lý như:
bịnh di tinh, hoạt tinh của nam giới, bệnh huyết
trắng, kinh nguyệt không đều của phái nữ. Ngoài ra còn
phòng ngừa và có thể chữa trị được các bịnh khác như :
bịnh tiểu đường, bịnh liệt dương, bịnh tử cung, bịnh
phong hàn, khó thở, bịnh đái dầm, bịnh yếu tim, bịnh lao
phổi, bịnh lên kinh giựt tay chân, méo miệng, bịnh nhức
đầu, áp huyết caọ cổ gáy đau cứng, tai ù, mắt kéo mây,
bịnh dị ứng ở mũi...
Thân tâm một mối giao hòa
Tâm an thân khỏe sống đời vui tươi
Hạnh phúc mỉm nở nụ cười
Dưỡng sinh tập luyện xin người đừng quên.
Bài V:
Thanh Lọc Gan Bằng Nước Gạo Lứt
(Nguyên bản Việt ngữ của
ông Nguyễn Ðức Trọng
đăng trong Lá Thư Vô Vi
của Hội Vô Vi Thiền Ðịnh, Hoa Kỳ)
Câu chuyện bắt đầu sau khóa sống chung Sức Khỏe và
Tâm Linh với Ðức Thầy và Thiền ca tại Washington
D.C. vào tháng 8 năm 1997. Thường lệ sau khi thiền xong,
chúng tôi ngồi sinh hoạt và trao đổi kinh nghiệm tu học.
Nhưng lần này chúng tôi có nhiều chuyện để nói hơn vì
nhóm chúng tôi có ba người vừa tham dự Thiền Ca trở về.
Ðó là anh Cúc, anh Lâm và chị Trúc. Anh Lâm có đưa ra
mẫu phân tích máu của anh và của anh Cúc do bà Bác sĩ
Renée Welhouse chụp lại. Ai cũng ngạc nhiên khi thấy máu
của anh Cúc quá sạch so với của anh Lâm. Và như anh Lâm
cho biết chỉ có máu của anh Cúc và anh Du (Bạn đạo
Florida) là sạch nhất trong số những bạn đạo tham dự
khóa Sống Chung tức là hồng huyết cầu rất tròn và huyết
thanh rất trong. Tất cả đều quay ra phỏng vấn anh Cúc đã
ăn uống và thanh lọc ra sao mà hay vậy, bởi vì hai anh
cũng ăn chay như nhau, thanh lọc từ nước chanh qua đến
Tsiao-He cùng thời gian như nhau. Vậy mà máu của anh Cúc
sạch hồng, trong khi hồng huyết cầu của anh Lâm thì méo
mó cũng như đầy dẫy những độc tố và ký sinh trùng
(Para-sites).
Ngoài ra sắc mặt của anh Cúc và chị Cúc cũng tươi sáng
hơn xưa nhiều. Anh Cúc bèn thanh minh là anh chẳng có
làm gì khác hơn so với các bạn đạo trong vùng, từ ăn
uống, thiền, thanh lọc và tập thể dục. Có chăng là anh
thêm phần uống nước gạo lứt rang mà anh đã bắt chước bác
Thoa (một bạn đạo). Trước khi đến với nhóm thiền tại
Portland, Oregan mười năm về trước, bác Thoa đã bị mổ
lấy túi mật vì mật bị sạn quá nhiều. Thêm nữa bác sĩ cho
biết một số lớn sạn đã tràn sang gan mặc dầu họ đã cố
gắng gắp ra phần lớn nhưng vẫn còn trong gan khá nhiều.
Bác sĩ cũng cho biết là gan bác đã bị chai, và y khoa
hiện nay không có thuốc chữa bịnh gan nên bác sĩ cũng bó
tay. Họ chỉ cho bác uống thuốc cầm chừng để thay thế
chất mật và thuốc bổ gan. Người của bác càng lúc càng
sút đi. Da và mắt của bác càng lúc càng vàng như nghệ.
Cả nhà đều buồn. Bác tuyệt vọng. May ra có người nhà ở
Việt Nam chỉ cho bác uống nước gạo lứt rang với công
dụng giúp gan giải trừ độc tố và giúp cơ thể tươi nhuận
hơn. Bịnh của bác đã liệt vào hạng “thầy chạy” rồi. Thôi
thì ai chỉ gì bác cũng thử, vả lại cũng chẳng tốn hao
gì. Bác uống liền tù tì trong ba năm dùng nước gạo lứt
rang thay thế thức uống cho trà, cà phê và nước
ngọt...Như một phép lạ. Da và mắt của bác không còn vàng
nữa. Trong người không còn cảm giác uể oải và bực bội.
Nước da của bác trở nên hồng hào và tươi sáng hơn bao
giờ hết. Ði khám bác sĩ lại, từ bác sĩ cho đến y tá, ai
nấy đều ngạc nhiên. Con người của bác như đã tái sinh.
Họ xúm nhau đến hỏi xem bác đã uống gì mà hay vậy. Bác
cũng chỉ nói nhờ bác gái chăm lo mà được như vậy. Thế là
bác gái được thiên hạ xúm nhau ca tụng. Và từ đó, nếu có
dịp và nghỉ là nếu có thể giúp đỡ được ai là bác đều kể
lại câu chuyện này. Anh Cúc nghe bác kể liền áp dụng
được hơn ba tháng trước ngày đi dự Khóa Sống Chung tại
Washington D.C. nên gan được thanh lọc rất sạch tốt. Mọi
người nghe xong đều ngã ngửa vì không ngờ nước gạo lứt
rang lại có hiệu quả đến thế. Nửa tin nửa ngờ vì cũng
mới như ngày nào bắt gặp pháp thiền Vô Vi. Giống như ra
đường bảo thiên hạ bỏ ra 1 đồng và 6 tháng sau lấy lại
100 đồng vậy. Thôi thì một liều ba bảy cũng liều. Chúng
tôi chạy ra chợ mua gạo lứt về rang và dùng nồi slow
cooker để nấu. Sáng, trưa, chiều, tối đều dùng nước gạo
lứt rang và càng uống càng mê. Sau đây là công thức nấu
nước gạo lứt rang:
Cách rang : Nếu không có thì giờ rang bằng
chảo trên bếp, bạn có thể dùng máy rang bắp rang 5 phút
là được. Nhưng chỉ xài được cho gạo lứt tròn, nếu gạo
lứt dài phải rang bằng chảo.
Cách Nấu : Cách nấu tiện và sạch
nhất là dùng nồi slow cooker, để low level (mức thấp
nhất). Bạn có thể nấu từ sáng tới tối hoặc nấu qua đêm.
Nếu bạn nấu nồi trên bếp thì nước gạo không trong, giống
như nước cơm vậy.
Có lẽ các anh chị cũng thắc mắc về một số bạn đạo trong
vùng Portland, sau sáu tháng uống thử :
Bác Thoa, dù đã 70 tuổi và không còn mật, trông bác vẫn
trẻ, da mặt hồng hào và sáng láng.. So với nhiều người
vào tuổi 40, bác vẫn còn hơn xa, làm việc cả ngày không
thấy mệt.
Anh Cúc, nhờ uống nước gạo lứt, cọng thêm phương pháp
thể dục của Ðức Thầy đã chỉ dẫn, nước da anh bóng và
hồng hơn trước. Anh đã ăn được rau sống, không còn bị
đau bụng như nhiều năm qua, bớt nhức mỏi mỗi khi trời
trở lạnh. Chỉ có một điều làm phiền cho anh là anh phải
thay một loạt quần áo mới vì những quần áo cũ đã trở nên
rộng không còn mặc vừa nữa. Ði shopping bây giờ là một
cực hình cho anh.
Anh Lâm, ngoài việc uống nước gạo rang, anh còn dùng
thêm thuốc thanh lọc Parasites của Awareness. Hiện tại
anh không còn bị đau khổ vì bịnh táo bón kinh niên từ
nhiều năm qua. Cộng thêm nước da tươi mát, anh cho biết
mồ hôi không còn mùi hôi nữa. Miệng cũng không còn hôi,
thiên hạ khỏi cần né mỗi khi đứng trước mặt anh nói
chuyện. Có lẽ nhờ thanh lọc, uống nước gạo lứt rang,
thiền và tập thể dục đều, anh không còn bị nhức vai, mỏi
xương sống mỗi khi làm việc nặng. Thế là từ nay anh
không còn viện cớ đau lưng để trốn việc mỗi khi bị vợ
nhờ cuốc đất, làm vườn.
Bích Loan, mỗi khi mùa Ðông đến là một sự sợ hãi. Cô này
mỗi khi trời trở lạnh thì cổ và vai trở nên cứng ngắc,
không cục cựa chi được. Mỗi lần như vậy thì phải ngâm
mình vào hồ nước nóng, hoặc phải xoa dầu nóng khắp cổ và
lưng thì mới nhúc nhích được. Hai năm gần đây, chứng
đau nhức lan xuống đến tận bàn tay. Những đốt ngón tay
sưng lên và vài ngón bị lệch hẳn qua một bên, mỗi tối
phải dùng dầu nóng mà xoa bóp và dán thuốc dán Salonpas
hoặc thuốc cao. Tôi khuyến khích dùng nước gạo lứt hàng
ngày gần 6 tháng nay, và cũng lạ là những tay không còn
bị sưng, cổ bớt tê cứng so với những năm trước. Cái hot
tub trong nhà không cần phải chạy vào mùa đông năm nay.
Mỗi tối Bích Loan không còn ngồi xoa bóp với dầu nóng.
Tổng kết kinh nghiệm do các bạn đã dùng nước gạo lứt
rang : Sau một tháng, bạn sẽ thấy nước da bạn sáng
nhuận, không còn khô nhám. Các chị nhiều khi không cần
phải xài kem dưỡng da vì da đã trở nên láng tự nhiên,
thấy tốt rất thích. Trong người khỏe, không còn thấy mệt
mỏi và uể oải. Nửa đêm hay buổi sáng thức dậy thấy tỉnh
táo, thiền lâu và tốt. Uống nước gạo lứt khoảng ba bốn
tuần, bạn sẽ thấy trong người nóng, lỡ miệng....Bạn đừng
sợ cứ tiếp tục uống vài ngày là sẽ hết. Sau đó có thể tự
điều hòa trở lại bình thường và bạn không còn bị nóng
nữa. Những người lớn tuổi không còn bị đi tiểu đêm, dù
uống một ngày năm sáu ly nước gạo lứt. Mọi người đều cảm
thấy thân thể ấm áp, không còn bị cảm giác ớn lạnh khi
ra ngoài dù trời mùa đông tuyết giá và nhiệt độ xuống
thấp.
Như Thầy vẫn thường lo lắng cho chúng ta về cả hai mặt
sức khỏe và tâm linh. Khi bạn có sức khỏe tốt, thân thể
khỏe mạnh, bạn sẽ làm việc hăng say vui vẻ hơn và tâm
linh tiến hóa thanh nhẹ hơn, thực hành trọn lành đời đạo
song tu.
Ðọc đến đây, bạn còn chần chờ gì nữa mà không chạy ra
tiệm mua ngay nồi slow cooker và 10 kí gạo lứt tròn về
rang, nấu mà uống thử đi chứ !
Chỉ cần rang gạo đến nâu đậm là được. Uống đậm hay lạt
là tùy quý bạn (xin xem phần công thức trên). Ngoài ra
vì thích uống nóng, tôi thường cho vào bình thủy mỗi
sáng để đem đi làm uống dần trong ngày. Mùa đông hay hè
đều uống được.
Các bạn có thể tìm hiểu thêm bằng cách liên lạc về:
Thiền đường Lưu động Portland
Nguyễn Ðức Trọng
Tel: (503) 2559689 hoặc
Fax : (503) 8236942
Kể ra câu chuyện trên, tôi hy vọng giúp các bạn có cơ
hội tự chữa bịnh cho mình và với kết quả tốt của bạn sẽ
giúp cho những người chung quanh bạn để họ cũng có một
sức khỏe tốt. Vì mỗi người chúng ta trên 40 tuổi thì hầu
như ai cũng có vấn đề về gan như yếu gan, chai gan, xơ
gan. Cho nên vấn đề thanh lọc gan là cần thiết.
Bài VI: Phương Thuốc Hai Vị Chữa Bệnh Ung Thư
(Nguyên bản Việt ngữ
trích trong Lá Thư Vô Vi
của Hội Vô Vi Thiền Ðịnh,
Hoa Kỳ)
Phương thuốc
này chủ trị các bịnh ung thư. Căn cứ những kết quả đã
dùng, thấy đã chữa lành những bịnh ung thư lở loét nơi
dạ dày, ruột, gan, dạ con, tử cung, vú, não v.v...Ðặc
biệt bịnh ung thư nơi ruột và dạ dày chỉ uống từ 4 hay 5
giờ sau là thấy hiệu quả khác thường.
Phương thuốc
này không kể trẻ, già, trai, gái đều uống được cả. Sau
khi uống thuốc nếu thấy đại tiểu tiện có máu, mủ bài
tiết ra, đó là dấu hiệu tốt (đối với người bị bịnh
nặng). Còn đối với người bị bịnh nhẹ sẽ không thấy có
máu mủ bài tiết ra ngoài. Nhưng sẽ thấy trong người khỏe
hẳn ra. Có thể uống thuốc này từ 3 tới 4 tháng mới lành
triệt để.
Tương truyền
rằng phương thuốc này là của một tội nhân bên Tàu, vì sợ
chết rồi thất truyền nên đã cống hiến cho công chúng
trước ngày ra chịu tội tử hình 3 ngày.
Thuốc và
cách uống
Một thang
thuốc gồm có :
-Bán Chi Liên
(xổ tiêu)........................................1 lạng
-Bạch Hoa Xà
Thiệt Thảo (trị ung lở)...................2 lạng
Một thang
thuốc uống hai lần :
-Nước đầu
(uống buổi sáng), Dùng 4 chén nước nấu còn lại 2 chén.
Nấu bằng siêu đất hay nồi bằng nhôm đều được cả, không
có kỵ.
-Nước thứ nhì,
uống buổi chiều, cũng dùng 4 chén nước nấu còn lại hai
chén.
Chú ý:
Có thể nấu lần
thứ ba với nhiều nước để uống trong ngày thay trà.
Lúc bình
thường mỗi tháng uống một lần rất hay. Vì thuốc này đối
với độc nóng của lục phủ ngũ tạng và các chứng trĩ, áp
huyết cao, ho, nóng vân vân đều rất hiệu nghiệm.
Bán chi Liên
mát, không độc, là thứ cỏ làm bài tiết các chất dơ bẩn.
Sau khi uống thuốc, không được uống những thứ nước khai
vị như bia và rượu chát...
Nếu chứng bịnh
nham (ung thư) khai hoa, nghĩa là mặt ngoài thấy lở loét
thì có thể dùng Tiêu Thảo Lạc mới mọc lớn giã nát xoa
lên chỗ đau và lấy nhựa dùng nước nấu thay trà.
Thang thuốc
này hãy uống đến thấy có hiệu quả mới thôi và đã chữa
lành bịnh vô số. Muốn hết bịnh cũng như bữa ăn cơm đã
dọn sẵn đồ ăn, nhưng không chịu vào bàn ăn thì không bao
giờ no vậy. Người nào đã lành bịnh nên truyền bá phương
thuốc này đến kẻ khác thì công đức không nhỏ.
Nên để nguội
sẽ uống, uống trước bữa ăn 1 giờ và sau bữa ăn 2 giờ,
nghĩa là lúc bụng còn đói, thì có hiệu quả nhanh chóng
hơn.
Phụ nữ có
thai không nên uống.
Phụ chú của
người viết :
Theo tài
liệu, khi nấu thuốc lần thứ nhất, chúng ta chỉ đổ vào
siêu có 4 chén nước. Nhưng theo kinh nghiệm. vì số lượng
thuốc cọng chung lại tới 3 lạng cũng khá nhiều, nên nó
rút hết nước vào trong cây thuốc. Người viết đề nghị khi
nấu lần đầu tiên nên đổ vào 6 chén nước sắc còn lại 2
chén, thay vì 4 chén sắc còn lại 2 chén như tài liệu đã
hướng dẫn. Nấu lần thứ nhì chỉ cần đổ 4 chén nước mà
thôi.
Bài VII: Nha Ðam
Hay Lô Hội
Cây Thuốc Tuyệt Diệu Chữa
Nhiều Bệnh Ung Thư
(Nguyên bản Việt ngữ của
Linh Mục Hoàng Minh Thắng, do ông Phùng văn Ngà ở Garden
Grove, California, Hoa Kỳ, gởi tặng)
Từ nhiều năm
nay, Linh mục Romano Zago, người Ba Tây (Brazil), rất
nổi tiếng vì đã chữa rất nhiều người khỏi bịnh ung thư,
mặc dầu Linh mục không phải là Bác sĩ, cũng không phải
là Thầy Phép. Linh Mục Romano Zago sanh năm 1932 tại
tỉnh Lajeado ở nước Ba Tây và được chỉ định làm mục vụ
tại Thánh địa Bethalem.
Linh mục nói,
tôi đã học được của dân nghèo Ba Tây, họ đã sử dụng
nhiều loại cây cỏ để chữa bịnh rất tuyệt vời. Trong các
loại cây cỏ đó, có cây Nha Ðam hay Lô Hội (Aloe Vera)
mọc khắp nơi. Thật ra các dân tộc trên thế giới đều biết
công dụng chữa bịnh của cây Lô hội. Lô Hội có tất cả
trên 300 loại. Nhưng các loại thường được công chúng
dùng để chữa bịnh nhiều nhất là Aloe Vera, Aloe ở đảo
Socotra, Aloe ở vùng Cape Town bên Nam Phi, Aloe
Saponaria, Aloe Sinesis, Aloe của vùng Natale, và Aloe
Forox. Loại thông dụng nhất là cây Aloe Vera. Cây Lô Hội
(hay Dứa kiểng ) này có lá hình thon, hai bên có gai
nhọn nhưng rất mềm, lá dài trung bình từ 30 tới 50cm,
chiều cao từ 60 tới 90, bên ngoài có lớp vỏ xanh, bên
trong là chất thạch đắng. Theo bảng phân chất của Linh
mục Bác sĩ Grandi của dòng Phanxicô làm việc tại trung
tâm nghiên cứu La Torre, tỉnh Torino, trung bắc Ý Ðại
Lợi, thì cây Lô Hội có những chất như sau :
1)
13 chất khác nhau thuộc loại Lignin, Saponin và
Antrachinoni chứa các chất trụ sinh chống lại các loại
vi khuẩn.
2)
Tám loại vitamins cần thiết cho sức lớn mạnh của
các tế bào nuôi dưỡng cơ thể, chế tạo ra máu điều hòa cơ
thể và chữa lành các vết thương.
3)
Cây Lô Hội chứa trên 20 thứ muối đạm cần thiết
cho cơ thể.
4)
Saccaridi đơn và đa dạng
5)
Aminoacidi chính yếu
6)
Amonoacidi phụ thuộc
7)
Chất men Oxýt của cây Lô Hội hút các yếu tố nòng
cốt.
Việc chữa khỏi
bịnh ung thư đầu tiên xảy ra hồi năm 1987. Năm đó tại
Bethelam có một cụ già bị ung thư nhiếp hộ tuyến vào
thời kỳ cuối. Các bác sĩ thất vọng không chữa được, nên
đã cho cụ xuất viện để cụ được chết tại nhà trước mặt
những người thân. Linh mục Romano được gọi tới để ban bí
tích, xức dầu kẻ liệt cho cụ ông. Rồi sau đó, vị Linh
Mục đề nghị cụ thử chữa bịnh theo phương thuốc cây Lô
hội của Linh mục. Chữa được một thời gian, quả nhiên ông
cụ khỏi bịnh và hiện nay vẫn sống với con cháu, rất khỏe
mạnh dù đã 85 tuổi. Tiếp theo có một ông Thư ký của
trường Thánh địa Bethelem bị ung thư cổ họng nói không
ra tiếng. Linh mục Romano đến thăm ông với một chai lớn
Xi rô Lô Hội. Chỉ hai tháng sau, ông Thư ký khỏi bịnh,
nói được và làm việc bình thường trở lại.
Tuy nhiên vụ
chữa bịnh cảm động nhất mà Linh mục Romano Zago còn nhớ
là chuyện của chú bè Geraldito, người Á Căn Ðình, chỉ
mới 5 tuổi. Em bé này bị ung thư máu. Sau khi tìm đủ
cách chữa trị không hiệu quả, cha mẹ em đưa em sang thăm
Thánh địa Bethelem để cầu xin Chúa Giê Xu Cứu Thế, biết
đâu hy vọng Chúa sẽ thương xót mà chữa lành bịnh cho đứa
con yêu. Tại đây song thân em tình cờ gặp Linh mục
Romano. Linh mục đề nghị cha mẹ của em sử dụng thử
phương thuốc chữa bịnh của Linh mục trong vòng hai
tháng. Bé Géraldito đã ngoan ngoản uống xi-rô Lô Hội do
Linh mục Romano xay cho em uống. Nhưng vào trước khi
tháng thứ hai chấm dứt, các bác sĩ chữa trị cho biết em
đã hoàn toàn khỏi bịnh ung thư máu. Chính Linh mục
Romano Zago đã kể lại các vụ chữa bịnh công hiệu trên
đây cho nguyệt san Thánh Ðịa số ra cho hai tháng 11 và
12 năm 1993, để cho mọi người biết rằng có thể chữa khỏi
bịnh ung thư với các chất liệu đơn sơ mà Tạo Hóa đã dựng
nên trong thiên nhiên để ban bố cứu giúp con người.
(Linh mục
Giu-Se Hoàng Minh Thắng viết theo tài liệu Vittorio
Bosello Ofm, Miracolo dell-aloe del mielle, La terra
Santa, Novembre, Decembre 1993, Marzo, April 1995).
Toa thuốc chữa
bịnh của Linh mục Romano Zago rất đơn giản. Nó gồm hai
hoặc ba lá nhỏ cây Lô Hội, nửa kí (500g) mật ong và 3
hay 4 muỗng canh rượu trắng mạnh. Sau khi rửa sạch và
gọt bỏ hai bìa có gai của lá Lô Hội, ba thứ cho vào máy
xay sinh tố xay nhuyễn ra thành một loại xi-rô. Trước
khi uống phải lắc đều lên. Mỗi ngày uống ba lần. Mỗi lần
uống một muỗng canh xi-rô Lô hội. Phải uống trước mỗi
bữa ăn sáng, trưa, chiều từ 15 đến 20 phút mới công
hiệu. Xin nói rõ mật ong là loại thực phẩm mà cơ thể con
người hấp thụ dễ dàng. Chất rượu mạnh làm cho mạch máu
nở lớn để cho mật ong pha lẫn với xi-rô Lô hội dẫn tới
mọi tế bào trong lục phủ ngũ tạng của cơ thể, vừa nuôi
dưỡng tế bào, vừa chữa lành mọi vết thương và vừa lọc
máu. Bình thường việc chữa bịnh kéo dài khoảng 10 ngày.
Uống trên 10 ngày nên đi khám bịnh lại để xem bịnh tình
ra sao, và so sánh kết quả trước và sau khi điều trị.
Nếu cần thì uống tiếp thêm 10, 20 hoặc 30 ngày nữa cho
tới khi hoàn toàn khỏi bịnh. Bình thường bịnh nhân cảm
thấy khá ngay sau đó. Vì thuốc Cây Lô Hội này trị được
tất cả mọi bịnh ung thư như : Ung thư da, ung thư cổ
họng, ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư óc,
ung thư bao tủ, ung thư ruột và cả ung thư máu nữa......
Bây giờ để nói
về toa Thuốc Lô hội do một vị Linh mục người Ba Tây
(Brazil) sáng chế và một linh mục người Việt Nam đem từ
La Mã (Roma) về phổ biến tại San José (California, USA).
Vị Linh mục Việt Nam giải nghĩa chi tiết như sau : Có
tới 300 loại Lô Hội, nhưng loại tốt nhất để trị bịnh ung
thư là loại lá có màu xanh lá cây tươi và có đốm
trắng, Không nên dùng loại lá có màu xám và đốm
trắng. Lá Lô hội trung bình dài khoảng 30cm tới 50cm.
Phương
pháp chế biến
Lấy 2 lá lớn
hoặc 3 lá nhỏ rửa sạch, cắt bỏ hai bìa có gai (để nguyên
vỏ), cắt nhỏ ra từng miếng mỏng.
Mật ong 500g
và rượu trắng mạnh 3 hay 4 muỗng canh.
Ba thứ cho vào
máy xay sinh tố để xay nhuyễn. Khi xay xong đổ vào chai
thủy tinh có miệng lớn. Sau vài giờ nước bọt của Lô hội
lắng xuống, đem cất vào tủ lạnh. Mỗi lần uống lấy muỗng
khuấy đều.
Cách dùng:
Mỗi lần uống 1 muỗng canh, mỗi ngày uống 3 lần : sáng,
trưa và chiều. Phải uống trước mỗi bữa ăn từ 15 đến 30
phút, nghĩa là uống khi bụng còn đói.
Người khỏe
mạnh và để ngăn ngừa bịnh ung thư, nên uống mỗi năm một
lần với một loạt trị liệu 10 ngày như cách chỉ dẫn ở
trên.
Ngoài ra Lô
hội còn có hiệu năng để chữa chứng rụng tóc : Lấy chất
nhờn của lá Lô hội thoa lên đầu, cứ hai ngày thoa một
lần nơi vùng tóc bị rụng, để cho nhựa khô lối hai hoặc
ba giờ đồng hồ rồi mới gội đầu cho sạch. Phải áp dụng từ
6 tháng trở lên tóc mới mọc trở lại khá rậm rạp.
Cây Lô Hội còn
có công dụng khác như cầm máu, phỏng da, mụn ngứa, mụn
sừng trâu. Ví dụ chỗ phỏng da bị rát, lấy một miếng Lô
hội cắt đôi đắp lên chỗ phỏng, lấy băng keo dán lại, qua
đêm sẽ hết đau. Về mụn thì phải đắp bốn năm ngày liên
tiếp mới có kết quả. Ngoài ra nó còn trị được bịnh nhức
đầu và bịnh đau bụng ngầm ngầm cũng uống cách thức như
áp dụng để chữa bịnh ung thư cũng có kết quả hữu hiệu.
Bài
VIII: Bồi Bổ Sức Khỏe Bằng Ðậu Ðen
(Nguyên bản Hoa ngữ, do
ông Tăng Tam Dương ở Bonnyrigg tặng. Người viết đã dịch
và đăng trên đặc san Phước Huệ Công Ðức Tòng Lâm của
Chùa Phước Huệ, Wetherill Park, Sydney).
Ðậu đen là một
loại thực vật được trồng rất nhiều tại một số nước Á
Châu. Người Trung Hoa không những đã biết dùng đậu đen
để chế biến các loại thực phẩm như nước tương, tương khô
và bột đậu mà còn dùng để luyện cao và làm thuốc. Có hai
loại đậu đen: Loại vỏ đen ruột trắng và loại vỏ đen ruột
xanh mà người Việt Nam mình thường gọi là đậu đen xanh
lòng. Loại sau này thường được người ta chọn lựa dùng để
làm thuốc nhiều hơn.
Theo sách Bản
Thảo Bị Yếu của Trung Quốc viết rằng: Ðậu đen có đặc
tính làm cho người già mắt yếu được sáng trở lại. Nó còn
có công hiệu bổ thận và điều hòa hệ thống tim mạch. Ở
Trung Hoa có nhiều người đã trên 80 tuổi, nhờ dùng đậu
đen thường xuyên, mà không cần đeo kiếng lão, lên xuống
thang lầu không biết mệt và khi viết chữ, tay không run.
Có người bị táo bón kinh niên cũng nhờ dùng đậu đen mà
nay được nhuận trường, đại tiện bình thường trở lại.
Những người bị bịnh trái giống (đậu mùa), mặt rổ hoa mè,
sau khi áp dụng phương pháp dưỡng sinh bằng đậu đen một
thời gian thì thấy các vết thẹo đã khỏi hẳn, da trơn mịn
màmg bình thường.
Ông Trương Bộ
Ðào, nguyên Bí Thư Viện Hành Chánh, Vệ Sinh và Y Dược
Trung Quốc cũng áp dụng phương pháp dưỡng sinh bằng đậu
đen liên tục trong nhiều năm. Nay tuy đã già nhưng cơ
thể ông vẫn còn cường tráng.
Sách Y Học cổ
truyền Trung Quốc có viết: Ngoài bông cúc ra, đậu đen là
loại thực phẩm dưỡng sinh tốt nhất để bổ mắt, đến già
vẫn còn đọc chữ được rõ ràng. Sách Thọ Thân Dưỡng Lão
Tân Thư viết: “Lý Mỗ tiên sinh mỗi sáng thức dậy là nuốt
27 hạt đậu đen tròn lẵng. Ðến nay đã già nhưng mắt ông
còn tỏ và tai ông vẫn thính như thuở thanh xuân”. Người
ta còn mách, nên nuốt 49 hạt đậu đen xanh lòng với nước
sôi nguội hay còn ấm vào mỗi buổi sáng thì sẽ công hiệu
nhanh chóng hơn trong việc hồi phục thị giác của mắt. Có
người lúc còn trẻ, hàng ngày chỉ nuốt một hạt đậu đen,
rồi tăng dần liều lượng mỗi năm thêm một hạt. Cho đến
già, ông thấy mạnh khỏe hơn những người cùng tuổi. Mắt
còn tỏ, không cần phải đeo kiếng lão.
Tác giả bài
này (nguyên văn bằng tiếng Trung Hoa), năm nay đã 42
tuổi tự thuật rằng lúc trẻ ông đã bị bịnh quáng gà, mỗi
khi trời sẫm tối thì quờ quạng không trông thấy gì cả.
May nhờ được một người bạn mách cho phương pháp dưỡng
sinh bằng đậu đen để chữa. Trải qua 5 năm kiên trì không
gián đoạn, rốt cuộc mắt ông đã hồi phục thấy rõ bình
thường. Ngoài ra cũng nhờ áp dụng phương pháp dưỡng sinh
này mà ít khi ông bị bịnh. Mỗi ngày ông giảng bài tại
trường hàng 10 tiếng đồng hồ vẫn không biết mệt, miệng
không khô và giọng nói vẫn còn thanh thoát. Mỗi lần vào
tiệm để hớt tóc, người thợ cạo ngạc nhiên bảo rằng chân
tóc của ông đã hồi phục lại màu đen. Tóc bạc đã bớt đi
rất nhiều. Ðây là một bí quyết vô cùng kỳ diệu, nhưng
cần phải kiên nhẫn.
Theo sách Y
Học đời Mãn Thanh ghi chép: Ðậu đen tính hàn, vị cam
(ngọt), sắc đen, chứa nước, hình dáng giống quả thận,
nên có khả năng làm sáng mắt, lợi thủy, bổ thận, nhuận
tâm, giải nhiệt, khu phong, hoạt huyết, giải độc, giảm
đau và trừ được chứng sưng phù. Dùng đậu đen giã nát hay
đâm vụn rồi đắp lên chỗ sưng đau thì sẽ chóng lành.
Những người thường ăn đậu đen nấu chín sẽ phòng ngừa
được các chứng ban trái.
An Lão tiên
sinh ở tỉnh Hà Nam (Trung Quốc), tuổi trên 80, hàng tuần
đều dạy học trò về nghệ thuật thư pháp (viết chữ đẹp
bằng bút lông). Tay ông không run và không cần đeo
kiếng. Có người hỏi ông nhờ bí quyết nào mà có sức khỏe
như vậy. Ông bảo nhờ phương pháp nuốt đạu đen từ 50 năm
nay.
Khi mua đậu
đen, chúng ta nên chọn lựa thứ hạt đen mướt (bổ thận) và
ruột xanh (bổ gan). Loại đậu đen này thường được dùng để
làm thuốc rất tốt.
Cách thức dùng
đậu đen để bồi dưỡng và trị liệu tùy theo sự tiện lợi
hay ý thích của mỗi người. Cách thông thường nhất để thử
nghiệm trong một tuần lễ là chúng ta có thể dùng 49 hạt
đậu đen xanh lòng thứ tốt (no tròn, đen mướt và còn mới)
rửa sạch. Mỗi sáng nuốt 7 hạt với nước chín để nguội hay
còn ấm. Nhớ rửa sạch mỗi lần 7 hạt trước khi dùng. Ðừng
rủa một lượt 49 hạt rồi để dành vì sau khi dùng rồi,
phần đậu còn lại sẽ lên mộng. Sau đó số lượng đậu dùng
hàng ngày có thể gia tăng tùy thích. Người bị bịnh thận
có thể dùng nước sôi nguội pha muối thật loãng để nuốt
đậu đen. Còn người bị bịnh phù thũng chỉ nên dùng nước
sôi nguội bình thường và không pha muối. Hạt đậu không
được rang hay nấu chín. Nên được nuốt trọng, không được
cắn bể hay nhai nát. Nuốt đậu đen rồi, chốc lát sau có
thể dùng điểm tâm và sinh hoạt bình thường, không kiêng
cử gì cả. Bất kỳ người lớn hay thiếu niên đều có thể áp
dụng phương pháp dưỡng sinh này để kiện thân và bồi
dưỡng sức khỏe. Ðừng lo ngại đậu đen nguyên hạt sẽ không
tiêu hóa được ở trong ruột. Chỉ 3 tiếng đồng hồ sau khi
nuốt đậu xong là chúng ta cảm thấy phải đi đại tiện rồi.
Theo dõi số
người đã áp dụng phương pháp này để trị bịnh, Lý tiên
sinh đã bị táo bón kinh niên, mỗi sáng chỉ nuốt 2 hạt
đậu đen mà nay đã dứt. Ông rất mừng còn hơn trúng số độc
dắc. Ngoài ra một nữ nhân viên của sở Bưu Cục, mặt nổi
nhiều tàn nhang và mụn bọc. Cô đã nuốt đậu đen liên tục
chỉ mới 7 ngày sau đã thấy có công hiệu. Cô mừng quá
tiếp tục sử dụng đến khi hoàn toàn bình phục, da mặt trở
lại lành lặn bình thường mới thôi.
Tóm lại đậu
đen không chỉ là thực phẩm mà còn là một thứ thuốc để
cường thân kiện thể. Nó có công hiệu trong lãnh vực làm
sáng mắt, ngăn chận bịnh đau mắt, giải độc trong cơ thể,
bồi bổ gan và thận, điều hòa bộ máy tuần hoàn huyết và
bộ máy tiêu hóa. Một cân đậu đen giá chẳng bao nhiêu
tiền nhưng lại là một cân thuốc vô cùng quý báu.
Trên đây là
tài liệu dưỡng sinh bằng Hoa ngữ, chúng tôi phỏng dịch
với tính cách thông tin quảng bá để quý độc giả tham
khảo. Mặc dầu một số bằng hữu và bản thân của dịch giả
đã thực hành có hiệu quả. Tuy nhiên với tính cách dè
dặt, dịch giả sẽ không chịu trách nhiệm về những phản
ứng bất lợi, nếu có, xảy ra cho người áp dụng vì tính
thích ứng của tạng phủ mỗi người mỗi khác. Ðể thử
nghiệm, chúng tôi đề nghị quý vị nên nuốt trước mỗi sáng
một hạt để thăm dò, xem có bị sình bụng, tiêu chảy hay
cảm giác khó chịu không. Nếu không có gì trở ngại, thì
sau mỗi tuần lễ quý vị có thể gia tăng liều lượng từ từ
đến con số mà mình mong muốn.
Bài IX:
Phương Pháp Thanh Lọc Ðộc Tố
Trong Cơ Thể Bằng Nước
Rau Trái
(Trích dịch từ nguyên bản
Anh ngữ trong quyển Food For Life của Bác sĩ Neal
Barnard, Hoa Kỳ)
Trong thế giới
văn minh hiện nay, con người luôn luôn phải đối diện với
sự ô nhiễm của môi trường từ mọi phía. Bầu không khí bị
vẫn đục bởi thán khí của các cơ xưởng và xe cộ lưu thông
thải ra. Nước biển và sông ngòi bị dơ bẩn bởi các hóa
chất phế thải. Ðồ ăn thì được chế biến bằng các nguyên
liệu hóa học. Lâu ngày chầy tháng, cơ thể của con người
cũng bị nhiễm độc bởi những chất liệu và môi trường sinh
sống. Những độc tố đó tích tụ lâu ngày trong cơ thể sẽ
làm cho sức khỏe của chúng ta bị suy yếu và dần dần sẽ
sinh ra nhiều loại bệnh tật.
Ðể loại trừ
những độc tố nguy hiểm ra khỏi cơ thể của con người, bắt
đầu từ thập niên 1980, các khoa học gia, chuyên gia y tế
và dinh dưỡng đã tìm ra nhiều phương pháp khác nhau để
thanh tẩy độc tố mà cách thức dễ dàng và tiện lợi hơn
hết là dùng nước cốt của các loại rau trái để thay thế
cho các bữa ăn hàng ngày trong một thời gian hạn định.
Thông thường
khi lưỡi của chúng ta bị dơ, mỗi sáng thức dậy có vị
đắng hay hơi thở có mùi hôi bất thường là báo hiệu cho
chúng ta biết trong mình không được khỏe. Ðể đối phó,
chúng ta có thể uống nước thật nhiều rồi dùng nước cốt
trái cây và rau cải để thay thế cho các bữa ăn thường
nhật. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng chờ đợi tới khi
có triệu chứng bất thường, chúng ta mới áp dụng phương
pháp thanh tẩy. Tốt hơn hết, trong khi khỏe mạnh, chúng
ta nên thực hiện phương pháp này một hoặc hai lần trong
năm và kéo dài trong một thời gian từ vài ngày cho đến
một tuần lễ. Ðiều nên nhớ là trong khi sử dụng nước cốt
rau quả để loại trừ chất độc trong cơ thể, chúng ta
thường gặp phải các triệu chứng sau đây: nhức đầu, buồn
nôn, nóng lạnh, da nứt nẻ, tiểu tiện thường, tim hồi
hộp, uể oải hoặc tay chân bị run rẩy. Sự tiêu hóa dễ
dàng. Phẩn có màu lợt và đôi khi bị tiêu chảy. Tuy nhiên
đây là những triệu chứng tạm thời và sẽ hồi phục tự
nhiên sau khi đã trở lại cách thức ăn uống bình thường.
Tốt hơn hết chúng ta nên tham khảo ý kiến của các bác sĩ
gia đình trước khi thực hành phương pháp tẩy độc này. Từ
khi bắt đầu nhịn ăn để uống nước cốt rau quả, chúng ta
không cần trải qua giai đoạn thử nghiệm. Nhưng sau khi
chấm dứt việc thực hành phương pháp dưỡng sinh vừa kể,
chúng ta phải chuyển tiếp bằng thức ăn nhẹ như cháo nấu
nhừ để thăm dò trong một hoặc hai ngày rồi mới từ từ trở
lại cách thức ăn uống như xưa.
Trong một bài
phát thanh trước đây, chúng tôi có đề cập tới phương
pháp rửa sạch chất độc của thuốc diệt sâu rầy trong trái
cây và rau cải bằng nước muối hoặc giấm pha loảng. Song
phương pháp này chỉ loại trừ được các hóa chất bám vào
vỏ và da của rau quả. Phần độc tố thấm sâu bên trong sẽ
xâm nhập vào cơ thể của con người bằng đường ăn uống và
ít nhiều cũng làm cho chúng ta bị nhiễm độc. Những hóa
chất này sẽ đồng lõa với những ô nhiễm của môi trường
sống mà tha hồ tàn phá sức khỏe của chúng ta. Nên phương
pháp thanh tẩy độc tố trong cơ thể bằng nước trái cây và
rau cải vừa trình bày trên đây là một cách tốt nhất để
loại trừ chất độc và tránh được sự nguy hiểm của nhiều
loại bịnh tật. Sau khi áp dụng phương pháp này, màng
ruột sẽ được tẩy sạch mà không cần dùng đến thủ thuật y
khoa. Những vi khuẩn hữu ích cho sự tiêu hóa cũng sẽ
sanh sôi nảy nở và thay thế cho những vi khuẩn độc hại
đã được đào thải ra ngoài bằng đường bài tiết. Chứng
sình bụng sau các bữa ăn cũng được chữa khỏi. Sự tiêu
hóa được dễ dàng. Chức năng hấp thụ dưỡng chất của màng
ruột cũng được cải thiện và hữu hiệu hơn. Do đó các sinh
tố, khoáng chất, amino acids, carbohydrate và chất
antioxidant trong rau trái sẽ làm cho cơ thể được hồi
sinh. Một khi cơ thể được khỏe mạnh, chúng ta sẽ có khả
năng đề kháng lại với nhiều loại bịnh tật hiểm nghèo.
Nước Cốt
Rau Trái Phòng Ngừa Ðược Bệnh Ung Thư
Phần lớn nước
cốt trái cây tươi mới vắt chứa rất nhiều sinh tố, khoáng
chất, chất đường thiên nhiên, protein và enzyme, nên là
một thứ thức uống có khả năng phòng chống bệnh ung thư
rất hiệu nghiệm. Nước cốt trái cây được vắt ra không có
chứa chất xơ và còn trong trạng thái đậm đặc, tinh
khiết, nên rất dễ hấp thụ vào máu nhanh chóng và có công
hiệu ngay lập tức để phòng chống lại bệnh tật.
Trong hầu hết
các trường hợp bị bệnh nặng, nhất là bị bệnh ung thư,
sức thở của các tế bào bị suy yếu. Nhà sinh hóa học Otto
Warburg, giám đốc viện tế bào học Max Planck ở Ðức quốc,
vào đầu thập niên 1930, đã khám phá rằng tế bào ung thư
thường lấy năng lượng từ các hợp chất glucose. Trong khi
các tế bào khỏe mạnh thì lấy nguồn năng lượng từ các hợp
chất oxy. Bịnh ung thư và các chứng bịnh suy thoái tế
bào khác như bịnh tim mạch, tiểu đường, thấp khớp, suyễn
và dị ứng thường phát sinh bởi sự hô hấp của các tế bào
bị rối loạn. Triệu chứng thường thấy là sự mệt mỏi, tính
miễn nhiễm kém và sau cùng là bệnh tật phát sinh.
Nước cốt trái
cây tươi có khả năng hồi phục sự hô hấp của các tế bào
bịnh và gia tăng đặc tính miễn nhiễm của cơ thể. Hiện
nay, các chuyên gia dinh dưỡng (nutritionist) khuyến
khích chúng ta nên ăn các loại rau cải có nhiều sinh tố
C và chất caroten. Nguyên tố caroten này sau khi hấp thụ
vào cơ thể sẽ được chuyển hóa thành sinh tố A. Những
người thường ăn rau trái có hai loại sinh tố A và C ít
có nguy cơ mắc bệnh ung thư hơn. Các thí nghiệm được
thực hiện trên cơ thể của súc vật chứng tỏ sinh tố A có
tác dụng kềm hãm tốc độ phát triển của tế bào ung thư,
còn sinh tố C thì có công hiệu ngăn ngừa sự tạo thành
các ung bướu. Tuy nhiên chúng ta nên sử dụng sinh tố A
thiên nhiên trong hợp chất sinh tố của rau quả là tốt
nhất vì nó không sinh ra các phản ứng phụ. Trong khi
sinh tố A được điều chế bằng hóa chất sẽ chuyển hóa
thành độc tố nếu chúng ta sử dụng lâu ngày với một liều
lượng lớn.
Các nghiên cứu
cũng còn cho thấy những sắc dân nào thường tiêu thụ các
loại rau như cải bắp, cải bông trắng, cải bông xanh
(broccoli) và các loại giá thì ít có nguy cơ bị bịnh ung
thư ruột già. Riêng các loại giá mới nẩy mầm và các loại
hạt cũng rất hữu dụng trong việc phòng chống bịnh ung
thư. Vì khi chúng đã tiêu hóa trong cơ thể sẽ sản sinh
ra hai loại hóa chất cyanide và benzaldehyde. Những tế
bào khỏe mạnh trong cơ thể có khả năng tự bảo vệ và đề
kháng lại với hai loại hóa chất này. Tuy nhiên các tế
bào ung thư trong cơ thể không có khả năng chống lại với
sự tấn công của hai loại hóa chất vừa kể, nên vô hình
trung, hai hóa chất được sản sinh bởi các loại giá đó đã
trở thành là hai nguyên tố thiên nhiên có khả năng tăng
cường sức đề kháng bịnh ung thư một cách hữu hiệu. Vì
vậy nước cốt rau trái vừa mới vắt xong chứa nhiều sinh
tố và enzymes khỏe mạnh là nguồn sinh lực dồi dào và
thiên nhiên rất hữu ích cho sức khỏe của mọi người.
Ngoài ra, thức
uống được tinh chế bằng nước cốt của rau quả cũng còn
công hiệu làm giảm thiểu các loại chất béo trong cơ thể.
Thí nghiệm cho biết các thức ăn chứa nhiều chất béo động
vật là nguồn gốc phát sinh một số bịnh tật nguy hiểm như
bịnh tim mạch và bịnh ung thư. Trong số đó bịnh ung thư
ruột già và bịnh ung thư nhũ hoa là đáng kể nhất trong
thế giới văn minh hiện nay.
Tóm lại nước
cốt rau trái có khả năng thanh tẩy các độc tố tích lũy
lâu ngày trong cơ thể. Nó cũng còn có khả năng quân bình
sự hiện hữu của hai chất potassium và sodium, hủy diệt
các acids độc, gia tăng chất alkaline và duy trì sức
khoẻ của con người. Nó cũng là chất dinh dưỡng thích hợp
của tế bào bằng cách cung cấp nhiều oxy và năng lượng
cần thiết để cho các tế bào có đủ sức mạnh phòng ngừa
các loại bệnh tật.
Bài X: Bồi
Dưỡng Sức Khỏe
Bằng Năm Loại Nước Trái
Cây và Rau Cải
(Dịch từ nguyên bản Anh
ngữ do ông Nguyễn Phú Hữu ở Bankstown tặng)
1.- Rau Cần Tây (Celery): Làm ngon ăn, hạ huyết
áp, loại trừ chất mỡ trong máu, giảm cân, lợi tiểu, trừ
các loại sạn, làm chắc răng, điều hòa hệ thống tiêu hóa
trong cơ thể.
2.- Dưa Leo (Loại nhỏ trái, Chinese cucumber):
thanh lọc máu, hạ huyết áp, trừ chứng khát nước, làm
giảm các trường hợp bị viêm và gia tăng khả năng biến
chất (metabolism) của cơ thể.
3.- Ớt Bị (Loại không cay: Red or green bell
pepper, Capsicum): thanh lọc gan bị nhiễm trùng, làm
sạch đường ruột khi bị nhiễm trùng, tẩy trừ các loại
mốc, làm cho xương và bắp thịt được rắn rỏi, làm phai
các vết thâm trên da, làm giảm sưng đau và chữa lành mụn
nhọt. bổ phổi.
4.- Trái Khổ Qua hay Hủ Qua ( Chinese bitter
cucumber): làm giảm các trường hợp bị viêm, giảm khát
nước, làm cho ngon ăn, giải độc, giảm sưng đau và mụn
nhọt, trị chứng tay chân bị lạnh, bổ não ninh thần và
làm sáng mắt.
5.- Trái Bôm hay trái Táo Tây (Apples, lựa loại
lớn trái): Bồi bổ bao tử, giúp củng cố tinh thần, hệ
thống tiêu hóa tốt, giảm đau nhức bắp thịt, trừ chứng
trầm cảm (Depression), giảm chứng xuất mồ hôi bất bình
thường, làm nhuận trường nên trị được chứng táo bón, cải
thiện làn da được xinh đẹp.
Phân lượng:
- Rau cần Tây: 2 bẹ lớn
- Dưa leo gọt vỏ sạch: 1/4 trái
- Ớt bị lấy sạch hột: 1/2 trái
- Khổ qua lấy sạch hột: 1/4 trái
- Trái bôm hay táo Tây: 1 trái, gọt vỏ
*Lưu ý: Nên dùng các loại rau trái còn tươi tốt.
Cách điều chế: Rau trái phải được rửa thật sạch,
để chung với nhau rồi dùng một cái máy ép vắt nước trái
cây (juicer) để lấy một thành phần nước cốt 500 phân
khối (500cc) cho một người bình thường. Khi bị bịnh,
liều lượng có thể tăng đến 800 phân khối cho một người
lớn. Nên nhớ không được chế thêm nước, đường hoặc pha
chế thêm các thành phần thức uống khác.
Cách dùng: Uống vào lúc buổi sáng khi bụng còn
đói, rồi một lát lâu sau mới ăn điểm tâm thì kết quả hữu
hiệu hơn. Ðừng cho thêm thành phần khác vào nước cốt vì
sợ giảm hiệu năng của thuốc. Sau khi điều chế xong, phải
uống nước rau trái này trong vòng 15 phút. Vì để lâu sẽ
mất công hiệu. Mỗi ngày chỉ cần uống một lần.
Chủ trị: Thuốc này chữa được cả hai chứng huyết
áp cao hay thấp, bịnh trầm cảm (depression), bịnh tiểu
đường, trí nhớ kém, bịnh gan các loại, đau răng, chứng
phì mập, táo bón, tiểu tiện nhiều, chứng mất ngủ, các
chứng bịnh về mật, bắp thịt sưng đau, đau bao tử, nhức
đầu, phong thấp, dổ mồ hôi trộm (bất bình thường), bịnh
trĩ, bịnh phổi, bịnh của mắt, thận nhiễm trùng, sạn
thận, bịnh ngoài da và đặc biệt có khả năng chữa lành
một số bịnh ung thư.
Kinh nghiệm:
Một nhà văn ở Nhật Bản 76 tuổi, bị bịnh ung thư, đã được
giải phẫu hai lần, mạng sống như chỉ mành treo chuông,
đã uống thuốc này đều đặn trong vòng bốn tháng đã lành
bịnh.
Một nhà văn khác của Nhật Bản 74 tuổi, bị bịnh ung thư,
nằm bịnh viện đến hai lần. Sau khi xuất viện, đã dùng
nước trái cây này để trị trong vòng 3 tháng đã hoàn toàn
bình phục.
Ông Yamaisgiskai, 47 tuổi, bị viêm da và cả chứng đau
lưng nữa, đã dùng nước trái cây này để chữa trong vòng 3
tháng liền đã khỏi bịnh.
Ông Morita, 76 tuổi, bị nhức đầu kinh niên, nằm trên
giường khi ngồi đậy rất khó khăn, uống nước trái cây này
trong vòng 3 ngày, đã ngồi dậy được dễ dàng và có thể đi
quanh quẩn ở trong nhà. Ông vẫn tiếp tục dùng thức uống
này, nay đã hoàn toàn khỏi hẳn và rất khỏe mạnh.
Ông Tenwoo, 65 tuổi, bị bịnh tiểu tiện thường và bị trĩ,
uống nước này trong 10 ngày đã khỏi bịnh.
Những người bị bịnh táo bón kinh niên, kiên trì dùng
nước rau trái này trong vòng 10 ngày sẽ thấy hiệu
nghiệm.
Bài XI: Rau
Má Và Bệnh Thấp Khớp
(Trích dịch từ nguyên bản
Anh ngữ của Báo The Northern Stars trong quyển Arthritis
and Paradoxycal Pennywort của ông Russ Maslen, do ông
Thượng Công Huân ở Mount Pritchard tặng)
Lời
người viết
: Tháng 12 năm 2003 vừa qua, Trong chương trình phóng sự
hàng ngày The Current Affair của đài truyền hình số 9
tại Sydney có tường thuật một số người Úc đã tự chữa
bịnh thấp khớp bằng loại thảo dược dân gian cổ truyền
(folk medicine) . Mỗi ngày chỉ cần nhai hai lá rau má
tươi và nuốt sống, một thời gian sau, bịnh thấp khớp có
thể giảm bớt hoặc bình phục. Các bài tường thuật này
trùng hợp với tài liệu trong sách Arthrtis and
Paradoxical Pennywort (Bịnh thấp khớp và lá rau má) của
tác giả Russ Maslen, nên chúng tôi xin trích dịch một
đoạn trong quyển sách ấy để cống hiến quý độc giả tham
khảo.
“Rus Maslen ở tại vùng Mullumbimby tin tưởng rằng ông
đã tình cờ khám phá ra loại rau cỏ có thể chữa được
chứng phong thấp của ông.
Nếu câu chuyện nhai mỗi ngày 2 lá rau má, một loại rau
cỏ tầm thường mọc hoang dã khắp nơi trên đất Úc có thể
làm giảm đau và chữa lành hàng ngàn bịnh nhân của chứng
thấp khớp là sự thật thì đó là một chuyện hi hữu. Rau má
còn có tên là Centella và thông thường người ta gọi nó
là Swamp Pennywort.
Ðây là một loại rau bò sát mặt đất mọc hoang dã tại miền
Bắc tiểu bang Queensland chạy dài tận tiểu bang Tây Úc
(Western Australia) và kể cả tiểu bang hải đảo Tasmania
nữa.
Ông Russ và bà vợ của ông đã được nổi danh vì là những
người khởi xướng và thành lập công viên bảo tồn di sản
thiên nhiên Brunswick Valley trên một đồng cỏ sỏi đá
rộng 4 mẫu tây tọa lạc đối diện với ngôi nhà của ông bà
ở Mullumbimby.
Khi khởi sự vào công tác thành lập, đã có khoảng 12
người tình nguyện phụ giúp. Nhưng con số này dần dà giảm
thiểu, rồi vài năm sau đó chỉ còn lại võn vẹn có hai vợ
chồng ông Russ và bà Beryl săn sóc công viên ấy mà thôi.
Chỉ có những cây cối bản xứ ở những địa phương như
Tweed, Bruswick và thung lũng Richmond, khoảng 400 chủng
loại, được phép trồng ở công viên này. Và nơi đây nghiễm
nhiên đã trở thành địa phương bảo tồn thảo mộc, trong số
đó có vài loại hiện nay được tìm thấy rất hiếm.
Vào tháng 7 năm 1989, một khách phương xa đến viếng công
viên, thấy ông Russ đang nhổ cọng rau má bò sát mặt đất
dưới bóng mát của một tàng cây lớn, bèn dừng lại nói
chuyện với ông. Người đàn ông này đề cập huyên thuyên về
chuyện ông Russ đã vô tình cắt bỏ đi loại cỏ dại mà theo
ông ấy là “một thứ dược thảo quan trọng” . Rồi
sau đó diễn tả về hình dáng và đặc tính của loại rau
này.
Ông nói tiếp : “Mỗi người chỉ cần nhai và nuốt hai lá
rau má liên tục, chỉ hai lá chớ không phải một hoặc ba,
thì trong một thời gian sau có thể chữa lành hoặc giảm
bớt được bịnh thấp khớp”. Ông Russ lúc đó không thấy
hứng thú về dược thảo nên không màng để ý và chỉ ít lâu
sau đã quên phứt câu chuyện mà người khách phương xa đã
nói.
Một tháng sau, trong khi đang sửa soạn cho buổi ăn trưa,
Beryl đã than là không còn có thể đeo chiếc nhẫn cưới
vào ngón tay được nữa. Các ngón tay đều đau nhức, đặc
biệt là các ngón của bàn tay trái. Ông Russ bảo: “Những
tiếng bực mình gắt gỏng luôn luôn xảy ra trong nhà bếp.
Tôi đã bảo về việc người đàn ông nọ đã miêu tả về sự hữu
dụng của cây rau má. Nhà tôi tin ngay và mỗi ngày đã
nhai hai lá một cách thường xuyên như đã được chỉ dẫn.
Ðến tháng 11 năm đó, Beryl đã đeo chiếc nhẫn cưới vào
ngón tay trở lại được như xưa, các ngó tay khác thì
không còn bị quặp xuống và đau nhức nữa. Ðồng thời những
tiếng bực mình không còn được nghe thấy xảy ra trong nhà
bếp, chẳng hạn như những tiếng than đau nhức về các ngón
tay” .
Ðến tháng Tư năm sau, ông Russ đi khám bịnh đã được xét
nghiệm thấy bị viêm khớp ở các đốt xương cổ, nên thường
hay cảm thấy đau nhức. Ông cũng bắt đầu nhai hai lá rau
má mỗi ngày để tự chữa như vợ ông. Chỉ ba tháng sau, các
triệu chứng của bịnh viêm khớp không còn nữa.
Thấy rau má quả thật có hiệu nghiệm trong việc chữa trị
một số các chứng bịnh thấp khớp. Ông Russ cảm thấy phấn
khởi, nên đã bứng trồng vào các chậu nhỏ để tặng cho bà
con và bạn bè bị cùng chứng bịnh như ông. Tiếng đồn lan
xa. Sau đó rất nhiều người đến từ khắp nơi đổ xô về công
viên này để hỏi han về cây Rau Má.
Ngoài ra ông cũng nhiệt tâm và cố gắng phổ biến cho
những người đồng bịnh ở các tiểu bang khác về cách trị
liệu đặc biệt này. Theo ông cho biết, đã có 15 bịnh nhân
bịnh thấp khớp chỉ nhai hai lá rau má mỗi ngày, sau ba
tháng, đã hoàn toàn bình phục hoặc thuyên giảm một cách
rõ rệt gần như đã dứt hẳn. Mặc dầu cây Rau Má có công
hiệu thực sự trong việc chữa trị bịnh thấp khớp, nhưng
sự kiện này chưa được thử nghiệm và chứng minh bằng
phương pháp khoa học. Nó cũng không gây được sự hứng thú
để người ta làm một cuộc thử nghiệm như vậy. Ông Russ
Maslen bảo rằng ông đã viết thư cho Phân Khoa Y Học của
trường Ðại Học Monash ở Melbourne và Quỹ Giúp Ðỡ Bịnh
Nhân Phong Thấp (Arthritis Foundation) tại Sydney nhằm
cố gắng thuyết phục họ đưa vào chương trình nghiên cứu
để chữa bịnh lâm sàn. Nhưng cho đến giờ phút này, ông
không nhận được một sự phúc đáp nào. Ông buồn và bảo: “Tôi
nói bằng sự thật, qua kinh nghiệm, rau má chữa được bịnh
thấp khớp; nhưng tôi không có gì để chứng minh. Nếu nó
không công hiệu thì tôi đã thành thật bảo nó không công
hiệu rồi” .
Ông tiếp: “Hiện thời tại nước Úc, đã có hơn một triệu
sáu trăm ngàn bịnh nhân bị bịnh thấp khớp, và việc chữa
trị bằng phương pháp này nếu được chấp thuận cũng góp
phần đáng kể. Nhưng tôi đã đủ cay đắng mà nghĩ rằng, bởi
vì Rau Má là một loại cỏ hoang dại, tầm thường và không
mất tiền mua, nên không ai màng đến việc thử nghiệm nó.
Theo tôi, nếu nó được thí nghiệm và được công nhận có
công hiệu đàng hoàng thì người ta cũng có thể hái ra
tiền trên loại rau cỏ hoang dại này”.
Xin lưu ý
: Mỗi ngày nhai hai lá rau má để trị bịnh thấp khớp
là liều lượng trung bình. Không nên sử dụng quá liều
trong một thời gian lâu dài vì nó có thể làm hạ huyết
áp.
Bài XII: Cây Thuốc
Kỳ Diệu
“Cây Hoàn Ngọc Hay Nhật
Nguyệt”
(Nguyên bản Việt ngữ của
Giáo sư Phạm Khuê, do ông Nguyễn văn Cứng ở Melbourne
gởi tặng)
Từ một hiệu quả điều trị cho một bệnh nhân bị ung thư
gan, sau khi các loại thuốc đã bó tay, khi được ăn những
lá tươi xanh người bệnh đã có những chuyển biến bất ngờ.
Nhiệt độ từ 39,5 độ C hạ xuống còn 37 độ, cơn đau chưa
hẳn, nước da bớt vàng, bụng nhỏ lại, người nhẹ nhàng,
bệnh nhân có thể ngồi dậy tiếp chuyện.
Cái gì có khả năng làm chuyển bệnh nhanh như vậy, biểu
hiện công hiệu của thuốc như sau:
Sau khoảng từ 20 phút đến một giờ thuốc có tác dụng. Nếu
ăn 5 lá giảm đau được 3 giờ, 7 lá giảm đau được 5 giờ,
tương đương với một liều thuốc đặc trị.
Thực tế ấy làm cho gia đình người bệnh ngạc nhiên, phấn
khởi nhưng với lòng luyến tiếc bởi nếu dùng thuốc sớm
hơn thì kết quả có thể hy vọng cứu được người bệnh.
Dùng lá trong lúc bệnh tình đã đến giai đoạn cuối nhưng
gây được chuyển biến như vậy thì thật tuyệt vời. Ðó là
cây “Hoàn Ngọc”, Cây thuốc cực kỳ quý giá. Một món quà
thiên nhiên tặng cho con người. Xuất xứ cây này được gọi
là cây “con khỉ” vốn là vì khỉ ăn chữa khỏi bệnh thủng
ruột, nhưng sau đổi thành “Hoàn Ngọc” vì đã trả lại cho
chú bé hòn dái bị biến mất do trò chơi nghịch đá vào bìu
nhau.
Cây thuốc rất đa năng. Từ hồi phục trạng thái của cơ thể
khỏe mạnh đến các bệnh thông thường cũng như hiểm nghèo.
Cây thuốc như cứu tinh trong nhiều trường hợp thúc bách,
không rõ nguyên căn, nhưng sau khi ăn, diễn biến của
bệnh tương tự như một hành động điều trị, điều chỉnh
trạng thái cơ thể, chỗ nào yếu điều trị chỗ đó.
Có thể nêu cụ thể tác dụng cây thuốc như sau:
1.
Khôi phục sức khỏe cho người ốm yếu, mệt mỏi,
người già, suy nhược thần kinh, làm việc quá sức, khủng
hoảng về tinh thần và thể lực.
2.
Cảm cúm nhiệt độ cao, rối loạn tiêu hóạ
3.
Chấn thương chảy máu, dập gãy cơ thể, dùng như
nước uống và thuốc đắp. Ðặc biệt hiệu nghiệm với vết
thương sọ não.
4.
Khi bị nhiều bịnh một lúc như: Bệnh đường ruột,
cảm cúm, gan, thận . . .
5.
Ðau dạ dầy, chảy máu đường ruột, lở loét hành lá
tràng, viêm loét đại tràng, trĩ nội.
6.
Ðau gan sơ gan cổ trướng.
7.
Viêm thận, viêm đường tiết niệu, đái ra máu, đái
buốt, đái dục, đái gắt, bìu đau nhức. Sau khi uống hoặc
ăn 150 lá đến 200 lá khỏi hẳn, tràn dịch màng phổi đều
tốt.
8.
Ðau bên trong không rõ nguyên nhân.
9.
Ðau mắt đỏ, mắt trắng, đau ứ máu.
10.
Phụ nữ đang cho con bú bị sa dạ con cũng ăn lá
thuốc không ảnh hưởng gì đế sữa.
11.
Ðối với người có bệnh huyết áp cao hoặc thấp ăn
lá thuốc đều có hiệu quả, ổn định được thần kinh, rối
loạn thần kinh thực vật đều chữa khỏi.
12.
Có thể dùng cho chó Nhật như đẻ một ngày cho ăn
lá sạch ngaỵ Gà chọi sau khi chọi cho ăn lá nó khôi phục
sức gấp 3 lần.
Theo tôi dùng chữ “thần dược” với cây thuốc nầy cũng
không quá , là một nhà nghiên cứu tôi muốn đặt câu hỏi
tại sao? để chúng ta bàn luận. Tại sao khi ăn thuốc có
khả năng hiệu chỉnh làm cơ thể ổn định ? có lẽ nhờ phân
tích hóa chất gì đó đã tạo nên những hiệu quả như vậy.
Chúng ta tốn rất nhiều thời gian và phải có thí nghiệm
tốt. Theo kinh nghiệm trong dân gian, ta hãy rút ra từ
thực tế. Ví dụ: Suy nhược thần kinh nặng, huyết áp cao,
huyết áp thấp, đái ra máu, đái gắt đều chữa được rất
nhanh chóng có những bệnh xem như đối lập nhau cho một
loại thuốc nhưng ngược lại thuốc vẫn chữa được phải chăn
theo quy luật bảo toàn, cơ thể con người có khả năng bảo
tồn lấy sức khỏe nên đã tự động tăng sức đề kháng hoặc
tự điều chỉnh, tự cân bằng tương đối để thắng bệnh tật.
Do đó hầu hết các bệnh đều tự khắc phục được. Ở đây, khi
ta dùng “Hoàn ngọc”, lá thuốc này có tác dụng chữa bệnh
như châm cứu, tức là tự động điều chỉnh lại cơ thể nhưng
hoàn toàn tự động hoá để khắc phục bệnh tật do tự tác
dụng, tự cân bằng âm dương. Vì vậy cây cỏ có tên là
“Nhật Nguyệt”. Chính vì thế mới có khả năng chữa nhiều
bệnh cùng một lúc như vậy. Chính từ những suy nghĩ đó,
chúng tôi đã vận dụng để chữa được rất nhiều bệnh và
phục hồi sức khỏe. Tuy nhiên với từng người còn phải có
liều lượng cho phù hợp do tính chất cân bằng âm dương và
hàn nhiệt của từng người.
Về hình thức cây thuốc:
Ðây là loại cây lá dài nhọn, mặt sau hơi nhạt, hình lá
tương tự màu cây, cây cứng không có hoa, cây có lá mọc
đối xứng, kẻ lá chồi cành cây chúc ngược lên, lá nó
không bền mà chỉ vàng một chút là rụng ngay. Cây có sức
sống khỏe như cành mọc thẳng, nhân giống chủ yếu bằng
ngọn cây cắm xuống đất.
Cách dùng và liều lượng:
-
Người ta dùng lá tươi là chủ yếu, lá tươi ăn ngay
hoặc lấy nước uống, nấu chín lá ăn như canh.
-
Do tác dụng chủ yếu là chất nước trong lá, nên vỏ
cây hoặc vỏ rễ có thể ngâm bằng rượu hoặc nấu lấy nước.
Lá tươi không có mùi vị dể ăn, liều lượng nhiều hay ít
tùy thuộc vào từng người. Thông thường nên ăn từ 1- 7 lá
và ăn nhiều lần. Mỗi lần không quá 10 lá. Uống quá liều
có thể phản ứng nhẹ như người bị choáng váng nhưng chỉ
sau 10 – 15 phút là khỏi.
-
Các số liệu sau đây là phổ biến: (trừ ngoại lệ)
-
Ðau dạ dầy do bị loét, viêm: ăn 2 lần/ngày. Mỗi
lần không quá 7 lá. Khoảng 50 lá là khỏi.
-
Chảy máu đường ruột: Uống lá tươi hoặc lá đã nát,
dùng 7–10 lá. Khoảng 1-2 lần là khỏi.
-
Viêm đại tràg co thắt: Ăn như trên 100 lá, kết
hợp ăn lá mơ lông trong bữa ăn. Ăn từ 1 đến 2 tháng.
-
Viêm gan, sơ gan cổ trướng: Ngày ăn 2-3 lần, mỗi
lần 7 lá dùng khoảng 150 lá.
-
Ðau thận, viêm thận, đau thường xuyên: Dùng không
quá 50 lá, chỉ khoảng 30 lá là dứt cơn đau, ngày 3 lần,
mỗi lần 3-7 lá.
-
Tả lỏng, đi lỵ, rối loạn tiêu hóa: 7-15 lá, dùng
2 lần là khỏi.
-
Mệt mỏi toàn thân: 3-7 lá, ăn 2 lần.
-
Ðái gắt, đái buốt, đái dục, đái ra máu: Ăn từ
14-21 lá hoặc dã nát uống nước đặc.
Chữa bệnh gà dùng 1-3 lá, gà chọi sau khi chọi 1-3 lá.
Chó cảnh đẻ ăn 1 lá sau 1 ngày đẻ là mạnh ngay. Ðau mắt
đỏ, mắt trắng, ứ máu trong mắt lấy 3 lá đắp vào mắt sau
một đêm là khỏi.
Làm thuốc là để tự cứu lấy mình và cứu người khi có điều
kiện. Ðây là những kinh nghiệm của bản thân tôi, tôi
không dám phổ biến sợ người hiểu biết hơn cho là hồ đồ.
Song nếu các bạn thu kết quả gì đó thì lấy đó làm kinh
nghiệm. Mặt khác khi thu được kinh nghiệm thì nên trao
đổi.
Bài
XIIIL: Bí quyết sống lâu và sống khỏe
Bài nói chuyện của GS. Tề
Quốc Lực tại Trung Quốc
(Nguyên bản Việt Ngữ do
GS. Phan văn Các dịch và do Luật Sư Ðinh Sĩ Trang ở
Brisbane gởi tặng)
Lời giới thiệu: Giáo sư Tề Quốc Lực là
một người Mỹ gốc Hoa. Ông đã từng làm việc cho Tổ chức y
tế thế giới (WHO) nhiều năm. Mới đây ông được Bộ y tế
Trung Quốc mời về Bắc Kinh nói chuyện về sức khỏe. Bài
nói chuyện của ông được công chúng hoan nghênh và đã
được đăng tải trên nhiều tờ báo của Trung Quốc...
Để giúp bạn đọc tham khảo, tiếp cận thông tin y học
mới, chúng tôi xin giới thiệu bài nói chuyện của giáo sư
Tề Quốc Lực do giáo sư Phan Văn Các lược dịch.
Hiện nay tuyệt đại đa số là chết vì bệnh, rất ít người
chết vì già. Lẽ ra phải tuyệt đại đa số chết già, còn
thiểu số chết bệnh. Hiện tượng cực kỳ bất bình thường
này đòi hỏi chúng ta mau chóng sửa chữa.
Gần đây Liên hợp quốc biểu dương nước Nhật Bản vì tuổi
thọ của họ đạt quán quân (hạng nhất) trên thế giới. Tuổi
thọ bình quân của nữ giới ở họ là 87,6 tuổi, còn ở Trung
Quốc chúng ta vào thập kỷ 50 là 35 tuổi, thập kỷ 60 là
57 tuổi, hiện nay là 67,88, kém Nhật Bản đúng 20 tuổi.
Kinh nghiệm của Nhật Bản là lấy xã khu làm đơn vị, mỗi
tháng giảng bài một lần về giữ gìn sức khỏe, ai không
đến nghe thì phải học bù. Chúng ta không có chế độ đó,
ai muốn nghe thì nghe, không nghe thì thôi. Sau khi về
nước, tôi đã hỏi nhiều người rằng nên sống bao lâu? Có
người bảo tôi năm sáu chục tuổi là tạm được rồi, điều
này chứng tỏ tiêu chuẩn của chúng ta quá thấp. Đại bộ
phận họ không hề biết gì đến giữ gìn sức khỏe, sống được
sao hay vậy, vấn đề rất nghiêm trọng. Tôi đã công tác ở
bệnh viện 40 năm, tuyệt đại bộ phận người chết bệnh là
rất đau khổ. Tôi đến đây mục đích rất rõ ràng, tôi được
sự ủy thác khoa học, tuân theo chỉ thị của Bộ y tế, mong
rằng mọi người đều coi trọng công tác giữ gìn sức khỏe.
Thật ra trên thế giới, người ta họp ở Vic-tô-ri-a có ra
một tuyên ngôn, tuyên ngôn này có 3 cái mốc, mốc thứ
nhất gọi là ăn uống cân bằng, thứ hai gọi là vận động có
ô-xy, thứ ba gọi là trạng thái tâm lý.
1. Dưới đây xin nói vấn đề thứ nhất, ăn uống cân
bằng.
Có lẽ có người từ lâu đã nghĩ rằng giữ gìn sức khỏe thì
có gì mà phải nghe, lại chẳng qua ngủ sớm dậy sớm khỏe
người chứ gì. Tôi xin thưa với bạn, ở thời nhà Đường thì
có thể nói vậy, chứ ngày nay nói vậy thì cực kỳ thiếu
hiểu biết, có nhiều điều đã thay đổi. Nói ăn uống cân
bằng, có hai chuyện là ăn và uống.
Trước hết nói về uống .
Khi ở Đại học Bắc Kinh, tôi hỏi sinh viên: Đồ uống nào
tốt nhất? Sinh viên đồng thanh trả lời: Côca Côla. Côca
Côla, Mỹ không thừa nhận, quốc tế cũng không thừa nhận,
nó chỉ có thể giải khát, chứ không có bất cứ tác dụng
nào cho giữ gìn sức khỏe. Sản phẩm bảo vệ sức khỏe là
gì, mọi người nên biết, nó phải có khả năng chữa bệnh.
Cho đến bây giờ tuyệt đại bộ phận người Trung Quốc chúng
ta còn chưa biết thế nào là sản phẩm bảo vệ sức khỏe.
Ở các hội nghị quốc tế người ta đã định ra 6 loại đồ
uống bảo vệ sức khỏe:
-Trà xanh;
- Rượu vang đỏ;
- Sữa đậu nành;
- Sữa chua (người ta không nói sữa bò nói chung, bạn nên
chú ý);
- Canh xương;
- Canh nấm.
Vì sao nói canh nấm? Vì canh nấm có thể nâng cao công
năng miễn dịch. Một văn phòng có người luôn bị cảm, có
người không ốm bao giờ, vì sao vậy? Vì công năng miễn
dịch khác nhau. Uống canh nấm có thể nâng cao sức miễn
dịch, cho nên đó là sản phẩm giữ gìn sức khỏe.
Vì sao nhắc đến canh xương? Trong canh xương có chất
uyển giao (một chất keo), uyển giao kéo dài tuổi thọ,
cho nên hiện nay trên thế giới các nước đều có phố canh
xương, nhưng Trung Quốc chưa có. Chúng tôi đã điều tra,
gần đây ở các thành phố Tô Châu, Nam Kinh có rồi, Bắc
Kinh vẫn chưa có. Cho nên đừng coi thường canh xương, nó
có thể kéo dài tuổi thọ, vì có uyển giao.
Vì sao nhắc sữa chua? Vì sữa chua duy trì cân bằng vi
khuẩn. Nói cân bằng vi khuẩn được duy trì có nghĩa là vi
khuẩn có ích thì sinh trưởng, vi khuẩn có hại thì tiêu
diệt, cho nên ăn sữa chua thì có thể ít mắc bệnh. Ở châu
Âu, sữa chua rất phổ biến, nhiều cô gái chúng ta thích
ăn sữa chua, nhưng họ không hiểu vì sao. Chúng tôi rất
lấy làm lạ, lượng tiêu thụ sữa chua của Trung Quốc rất
thấp, còn lượng tiêu dùng sữa bò lại rất lớn. Bản thân
sữa bò, chúng tôi không phủ định tác dụng của nó, nhưng
nó kém xa sữa chua. Còn sữa đậu nành, sẽ nói sau.
Bây giờ nói vì sao uống trà xanh.
Ngày nay rất nhiều người biết uống trà, nhưng thanh niên
ít uống. Vì sao trà xanh có tác dụng bảo vệ sức khỏe?
Nguyên nhân trong trà xanh có chứa chất trà đà phân , mà
trà đà phân có thể chống ung thư. Nhật Bản làm tổng điều
tra rất tốt. Sau tổng điều tra, họ nói người trên 40
tuổi chẳng ai không có tế bào ung thư trong cơ thể. Vì
sao có người mắc ung thư, có người không? Điều này có
liên hệ tới việc uống trà xanh. Nếu anh uống mỗi ngày 4
chén trà xanh, thì tế bào ung thư không chia cắt, mà dù
có chia cắt cũng muộn lại 9 năm trở lên. Cho nên ở Nhật
Bản, học sinh tiểu học hàng ngày đi học đều uống một vài
chén trà xanh.
Thứ hai xin chú ý, trong trà xanh có chứa fluor, nó
chẳng những có thể làm bền răng, mà còn chữa được sâu
răng, diệt vi khuẩn. Sau bữa ăn 3 phút, đốm khuẩn răng
đã xuất hiện. Hiện nay rất nhiều người chúng ta răng
không tốt, chẳng những không súc miệng bằng nước trà, mà
nước trắng cũng không; Vì thế nên có người mới 30 tuổi
đã bắt đầu rụng răng, 50 tuổi thì rụng hết.
Thứ ba, bản thân trà xanh chứa chất trà cam ninh , chất
này nâng cao độ bền huyết quản, khiến huyết quản khó vỡ.
Rất nhiều người bị mạch máu não bất ngờ đến Bắc Kinh
chữa, trong bệnh viện cứ 4 người chết thì có 1 người
xuất huyết não. Xuất huyết não thì chưa có cách chữa, kỵ
nhất là tức giận, hễ tức giận đập bàn trợn mắt, mạch máu
não đứt ngay. Các vị ạ, đến tuổi các vị nên uống sớm đi,
đến lúc các vị có đập bàn trợn mắt vài cái thì cũng
không lo.
Trong các đồ uống, đứng thứ hai là rượu vang đỏ.
Vốn là trên vỏ quả nho đỏ có một thứ, gọi là nghịch
chuyển thuần (cồn chuyển ngược). Chất này có tác dụng
chống suy lão, còn là thuốc chống ôxy hóa, người hay
uống vang đỏ thì ít mắc bệnh tim. Thứ hai, nó có thể
giúp ta phòng ngừa tim đột nhiên ngừng đập, chúng ta gọi
là ngừng đột ngột. Trong trường hợp nào tim có thể ngừng
đập?
Một là vốn có bệnh tim, hai là tăng huyết áp, ba là mỡ
máu cao. Mấy hôm trước tôi đến Trường đại học sư phạm
hội chẩn, một vị sau tiến sĩ mới 35 tuổi, buổi sáng còn
chạy nhảy tưng tưng, trưa đã chết rồi. Vì sao? Mỡ máu
quá cao. Bây giờ tôi xin báo cho các vị kết quả tổng
điều tra của thành phố Bắc Kinh, cán bộ tại chức cứ 2
người thì có một người mở máu cao, tỷ lệ là một phần
hai.
Mỡ máu cao nguy hiểm ở chỗ nào? Tim có thể đột nhiên
ngừng đập. Có một chàng trai 20 tuổi, máu của cậu ta lấy
ra có dạng bùn, hết sức nguy hiểm. Chúng tôi hỏi cậu ta,
cậu ta bảo ăn tốt quá. Không phải cậu ta ăn tốt quá mà
là ăn quá bất hợp lý. Chúng tôi có một ca bệnh: một
người mua một chiếc bánh ga-tô lớn ở ngoài phố, vừa
cứng, vừa dẻo, vừa nóng, chạy về nhà vào đến cửa liền
bảo bà cụ ăn ngay kẻo nguội, bà cụ vừa ăn được mấy miếng
thì tắt thở. Anh ta cõng bà cụ chạy đến bệnh viện, đến
nơi chúng tôi hỏi có chuyện gì, anh ta kể lại đầu đuôi.
Thế chẳng phải chết vì thiếu hiểu biết đó sao? Không cứu
được.
Rượu vang đỏ còn có một tác dụng nữa là hạ huyết áp, hạ
mỡ máu. Vang đỏ có mấy tác dụng lớn như thế, nên ở nước
ngoài bán rất chạy. Tôi không quảng cáo tiếp thị cho
vang đỏ đâu, tôi chỉ truyền đạt tinh thần của hội nghị
quốc tế. Nhiều người sẽ hỏi: chẳng phải cấm rượu sao? Tổ
chức y tế thế giới nói rằng cai thuốc lá, hạn chế rượu ,
chứ có nói cấm rượu đâu, hơn nữa còn nói rõ hạn lượng
rượu: rượu vang nho mỗi ngày không quá 50-100cc, rượu
trắng mỗi ngày không quá 5-10cc, bia mỗi ngày không quá
300cc. Nếu anh vượt quá khối lượng đó thì sai lầm, không
quá lượng đó thì tốt.
Có một nữ sĩ hỏi: Tôi không biết uống rượu thì làm thế
nào? Chị không biết uống rượu, há lại không biết ăn nho
sao? Ăn nho há lại không thể ăn cả vỏ sao? Nhưng nho
trắng không có nghịch chuyển thuần , bạn ăn cũng vô ích.
Bây giờ ở châu Âu đã có bánh ngọt bằng nho đỏ rồi. Tôi
đã thử rồi, nho đỏ rửa sạch đi mà ăn, nuốt cả vỏ rất
thích, chả sao cả. Cho nên người có tiền uống vang đỏ,
người không có tiền ăn nho đỏ không bỏ vỏ đều giữ được
sức khỏe như nhau. Còn có người bắt bẻ tôi. Tôi không có
tiền thì làm thế nào? Tôi xin nói với các bạn, ở hội
nghị quốc tế người ta đã điều tra rồi, các khu vực
trường thọ trên toàn thế giới đều ở vùng ít tiền, thứ
nhất là ở Ai-rơ-han thuộc Pakistan, thứ hai là
A-zéc-bai-zan của Liên Xô (cũ), và Kha-la-han ở
Ê-qua-đo, đều là những vùng nghèo. Như vậy thì có lạ
không? Kẻ có tiền ngày ngày nhậu nhẹt tiệc lớn nhỏ, gà
vịt thịt cá, thì đều bụng phệ, bằng đầu bằng đuôi. Tôi
đã điều tra rồi, những người như vậy rất ít người sống
được quá tuổi 65.
Về vấn đề tập thể dục buổi sáng, tôi thấy rất nhiều ông
già, bà già 5, 6 giờ sáng đã xách bảo kiếm đi ra ngoài.
Đến tối, không thấy các ông các bà nữa, họ đều ở nhà xem
tivi. Đó là vì họ không biết rằng tập luyện buổi sáng
sớm rất nguy hiểm. Sáng sớm dậy, quy luật của đồng hồ
sinh học trong con người là nhiệt độ cơ thể cao, huyết
áp tăng, hơn nữa nội tiết tố thượng thận cao gấp 4 lần
buổi tối, nếu vận động mạnh, sẽ rất dễ xảy chuyện, dễ
làm tim ngừng đập. Tôi không phản đối đi bộ, tập thể
dục, đi Thái cực quyền, luyện khí công buổi sáng sớm.
Điều đó không có gì sai cả. Nhưng nếu người già và người
trung niên sáng sớm vận động mạnh, chạy đường dài, leo
núi, thì chỉ có trăm điều hại, không một điều lợi.
Bây giờ nói đến vấn đề thứ hai trong ăn uống, đó là ăn .
Mọi người nên biết Kim tự tháp châu á là tốt nhất. Kim
tự tháp là gì? Loài cốc, loài đậu, loài rau. Ngũ cốc,
đậu và rau là rất tốt. ở hội nghị San Francisco nhiều
bác sĩ nước ngoài đã nêu ra rằng: Không đúng, người
Trung Quốc bây giờ không ăn ngũ cốc, đậu và rau nữa rồi,
họ đã bắt đầu ăn bánh hăm-bơ-gơ của chúng ta rồi. Tôi về
nước, một lần đến Mắc Đô-nan, bị chen bật ra, anh nói có
ghê không, đó là việc rất hiếm thấy ở nước ngoài. Thanh
niên ta mừng sinh nhật, mở tiệc đều là Mắc Đô-nan. Tôi
rất phục Mắc Đô-nan, một năm người ta lấy đi của chúng
ta hơn 2 tỷ, người ta thật là biết làm ăn. Theo tôi nắm
được, sở dĩ người ta gọi nó là thực phẩm rác, chính vì
nó là một loại thực phẩm kích thích lệch, hậu quả là
người bằng đầu bằng đuôi, cứ như một bó hành lý. Người
ta không ăn vì ăn xong lại phải đi giảm béo. Chúng mình
không biết, ngày nào cũng Mắc Đô-nan, đặc biệt là thế hệ
thứ hai, quả là đến mức không có Mắc Đô-nan không sống
nổi. Chúng ta nên biết đó là thức ăn kích thích lệch,
không phù hợp với tập quán ẩm thực của chúng ta.
Cốc loại
Ở các hội nghị quốc tế người ta xưa nay không nói đến
gạo, bột mì trắng, cũng không nói Mắc Đô-nan. Trong loài
cốc trước tiên nói đến ngô, gọi đó là cây vàng . Lai
lịch của ngô, Hội y học Mỹ đã có điều tra phát hiện rằng
người Mỹ nguyên thủy, người In-đi-an không ai bị tăng
huyết áp, không ai xơ vữa động mạch. Là do họ ăn ngô. Về
sau phát hiện ra trong ngô già có chứa nhiều noãn lân
chi, á du toan, cốc vật thuần, VE, cho nên không xảy ra
tăng huyết áp và xơ vữa động mạch. Từ đó về sau, nước Mỹ
đã thay đổi, châu Mỹ, châu Phi, châu Âu, Nhật Bản, Hồng
Kông, Quảng Châu của Trung Quốc, sáng đều ăn bánh ngô.
Bây giờ nhiều người ăn noãn lân chi để làm gì? Chính là
hy vọng không bị xơ vữa động mạch. Nhưng họ không biết
rằng trong ngô già có rất nhiều, không phải tốn tiền
nhiều.
Tôi đã điều tra ở Mỹ, một bắp ngô 2,5 đô-la, còn ở Trung
Quốc chỉ 1 đồng bạc, chênh lệch nhau 16 lần. Nhưng rất
nhiều người chúng ta không biết, không ăn. Sau lần điều
tra này, tôi lập tức đổi ngay, ở Mỹ tôi đã kiên trì 6
năm húp cháo ngô hằng ngày. Năm nay tôi đã ngoài 70
tuổi, thể lực sung mãn, tinh thần dồi dào, giọng nói
vang vang, đầy khí thế, hơn nữa mặt không có nếp nhăn.
Nguyên nhân nào vậy? Do húp cháo ngô đấy, tin hay không
thì tùy bạn. Bạn cứ việc uống sữa bò, tôi cứ việc húp
cháo ngô, xem ai sống lâu hơn ai.
Loại cốc thứ hai là kiều mạch.
Tại sao nhắc đến kiều mạch? Người ta hiện nay thường có
ba cao , là huyết áp cao, mỡ máu cao, đường máu cao.
Kiều mạch là ba hạ , hạ huyết áp, hạ mỡ máu, hạ đường
máu. Tôi hỏi sinh viên Bắc Đại (Đại học Bắc Kinh) kiều
mạch là gì? Đáp rằng không biết, chỉ biết hăm-bơ-gơ.
Trong kiều mạch có chứa 18% xen-lu-lô, người ăn kiều
mạch không bị viêm dạ dày đường ruột, ung thư trực
tràng, ung thư kết tràng đều không mắc. Trong số những
người ngồi văn phòng mắc bệnh, có đến 20% là ung thư
trực tràng, ung thư kết tràng.
Loại cốc thứ ba là các loại khoai.
Khoai lang trắng, khoai lang đỏ, củ từ, khoai tây. Những
thứ này các hội nghị quốc tế đã nhắc đến. Vì sao? Vì
chúng nó có ba hấp thu : hấp thu nước, hấp thu mỡ và
đường, hấp thu độc tố. Hấp thu nước, làm trơn đường
ruột, không bị ung thư trực tràng, ung thư kết tràng.
Hấp thu mỡ và đường, không mắc bệnh tiểu đường. Hấp thu
độc tố, không mắc chứng viêm dạ dày, đường ruột. Tôi
cũng đã điều tra ở Mỹ, người Mỹ ăn khoai là chế biến
thành các loại bánh, ăn cũng không ít. Mong mọi người ăn
nhiều khoai vào, trong lương thực chính nên có các loại
khoai.
Trong cốc loại còn có yến mạch, nước ngoài đã biết từ
lâu, Trung Quốc rất nhiều người chưa biết. Nếu bị tăng
huyết áp, nhất định phải ăn yến mạch, cháo yến mạch, yến
mạch lát. Nó có thể hạ huyết áp, hạ mỡ máu.
Loại cốc cuối cùng là kê.
Sau khi về nước, tôi hỏi: Vì sao chúng ta không ăn kê
nữa? Nhiều người bảo tôi: Cái thứ đó chỉ đàn bà đẻ mới
ăn! Thật ra Bản thảo cương mục đã nói rất rõ: Kê có thể
trừ thấp, kiện tỳ, trấn tĩnh, an miên, (ngủ yên); ích
lợi lớn như thế mà anh không ăn? Bây giờ rất nhiều người
ngồi văn phòng, đêm mất ngủ, mắc các chứng ức uất, chứng
chức năng thần kinh, có người uống đến 8 viên thuốc an
thần vẫn không ngủ được. Tôi khuyên mọi người đừng uống
nữa. Có 2 giáo sư y học nổi tiếng sau khi uống an thần,
đầu óc tối tăm choáng váng ngã rồi. Tôi đã quan sát kỹ,
người ta ngủ được là nhờ ăn cháo kê. Cho nên giờ đây tôi
đã thay đổi, sáng một bát cháo ngô, tinh thần phấn chấn,
tối một bát cháo kê, ngủ khò khò. Chữa bệnh bằng ăn tốt
hơn chữa bệnh bằng thuốc. Vì sao chúng ta không giải
quyết vấn đề bằng cái ăn, mà cứ nhất định phải dùng
thuốc! Mười thứ thuốc thì chín thứ là độc, chưa từng
nghe nói dùng thuốc để giữ gìn sức khỏe. Tôi cũng phải
nói rõ: tôi không hề phản đối dùng thuốc. Tôi phản đối
uống thuốc bừa bãi, tôi chủ trương dùng thuốc trong thời
gian ngắn, uống thuốc bình yên, nhanh chóng ngừng thuốc.
Dưới đây xin nói về đậu .
Kết quả điều tra của chúng tôi là tất cả dân Trung Quốc
thiếu protein ưu chất. Cho nên chúng ta chơi bóng nhỏ
thì luôn luôn thắng, nhưng chơi bóng lớn thì không
thắng. Vì sao? Trên sân bóng, một cú đá, một cú va chạm
là ngã lộn nhào. Hiện nay tiền thuốc của chúng ta cao
gấp 10 lần của Mỹ, nhưng thể lực không bằng người ta.
Người Trung Quốc thiếu protein ưu chất thì làm thế nào?
Hiện nay Bộ y tế đã đề ra Kế hoạch hành động đậu tương,
nội dung là một nắm rau, một nắm đậu, một quả trứng gà
cộng thêm ít thịt . Protein của một lạng đậu nành bằng
hai lạng thịt nạc, bằng ba lạng trứng gà, bằng bốn lạng
gạo, vậy nên ăn cái gì hơn?
Đậu nành là hoa của dinh dưỡng, là vua các loại đậu.
Trong đậu nành có ít nhất 5 loại chất chống ung thư, đặc
biệt là di hoàng đồng, chất này có thể phòng và chữa ung
thư tuyến vú, ung thư trực tràng và ung thư kết tràng.
Cho nên đối với người da vàng chúng ta thì thích hợp
nhất là sữa đậu nành. Bắc Kinh và Thiên Tân chúng ta gần
nhau như thế, nhưng ở Bắc Kinh người ung thư tuyến vú
đặc biệt nhiều, còn Thiên Tân rất ít. Anh có biết vì sao
không? - Thiên Tân ăn sáng bằng sữa đậu nành và óc đậu.
Người Bắc Kinh huyết áp cao, mỡ máu cao nhiều như vậy,
bữa ăn sáng rất đa dạng, nhưng rất không khoa học. Sữa
bò tốt hay sữa đậu nành tốt? ở hội nghị quốc tế của Liên
hợp quốc người ta nói, trong sữa bò có nhiều nhũ đường,
mà hai phần ba số người trên thế giới không hấp thu được
nhũ đường, người da vàng ở châu á có 70% số người không
hấp thu được nhũ đường. Sữa đậu nành có ưu điểm gì?
Trong sữa đậu nành chứa quả đường, quả đường hấp thu
100%.
Bây giờ nói đến rau .
Loại rau nói đến đầu tiên là cà-rốt.
Vì sao nói đến cà-rốt? Sách Bản thảo cương mục của Trung
Quốc viết đó là loại rau dưỡng mắt. Tối nhìn không thấy,
đặc biệt là chứng quáng gà, ăn là khỏi. Nó bảo vệ niêm
mạc, ăn cà-rốt lâu ngày thì ít bị cảm mạo. Người Mỹ cho
cà-rốt là thứ rau làm đẹp người, dưỡng tóc, dưỡng da,
dưỡng niêm mạc. Người thường xuyên ăn cà-rốt quả là đẹp
từ trong ra ngoài. Khái niệm đẹp người này phải là trong
ngoài hài hòa. Nhiều cô gái của chúng ta mắc lừa, các cô
ấy son phấn vào còn dễ coi, đến khi bỏ son phấn đi còn
khó coi hơn ban đầu. Người Mỹ rất chú ý điều này, họ ăn
cà-rốt đều. Lúc ở U-rum-si, người ta mời tôi ăn bánh
chẻo (thứ bánh nhân thịt bọc bột mì) nhân cà-rốt, họ gọi
là bánh chẻo Nga, tôi ăn thấy rất ngon. Thứ nhất, nó
dưỡng niêm mạc, ít bị cảm mạo. Thứ hai, nó đẹp khỏe mạnh.
Thứ ba, nó có chút tác dụng chống ung thư, hơn nữa rất
tốt cho mắt. Châu Âu đã có bánh ngọt cà-rốt. ở nhiệt độ
cao, chất bổ trong cà-rốt không bị giảm sút.
Loại rau thứ hai, phải nói đến bí đỏ.
Nó kích thích tế bào tụy, sản sinh insulin. Cho nên
người thường xuyên ăn bí đỏ rất ít mắc bệnh tiểu đường.
Trong các loại rau còn cần nhắc đến khổ qua (mướp đắng).
Tuy nó đắng, nhưng nó tiết ra insulin, người thường ăn
mướp đắng cũng không bị tiểu đường. Bí đỏ, khổ qua,
người ở lứa tuổi chúng ta nhất định phải ăn luôn.
Ngoài ra người ta còn nhắc đến cà chua. Ở Mỹ, hầu như
gia đình nào cũng trồng cà chua, ăn cà chua, mục đích là
để khỏi mắc ung thư. Đó là điều mới được biết đến 5, 6
năm nay. Ăn cà chua không mắc bệnh ung thư, bạn đã biết
chưa? Nhưng không phải ăn cà chua một cách tùy tiện.
Trong cà chua có một chất gọi là chất cà chua , nó kết
hợp chặt với protein làm một, xung quanh có xen-lu-lô
bao bọc, rất khó ra. Cho nên phải làm nóng lên, nóng đến
mức nhất định, nó mới ra được. Tôi mách các bạn, cà chua
xào trứng gà là đáng giá nhất. Và canh cà chua, hoặc
canh trứng gà cà chua cũng rất tốt. Cà chua ăn sống
không chống được ung thư, xin mọi người nhớ cho.
Lại còn tỏi .
Tỏi là vua chống ung thư.
Tôi vừa nói tỏi ăn như thế nào, có người nói ngay: cái
món đó phải ăn nóng. Sao cái gì bạn cũng muốn ăn nóng?
Tôi xin thưa với các bạn: tỏi đun nóng lên thì bằng
dê-rô! Người Sơn Đông, người Đông Bắc rất thích ăn, cứ
bóc từng nhánh mà ăn, còn nói rằng ăn tỏi không bị ung
thư, nhưng chẳng mấy hôm anh ta bị ung thư trước. Nguyên
nhân là gì? Xin thưa các vị, trước hết phải thái nhánh
tỏi thành từng lát, để từng lát trong không khí độ 15
phút, sau khi nó kết hợp với dưỡng khí mới sản sinh ra
chất tỏi (đại toán tố). Bản thân tỏi không chống được
ung thư, đại toán tố mới chống ung thư, hơn nữa là vua
chống ung thư. Hôm nọ tôi thấy có người ăn tỏi, anh ta
lấy một bát mì, rồi nhanh chóng bóc tỏi ra, ăn từng
nhánh tỏi, không đầy 5 giây đồng hồ đã ăn xong. Thậm chí
không đến 5 giây! Ăn như vậy không có ích gì hết. Nếu sợ
tỏi có mùi, thì ăn một quả sơn tra, nhai nắm lạc rang,
hoặc ăn chút lá chè là hết mùi ngay. Ở nước ngoài tuần
nào người ta cũng ăn, sao chúng ta lại không ăn!
Bây giờ xin nói về mộc nhĩ đen.
Mộc nhĩ đen có tác dụng gì? Bây giờ cứ đến tết, người
chết vì nhồi máu cơ tim ngày một nhiều, càng ngày càng
có nhiều người chết trẻ, thậm chí ở cả tuổi 30! Vì sao
đến tết chết nhiều? Có 2 nguyên nhân, một là máu đặc cao
ngưng thể chất , tức là mỡ máu cao. Các vị nhớ cho,
người máu đặc gọi là cao ngưng thể chất . Người cao
ngưng thể chất cộng thêm thức ăn cao ngưng, cho nên vào
dịp tết người chết vì nhồi máu cơ tim đặc biệt nhiều,
không kể tuổi nào. Chết nhồi máu cơ tim tuy không có
cách gì chữa được, nhưng hoàn toàn có thể dự phòng. Có
bác sĩ khuyên bạn uống aspirin, vì sao? Có thể khiến máu
không đặc, không bị nhồi máu cơ tim. Nhưng hậu quả là
gì? Hậu quả của việc uống nhiều aspirin là đáy mắt xuất
huyết. Bây giờ rất nhiều người xuất huyết đáy mắt.
Tôi khuyên mọi người đừng uống aspirin nữa. Hiện nay ở
châu Âu không uống aspirin nữa rồi. Vậy thì làm thế nào?
- Ăn mộc nhĩ đen.
Mộc nhĩ đen (nấm mèo) có hai tác dụng, trong đó có một
là khiến máu không đặc lại. Tác dụng này của mộc nhĩ đen
là do một chuyên gia bệnh tim của Mỹ phát hiện, ông ta
đã đoạt giải Nobel. Sau khi ông ta phát hiện, tất cả
người châu Âu, người có tiền và có địa vị đều ăn mộc nhĩ
đen, chứ không uống aspirin nữa. Người như thế nào là
cao ngưng thể chất ? Xin trả lời là người thấp, to, béo
đặc biệt là phụ nữ ở thời kỳ chuyển đổi tuổi. Hơn nữa
người thuộc nhóm máu AB càng dễ bị máu đặc cao ngưng. Và
cổ càng ngắn thì càng dễ bị. Thứ nhất là tết đừng ăn đồ
biển nhiều, thứ hai nên uống một ít trà ngon, hoạt huyết
tiêu ứ; thứ ba là nhất thiết chớ tức giận, hễ tức giận
là máu đặc lại. Uống rượu trắng cũng dễ đặc máu, muốn
uống thì uống vang đỏ, không quá 100ml. Nếu cho anh ăn
lạc, nhất thiết đừng ăn, mà có ăn thì bóc vỏ đi. Anh xem
lạc Trung Quốc, lạc ngũ hương, lạc rang, lạc chiên đều
nguyên cả vỏ. Anh sang châu Âu mà xem, tất cả các thứ
lạc đều bóc vỏ hết, người ta biết không nên ăn vỏ.
Có người hỏi: Cái vỏ lụa ấy chẳng phải có dinh dưỡng
sao? Ai nói vậy, tôi xin nói với các vị, vỏ lạc không có
dinh dưỡng, nó chỉ có thể trị huyết ngưng phiến, nâng
cao huyết tiểu bản, dùng để cầm máu. Người trung niên và
người già chúng ta không nên ăn. Và xem tivi phải chú ý,
tivi hay thì xem một lát, tivi dở thì đừng xem. Vì sao?
Vì ngồi lâu, độ ngưng huyết sẽ lên cao. Tôi lo nhất là
gì? Là người vốn lùn, to, béo, không có cổ, lại đang
thời kỳ chuyển đổi tuổi, lại nhóm máu AB ăn đồ biển bừa
bãi, rồi lại tức giận, lại uống rượu trắng, xong rồi ăn
lạc không bóc vỏ, người như vậy mà không chết vì nhồi
máu cơ tim, thì tôi xin giải nghệ bác sĩ.
Dưới đây nói một chút về phấn hoa.
Tổng thống Ri-gân từng một lần bị bắn trọng thương, lại
đã một lần bị u ác tính, ông ta đã cao tuổi như vậy mà
bây giờ vẫn sống, chỉ có điều mắc chứng lú lẫn của người
già. Chính là phấn hoa đã có tác dụng rất lớn cho cơ thể
ông. Bây giờ ở châu Âu, châu Mỹ đều thịnh hành phấn hoa.
Sau khi về nước tôi tra lại lịch sử, thì ra chúng ta
(Trung Quốc) đã có từ lâu. Võ Tắc Thiên đã ăn phấn hoa,
Từ Hi thái hậu cũng ăn phấn hoa.
Mọi người đều biết, phấn hoa là tinh tử của thực vật, nó
thai nghén sự sống, dinh dưỡng rất phong phú, là cái tốt
nhất trong thực vật. Cổ đại đã có rồi, nhưng chúng ta
quên mất. Các vị đừng mua phấn hoa ở ngoài phố, phấn hoa
bán ngoài phố có vỏ cứng, chưa phá vách. Phá vách cần có
xử lý khoa học kỹ thuật cao. Thứ hai, phấn hoa mọc dại,
dễ ô nhiễm, phải sát trùng. Thứ ba, nó là protein, phải
thoát mẫn. Phấn hoa phải có 3 điều này mới dùng được: xử
lý, tiêu độc, thoát mẫn. Phấn hoa ở Nhật Bản được dùng
nhiều lắm, ở tuổi nào cũng dùng nó để làm đẹp. Người mẫu
ở Pháp không ai không dùng. Có một lần, suốt một tháng
liền, đêm nào tôi cũng phải dậy ba lần, thấy nguy quá,
tôi ăn phấn hoa, một tháng sau trở lại bình thường. Tài
liệu ghi chép cho biết, tỷ lệ chữa bệnh của phấn hoa là
97%. Nếu dùng phấn hoa chữa không khỏi thì thuốc cũng
không giải quyết được, cuối cùng công năng thận suy
kiệt, đái ra máu, rồi u thận. Cho nên phải chữa trị sớm
chứ đừng chờ đến công năng thận suy kiệt. Lại còn chứng
rối loạn đường ruột, phụ nữ mắc nhiều, bí đái có tính
chất tập quán. Rất nhiều người uống thuốc đi ngoài mà
mắc ung thư trực tràng, ung thư kết tràng. Phấn hoa có
một tên gọi là cảnh sát đường ruột, sau khi ăn phấn hoa,
cảnh sát có thể duy trì trật tự đường ruột. Thứ ba là nó
làm đẹp khỏe mạnh, duy trì thể hình. Ba tác dụng lớn của
phấn hoa không thể coi thường. Vấn đề về thực vật xin
nói đến đấy.
Dưới đây xin nói về thức ăn động vật.
Người ta nói ăn động vật bốn chân, không bằng ăn con hai
chân, mà ăn con hai chân không bằng ăn con nhiều chân.
Nếu trong bữa ăn có cả thịt lợn và thịt dê thì ăn thịt
dê; có thịt dê và thịt gà thì ăn thịt gà, có gà và cá
thì ăn cá, có cá và tôm thì ăn tôm. Đó không phải là làm
khách. Động vật càng nhỏ thì protein càng tốt. Dinh
dưỡng học đại chúng thô sơ thì chỉ xem con vật to hay
nhỏ; đem phân tử thức ra thì người ta không hiểu. Tôi
còn chưa nói con chuột. ở hội nghị quốc tế người ta nói
protein của bọ chét là tốt nhất. Con bọ chét, đừng thấy
nó nhỏ, nó có thể nhảy cao hơn 1 mét, anh có tin không.
Nếu phóng đại nó lên bằng cơ thể con người, thì nó có
thể nhảy lên đến mặt trăng ấy chứ! Cho nên đã có mấy bác
sĩ Mỹ đang nghiên cứu làm thế nào ăn được bọ chét.
Bây giờ WHO, Liên hợp quốc đề nghị mọi người ăn nhiều gà
và cá. Vậy sao không khuyến nghị ăn tôm? Không phải là
không khuyến nghị, mà là tôm đắt quá, khó phổ cập. Nếu
có tôm, thì ăn tôm là tốt. Giờ đây tôi nắm một nguyên
tắc thế này: nếu có tôm thì tôi ăn vài con tôm. Vài con
đó đủ nhiều protein hơn là anh ăn đầy một bụng thịt bò.
Cá thì dễ phổ cập hơn. Protein của cá một giờ là hấp thu
được, tỷ lệ hấp thu là 100%, còn protein thịt bò phải 3
tiếng đồng hồ mới hấp thu được. Cá đặc biệt thích hợp
cho người già nhất là người cơ thể suy nhược. Tất nhiên
là tôm còn tốt hơn cá. Quốc tế đã điều tra, vùng tuổi
thọ nổi tiếng nhất toàn thế giới là Nhật Bản, vùng tuổi
thọ của Nhật Bản là ven biển, mà ven biển tuổi thọ cao
nhất là địa phương ăn cá. Đặc biệt là ăn cá bé, tôm bé,
đặc biệt phải ăn cả con cá (ăn cả đầu lẫn đuôi), vì có
chất hoạt tính, mà chất hoạt tính thì ở đầu và ở bụng cá
bé, tôm bé. Đấy là khoa học, chứ không phải mua cá cứ
chọn con to là tốt.
Còn một nguyên tắc ăn nữa là ăn phải nắm vững lượng, chứ
không phải ăn càng nhiều càng tốt. Trên quốc tế có quy
định: ăn no 7 phần 10, suốt đời không đau dạ dày, ăn
8/10 là tối đa, nếu ăn no 10/10 thì 2/10 kia vô ích. Cho
nên quốc tế khuyến nghị tỷ lệ vàng là 0,618: lương thực
phụ 6, lương thực chính 4; lương thực thô 6, lương thực
tinh 4; thực vật 6, động vật 4.
Cân bằng vật chất có một quy luật, tôi xin giới thiệu
qua. Trẻ sinh ra cho đến 5 tháng ăn sữa mẹ là tốt nhất,
ngoài 5 tháng sữa mẹ cũng không đủ, cần thêm 42 loại
thức ăn trở lên. Người ta đến tuổi già lại càng khó. May
thay có một bác sĩ người Pháp tên là Climent, khi du
lịch sang châu Phi thấy người ở hồ đầm lớn châu Phi khỏe
mạnh sống lâu hơn chúng ta. Họ ăn cái gì? Ăn rong biển,
phơi khô rồi làm bánh bao ăn, sau đó uống canh rong
biển. Bác sĩ ấy đem về Paris thí nghiệm, thì ra là rong
biển, rong xoắn ốc. Rong xoắn ốc này phát hiện năm 1962,
phát hiện này làm xôn xao cả thế giới. Vì sao? Một gam
nó bằng 1.000 gam tổng hợp tất cả các loại rau, dinh
dưỡng đặc biệt phong phú, rất toàn diện, phân bố dinh
dưỡng rất cân bằng, hơn nữa là thức ăn kiềm tính. ở Nhật
Bản mỗi năm họ tiêu thụ 500 tấn rong xoắn ốc, họ đi du
lịch sang Trung Quốc người nào cũng mang theo. Chúng tôi
hỏi họ, vì sao mang rong xoắn? Họ bảo, 8 gam rong xoắn
là có thể duy trì sự sống 40 ngày. Ngoài ra nó rất quan
trọng đối với một số bệnh như tim mạch, tăng huyết áp,
tăng mỡ máu, tiểu đường...
Ưu điểm lớn nhất của rong xoắn là khiến cho bệnh nhân
tiểu đường không bị biến chứng, có thể ăn uống như người
bình thường. Bệnh nhân tiểu đường thiếu năng lượng, lại
không được ăn đường, rong xoắn là đường khô, hấp thu
đường khô vào là có năng lượng. Bệnh nhân tiểu đường,
đường máu không ổn định, sau khi dùng rong xoắn có thể
dần dần ngừng thuốc, sau đó dần dần ngừng rong xoắn,
cuối cùng khống chế bằng ăn mềm. Đối với bệnh viêm dạ
dày, loét dạ dày, rong xoắn có chất diệp lục, có tác
dụng khôi phục đối với niêm mạc dạ dày. Rong xoắn còn có
tác dụng phòng bức xạ. Khi trạm điện hạt nhân của Liên
Xô bị nổ, chuyên gia Nhật Bản đi cứu, mang theo rong
xoắn, tác dụng chống bức xạ của nó rất mạnh.
Nhưng có mấy cách có thể dự phòng: thứ nhất là uống trà
xanh; thứ hai là ăn rau xanh, cà rốt; thứ ba là ăn rong
xoắn; thứ tư ăn tảo phục khang. Tảo phục khang là tốt
nhất. Tùy theo điều kiện kinh tế của mình mà chọn lấy
một cách, thực sự không được thì ăn rau xanh, cà rốt.
Bức xạ thì ai cũng có thể tiếp xúc. Quốc tế đã từng cảnh
cáo: Nhất thiết chớ để đồ điện trong phòng ngủ. Nhất là
lò vi sóng đối với chúng ta nguy hại lớn nhất, trong
vòng 7 mét nó có thể bức xạ đến chúng ta. Và các loại đồ
điện không nên mở cùng một lúc. Vừa có tivi, vừa có tủ
lạnh, lại vừa có lò vi sóng, bạn làm thức ăn ngay bên
cạnh, thì mắc bệnh ung thư là không oan uổng gì.
2. Vận động có ôxy
Có một kinh nghiệm thành nguyên tắc, là nhất thiết đừng
tập luyện sáng sớm. Xin khuyến nghị các vị tập luyện vào
chiều tối. Các nhà khoa học đã quy định, ăn xong 45 phút
sau hãy vận động. Mà người già vận động thì đi bách bộ
là được, chỉ cần đi 20 phút. Muốn giảm béo không dùng
phương pháp này, nửa giờ đến một giờ trước bữa cơm, ăn
hai hạt đến bốn hạt rong xoắn, sau đó sẽ giảm được cảm
giác muốn ăn, mà lại không thiếu dinh dưỡng.
Người châu Âu giảm béo toàn dùng rong xoắn, ở trong nước
(Trung Quốc) ăn ít đi ngoài nhiều là không đúng cách.
Thứ hai là thời gian ngủ dậy, quốc tế quy định là 6 giờ
sáng, để bạn tham khảo. Thời gian mở cửa sổ, quốc tế quy
định là 9 giờ đến 11 giờ, buổi chiều 2 giờ đến 4 giờ. Vì
sao? Vì sau 9 giờ không khí ô nhiễm lắng xuống, chất ô
nhiễm đã giảm bớt, không có hiện tượng phản lực.
Các vị chú ý cho, sáng dậy mở cửa sổ, đừng có thở nhiều
ở đó, vì chất gây ung thư, chất phản lưu đều chạy hết
vào trong phổi bạn, dễ bị ung thư phổi. Quốc tế đã cảnh
cáo, 6 giờ đến 9 giờ sáng là lúc dễ gây ung thư nguy
hiểm nhất. Không thể nói chung chung rằng ngủ sớm dậy
sớm khỏe người. Cả đêm bạn đã hít đầy bụng khí
các-bô-níc ở trong nhà, trong đường hô hấp đã có hơn 100
loại độc tố rồi, lại chạy vào rừng cây, buổi sáng trong
rừng cây lại toàn là các-bô-níc.
Tập luyện buổi sáng, huyết áp cơ sở cao, thân nhiệt cơ
sở cao, thận thượng tuyến tố cao gấp 4 lần buổi chiều
tối, người có bệnh tim rất dễ sinh chuyện. Trong rừng
cây phải đợi khi mặt trời lên, ánh mặt trời có phản ứng
với chất diệp lục mới có thể sản sinh ôxy. Lúc trong
rừng toàn là các-bô-níc rất dễ trúng độc, rất dễ mắc ung
thư. Trong sách Hoàng đế nội kinh có nói "không có mặt
trời thì không tập luyện". Tôi đề nghị các vị mùa hè ngủ
sớm dậy sớm, mùa đông không nên đi tập buổi sáng sớm, mà
đổi sang tập buổi tối. Cũng không phải là người như thế
nào cũng đều ngủ sớm, dậy sớm khỏe người cả, người cao
tuổi đừng có bật dậy mạnh. Có người bật một cái là dậy,
thoắt một cái nhồi máu cơ tim chết luôn. Quốc tế người
ta nói, người ngoài 70 nên dậy thong thả, duỗi tay duỗi
chân cử động vài cái, rồi xoa bóp tim một lúc, ngồi vài
phút rồi hẵng đứng lên. Như vậy sẽ không làm sao cả. Cho
nên tuổi tác khác nhau, thời tiết mùa vụ khác nhau thì
phải đối xử khác nhau.
Dưới đây xin nói về ngủ trưa.
Quốc tế quy định rồi, ngủ trưa hay không ngủ trưa khỏi
phải tranh luận. Trước kia Nhật Bản không chủ trương ngủ
trưa, nhưng chúng tôi chủ trương nếu đêm hôm trước ngủ
không tốt thì nên ngủ trưa. Thời gian ngủ trưa nên là
nửa giờ sau bữa ăn trưa, và tốt nhất nên ngủ một tiếng
đồng hồ, ngủ lâu quá không lợi cho sức khỏe. Không nên
đắp chăn dày. Buổi tối đi ngủ vào lúc nào? Xưa nay chúng
tôi không đề xướng ngủ sớm dậy sớm. Khái niệm ngủ sớm
dậy sớm cần làm rõ. Nếu 7 giờ tối đi ngủ, 12 giờ đêm dậy
lục sục vớ vẩn, thì không ích gì. Chúng tôi chủ trương
10 giờ đến 10 giờ 30 đi ngủ, vì ở hội nghị quốc tế người
ta đã quy định, một giờ đến một giờ rưỡi sau đi vào giấc
ngủ sâu là khoa học nhất, như thế thì 12 giờ đêm đến 3
giờ sáng, 3 tiếng ấy sét đánh cũng không nhúc nhích,
không có làm gì hết. 3 tiếng đồng hồ ấy là giấc ngủ sâu.
Nếu 3 tiếng ấy ngủ tốt thì hôm sau dậy tinh thần sẽ
thoải mái. Nếu anh ngủ sau 4 giờ, thì đó là giấc ngủ
nông. Biết cách ngủ và không biết cách ngủ là rất khác
nhau. Chúng tôi chủ trương 12 giờ đến 3 giờ sáng ngủ say
như chết, và trước khi đi ngủ tắm nước nóng 40-50 độ,
như vậy chất lượng giấc ngủ rất cao. Các bạn đánh bài
tôi không phản đối, nhưng phản đối đánh bài từ 12 giờ
đến 3 giờ sáng. ở Thâm Quyến có 4 thanh niên đánh bài mà
chết, báo đã đưa tin.
3. Trạng thái tâm lý
Cột mốc thứ ba giừ gìn sức khỏe là trạng thái tâm lý.
Nếu trạng thái tâm lý không tốt thì anh ăn uống tập
luyện cũng vô ích. Tức giận thì dễ bị khối u, cả thế
giới đều biết. Trường đại học Stanpho đã làm một thí
nghiệm nổi tiếng, lấy ống mũi đặt lên mũi cho anh thở,
rồi sau đó lấy ống mũi đặt trên bãi tuyết 10 phút. Nếu
băng tuyết không đổi màu thì chứng tỏ anh bình tĩnh tự
nhiên; nếu băng tuyết trắng lên, chứng tỏ anh có điều hổ
thẹn day dứt; nếu bằng tuyết tím đi, chứng tỏ anh rất
tức giận. Rút lấy 1-2 cc chỗ băng tuyết tím đó tiêm cho
chuột con thì 1-2 phút sau chuột con sẽ chết. Tôi khuyên
các bạn, ai muốn trêu tức bạn, thì bạn đừng có tức. Nếu
bạn không nhịn được, bạn hãy xem đồng hồ, đừng để quá 5
phút, quá 5 phút là hỏng chuyện, máu sẽ tím đi. Thí
nghiệm này đã được giải Nobel. Tâm lý học có thể đề xuất
5 phương pháp tránh tức giận: một là tránh đi; hai là
chuyển di, người ta chửi anh thì anh đi đánh cờ, câu cá,
không nghe thấy; ba là thả ra, nhưng phải chú ý, người
ta chửi anh, anh lại đi chửi người khác thì không gọi là
thả ra, mà phải đi tìm bạn tri âm để nói chuyện, thả ra
hết (giải tỏa) nếu không cứ để bụng thì sẽ sinh bệnh;
bốn là thăng hoa, tức là người ta càng nói anh thì càng
ra sức làm; năm là khống chế, đây là phương pháp chủ yếu
nhất tức là mày chửi thế nào ông cũng không sợ . Điểm
này rất quan trọng. Nhịn một lúc gió yên sóng lặng, lùi
một bước biển rộng trời cao. Nhẫn nại không phải là mục
đích, mà là sách lược. Nhưng người thường không làm nổi,
mới nói một câu đã lồng lộn lên. Tiểu bất nhẫn tắc loạn
đại mưu (Không nhịn được điều nhỏ thì sẽ rối loạn hỏng
cả mưu kế lớn). Châu Âu có một kinh điển bác học: cái lý
khó giảng thì nên dừng; con người khó đối xử thì nên xử
hậu; việc khó xử thì nên làm thong thả; công việc khó
thành thì nên khôn khéo. Câu đầu tiên trong 4 câu ấy có
nghĩa là: lý lẽ khó thì hãy khoan nói. Triết lý rất sâu
sắc, rất có ích. Trong Tam quốc diễn nghĩa, Gia Cát
Lượng ba lần chọc tức Chu Du, rốt cuộc đã khiến Chu Du
tức giận mà chết. Tại Chu Du hay tại Gia Cát Lượng? Kết
luận là tại Chu Du, khí lượng ông ta hẹp hòi quá. Tức
giận nguy hại rất lớn cho người ta.
Hiện nay, có một lý thuyết mới, tất cả động vật đều
không có công năng cười, duy loài người có công năng đó.
Nhưng loài người chưa biết sử dụng công năng đó. Xưa có
câu: một nụ cười trẻ ra mười tuổi. Không phải chỉ tuổi
tác, mà chỉ tâm thái. Miệng hay cười, người hay khỏe.
Tác dụng của cười rất lớn. Cười tránh được rất nhiều
bệnh. Thứ nhất, không bị thiên đầu thống, thứ hai không
bị đau lưng, vì khi cười vi tuần hoàn phát triển. Thông
tắc bất thống (thông thì không đau), bất thông tắc thống
(không thông thì đau).
Lại nữa, cười, thường xuyên cười đặc biệt tốt cho đường
hô hấp và đường tiêu hóa. Có thể làm thí nghiệm, anh cứ
sờ vào bụng bắt đầu cười, mỗi ngày cười to 3 lần, bụng
lọc sọc 3 lần, thì không táo bón, không bị ung thư dạ
dày, đường ruột. Anh tập tay, tập chân, nhưng tập dạ dày
đường ruột vào lúc nào? Không có cơ hội, chỉ có cười mới
luyện tập được dạ dày, đường ruột. Cười đã trở thành một
tiêu chuẩn của sức khỏe. Tôi đã điều tra nhiều lần, giải
Nobel thứ hai về cười đã được trao. Cười là thứ thuốc tê
thiên nhiên. Nếu bạn bị viêm khớp, xin đừng lo, cứ nhìn
vào khớp mà cười ha hả, một chốc là không đau nữa. Cười
có nhiều ích lợi như thế, sao chúng ta lại không cười
nhỉ
Mới đây thành phố Bắc Kinh đã có tổng điều tra rồi, tuổi
thọ của người ta bạn có biết là cụ ông thọ hơn hay cụ bà
thọ hơn không? Tôi xin mách các vị, cụ bà thọ hơn cụ ông,
bình quân thọ hơn cụ ông 6 năm rưỡi. Tình cờ gặp một ông
cụ, tôi hỏi, sao cụ lại tập luyện một mình? Ông cụ bảo
lão không ghép được đôi, các bà lão đều tập với nhau,
luyện tập từng đôi ở đầu phố. Ưu điểm lớn nhất của rất
nhiều bà cụ là từ khi còn trẻ đã thích cười, già rồi vẫn
cười. Mỗi lần giảng bài, tôi đều để ý, thấy toàn các bà
cười, các ông không cười. Đã kém người ta 6 năm rưỡi rồi
đấy, đến bao giờ các ông mới cười. Cho nên từ giờ, mỗi
người hãy mau mau cười đi. Các vị hôm nay đến đây, các
vị cười mấy tiếng là sống thêm được mấy năm. Có người
nói thế nào cũng chẳng cười. Cấp bậc càng cao càng không
cười, tôi biết làm thế nào được? Chẳng những đã không
cười, lại còn có một lôgíc: Nam nhi hữu lệ bất khinh đàn
(Đàn ông có nước mắt nhưng không dễ gì chảy). Nước mắt
người thường thì mặn, nước mắt bệnh nhân tiểu đường thì
ngọt, nước mắt đau buồn thì đắng, trong đó có peptide (pép-tít),
có hoóc-môn. Nếu lâu ngày không chảy đi thì sẽ bị khối
u, bị ung thư đấy. Dù có khỏi khối u thì cũng bị loét
hoặc viêm kết tràng mạn tính. Cho nên, nếu các vị đau
buồn thì phải chảy nước mắt ra, giữ lại không ích gì đâu.
Ở hội nghị quốc tế, người ta đã cảnh báo chúng ta. Chúng
ta hãy uống trà xanh, ăn đậu nành, ngủ cho tốt, năng vận
động, và đừng quên luôn luôn cười vui. Mong rằng mỗi
người đều chú ý cân bằng ẩm thực, vận động có ô-xy và
chú ý trạng thái tâm lý của mình, lúc đáng khóc thì khóc,
lúc đáng cười thì cười. Tôi tin rằng chúng ta nhất định
có thể vượt qua tuổi 73, qua tuổi 84, đến 90, 100 tuổi
vẫn còn khỏe mạnh.
GS. Phan
Văn Các lược dịch
---o0o---
Chân thành cảm ơn Ðạo hữu
Trần Anh Kiệt đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này
(Thích Nguyên Tạng, tháng 8/2004)
Trình
bày: Nhị Tường
Cập nhật : 01-8-2004