BÍ
TRUYỀN KINH VƯƠNG
Thích
Như Điển
( Trích : Quảng Đức.com )
Nhân sinh nhật lần thứ 57 (kể theo tuổi ta)
của tôi năm nay (28.6.2005) có một Phật Tử
Việt Nam tại New York, Mỹ Quốc, gởi tặng
cho tôi một bộ kinh Kim Cang rất quư, có xuất xứ
từ đời nhà Thanh (Trung Hoa) và chính do vua Khang Hi
(1666-1722) viết, được phục chế lại.
Quả là một món quà vô giá.
Ngoài hộp bằng da cũ kỹ có 3 ḍng chữ. Đó
là: Hoàng Thất Bí Truyền Kinh Vương. Nghĩa
là: Vua trong các kinh được giữ bí mật tại
Hoàng cung. Sau đó là những chữ lớn: Bát Nhă Ba La Bí
Truyền Kim Cang Kinh và phía tay trái của hộp
đựng kinh có 4 chữ: Khang Hi Ngự Thơ và có
đóng những dấu triện bằng son đỏ
của Hoàng Triều.
Lật vào bên trong hộp, đọc được
những ḍng chữ nầy:
"Nguyện
đồng niệm Phật nhơn, tận sanh Cực
Lạc quốc, Nam Mô A Di Đà Phật, kiến Phật
liễu sanh tử, như Phật độ nhứt
thiết.
Tạng kinh vân: Niệm thử Phật
giả, hiện thế tiêu tai bảo thọ, thử
Phật hữu đại thệ nguyện vân: Ngă tác
Phật thời, thập phương chúng sanh, chí tâm tín
nhạo, dục sanh ngă quốc, thập thinh niệm ngă danh
hiệu, nhi bất sanh giả, ngă bất tác Phật.
Như mỗi triêu, hợp chưởng hướng tây, chí
thành niệm Phật thập thinh, niệm thượng
tứ cú kệ nhứt biến, tây phương thất
bảo tŕ, sanh liên hoa nhất đóa, tha nhựt ư
kỳ trung thác sanh, y thực tùy ư hóa thành, trường sanh
bất tử".
Khang Hi ngự thơ
Xin tạm
dịch ra tiếng Việt như sau:
"Nguyện cùng người niệm Phật, sanh
hết nước Cực Lạc. Nam Mô A Di Đà Phật.
Thấy Phật rơ sanh tử, như Phật độ
tất cả.
Kinh dạy rằng: Người niệm Phật
nầy, hiện đời tiêu tai sống lâu. Phật
nầy có thệ nguyện rằng:
Khi ta thành
Phật, mười phương chúng sanh, chí tâm vui tin,
muốn sanh nước ta, niệm mười tiếng danh
hiệu ta, mà chẳng sanh được, ta chẳng thành
Phật.
Như mỗi sáng chắp tay hướng về Tây chí
thành niệm Phật mười tiếng, niệm bốn
câu kệ trên một lần, ở nơi ao báu tại Tây
Phương, sanh một đóa hoa sen. Ngày kia khi thác sanh,
về nơi đây. Áo quần, ăn uống tùy ư hóa thành,
sống hoài chẳng chết".
Khang Hi ngự
thơ
Đó, ta có thể tin là lời của nhà Vua phát
nguyện trước khi tŕ kinh Kim Cang và nhà Vua cũng xác
quyết một trong 48 lời nguyện của Đức
Phật A Di Đà là như thế. Không biết là Vua hay
vị Đại Thần nào đó viết chữ kinh
rất sắc sảo trên nan tre được trau
chuốt rất tinh vi và phía sau được khâu dính vào
với lụa nguyên thủy. Đồng thời hai bên
đầu và chân của mỗi trang đều có vẽ
truyện Ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh bằng son
đỏ. Cuối kinh chỉ viết: "Đại Thanh
Hoàng Thất kinh thơ tạng phẩm" rồi đóng
3 con dấu đỏ thật lớn. Dấu thứ
nhất "Khang Hi ngự thơ". Dấu thứ 2
"Ngự thơ pḥng tạng" và dấu thứ 3
" Hoàng Thất ích dân tạng thơ".
Quả thật là tôi đă được một báu
vật không có ư đợi chờ. V́ vị Phật Tử
ấy nghĩ rằng ở trên núi đồi Đa Bảo
tại Úc, mỗi tối khi nhập thất, tôi đều
tŕ tụng kinh nầy. Do vậy mà gởi tặng. Đó là
sự chân thành. Ngoài ra có lẽ vị ấy cũng nghĩ
rằng do không biết chữ Hán; nên trao về tôi
đọc cũng như tŕ tụng th́ ích lợi hơn. Do
vậy mà bản kinh ấy hiện được tôn trí
tại Chùa Viên Giác Hannover - Đức Quốc.
Kinh nầy
được chia ra làm 32 đoạn và mỗi
đoạn có một tiêu đề, giới thiệu
tổng quát về nội dung của đoạn đó.
Nơi đây tôi chỉ lược qua chứ không đi vào
chi tiết.
- Đoạn
một nói về nguyên do của Pháp hội là sau khi
Đức Thế Tôn vào thành Xá Vệ để khất
thực, sau đó về lại vườn của
Trưởng Giả Cấp Cô Độc dùng trưa và sau
khi rửa chân xong, liền ngồi đó.
- Đoạn
thứ hai nói Ngài Thiện Hiện tức là Tu Bồ
Đề khải thỉnh Đức Phật rằng: Ngài
đă phó chúc cho các Bồ Tát khi phát tâm vô thượng chánh
đẳng chánh giác, mà làm thế nào để trụ và làm
thế nào để hàng phục được tâm
nầy?
- Đến
đoạn thứ ba nói về phần chính của sự
phát tâm Đại Thừa. Có nhiều loại chúng sanh
đă vào vô dư Niết Bàn; nhưng thật ra chẳng có
chúng sanh nào vào Niết Bàn cả. V́ sao vậy? V́ Bồ Tát
mà có tướng ta, tướng người, tướng
chúng sanh, tướng thọ giả tức không phải là
Bồ Tát.
- Đoạn
thứ tư nói về "diệu hạnh vô trụ".
Ở nơi pháp mà không trụ để bố thí, ấy
gọi là không trụ vào tướng. C̣n nếu trụ vào
tướng để bố thí th́ phước đức
chẳng có.
- Đoạn
thứ năm nói về lư như thật khi nhận
thấy sự việc. Phàm tất cả cái ǵ có h́nh
tướng đều là hư vọng. Nếu xem các
tướng mà không phải tướng, th́ mới thấy
được Như Lai.
- Đoạn
thứ sáu nói về sự chánh tín hy hữu. Sau 500 năm
Đức Phật diệt độ mà có người hay
tŕ tụng kinh nầy và có tín tâm th́ đối với
kẻ đó không phải chỉ trong một đời
Phật mà ở trong nhiều vị Phật đă trồng
căn lành, th́ phải biết rằng kẻ ấy
phước đức nhiều lắm. V́ vậy cho nên
đừng chấp vào pháp mà cũng đừng chấp vào
phi pháp. V́ lẽ ấy mà Đức Phật thường
hay nói với các Tỳ Kheo rằng: Sự thuyết pháp
của ta cũng như chiếc bè. Chánh pháp c̣n nên bỏ,
huống là phi pháp.
- Đoạn
thứ bảy "chẳng được, chẳng
nói". Chỗ này Ngài Tu Bồ Đề hiểu rằng
Phật đă dạy chẳng có pháp nào là nhứt
định cả và chẳng có pháp nào để chứng
đắc. V́ tất cả các vị hiền thánh
đều từ pháp vô vi mà có chỗ sai biệt.
- Đoạn
thứ tám nói về việc "y cứ vào pháp để
sanh". Nếu kẻ dùng của cải quư báu để
bố thí th́ phước nầy dẫu có, nhưng không bằng
kẻ thọ tŕ kinh nầy cho đến đọc
tụng 4 câu kệ. V́ lẽ tất cả chư Phật
đều từ kinh nầy mà ra. Cho nên nói là Phật Pháp mà
cũng chẳng phải là Phật Pháp.
- Đoạn
thứ chín nói về một tướng và vô tướng.
Bốn quả Thánh tuy có chứng đắc; nhưng
thật ra chẳng có v́ trong ấy không có kẻ chứng
đắc và quả vị để chứng
đắc.
- Đoạn
thứ mười nói về: Trang nghiêm Tịnh Độ.
Chính đoạn thứ 10 nầy rất quan trọng và Ngài
Huệ Năng đă ngộ được chân lư của Kim
Cang ở nơi nầy: "Bất ưng trụ sắc
sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc,
pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm".
Nghĩa là "Chẳng nên trụ vào h́nh tướng
để sanh tâm, chẳng nên trụ vào âm thanh, sắc
đẹp, mùi vị, sự va chạm và các pháp để
sanh tâm, mà nên ở vào chỗ không trụ để sanh
tâm". Chỗ không trụ là chỗ không chấp
trước; chỗ không trụ là chỗ không đến,
không đi, không c̣n, không mất, v.v...
- Đoạn
thứ 11 nói về cái phước của vô vi là hơn
cả. Kẻ dùng của bố thí như cát của sông
Hằng tuy rằng phước nhiều đấy;
nhưng vẫn không bằng kẻ thiện nam,
người thiện nữ ở nơi kinh nầy cho
đến thọ tŕ 4 câu kệ thôi, là phước nầy
hơn phước bố thí kia rất nhiều.
- Đoạn
thứ 12 nói về việc "tôn trọng chánh giáo".
Kẻ nào mà tŕ tụng cho đến 4 câu kệ của kinh
nầy th́ nơi đó tất cả thế gian, trời,
người, A Tu La đều cúng dường như tháp
miếu của Phật; huống ǵ là có kẻ hay thọ
tŕ đọc tụng. Chỗ nào có kinh nầy, như là có
Phật tại đó. Nếu là Phật Tử th́ nên tôn
trọng.
- Đoạn
thứ 13 nói về sự "thọ tŕ như pháp".
Kinh nầy được gọi là kinh: Kim Cang Bát Nhă Ba La
Mật và Phật hỏi Ngài Tu Bồ Đề rằng: Có
thể dùng 32 tướng để thấy Như Lai
chăng? th́ Ngài Tu Bồ Đề trả lời rằng:
Không thể.
- Đoạn
thứ 14 nói về: Ĺa tướng tịch diệt. Ngài Tu
Bồ Đề xưng tán kinh nầy và c̣n nói rằng
việc tin hiểu thọ tŕ thật khó sau 500 năm
nếu có người nghe kinh nầy mà tin tưởng, giải
nghĩa, rồi thọ tŕ th́ phải biết rằng khó có
lắm. V́ lẽ kẻ ấy là kẻ không có tướng
ta, không có tướng người, không có tướng chúng
sanh và chẳng có tướng thọ giả. V́ tất
cả đều chẳng có tướng. V́ ĺa tất
cả tướng là chư Phật vậy.
Ở đây có
thuật lại chuyện ngày xưa Ngài đă v́ Vua Ca
Lợi mà cắt hết thân thể. Khi cắt như
thế th́ không có tướng ta, không có tướng
người, không có tướng chúng sanh và chẳng có tướng
thọ giả. V́ lẽ nếu trụ vào tướng th́
sẽ bị sân hận. V́ khi làm tiên nhơn nhẫn
nhục ở 500 đời trước cũng chẳng
trụ vào những tướng nầy. Do vậy muốn
chứng quả vô thượng Bồ Đề phải
ĺa hết tất cả tướng.
- Đoạn
thứ 15 nói về: Công đức của việc tŕ kinh.
Nếu có kẻ nào từ sáng, trưa, tối mỗi ngày 3
lần như thế đem của cải hoặc thân nầy
để bố thí nhiều như cát sông Hằng trong
trăm ngàn kiếp mà khi nghe kinh nầy có tín tâm chẳng
nghịch th́ phước nầy nhiều hơn
phước kia; huống ǵ là biên chép, thọ tŕ,
đọc tụng và v́ người khác giải nói. Nói tóm
lại là kinh nầy thật "bất khả tư
ngh́".
- Đoạn
thứ 16 nói về kinh nầy hay làm cho thanh tịnh các
nghiệp chướng. Nếu có kẻ nào tŕ tụng kinh
nầy mà có người khinh chê th́ phải biết
người ấy đời trước đang
đọa vào đường ác; nên đời nầy
mới thế, mà khi nghe được kinh nầy th́
nghiệp đời trước được tiêu
diệt và chứng quả. Hoặc khi nghe kinh nầy mà có
kẻ hồ nghi, tâm cuồng loạn chẳng tin th́
phải biết kinh nầy thật bất khả tư
ngh́ và quả báo cũng lại như thế.
- Đoạn
thứ 17 nói về: Cứu cánh vô ngă. Khi người phát tâm
th́ phải sanh tâm như thế nầy: Ta muốn diệt
độ tất cả chúng sanh, tất cả chúng sanh diệt
độ rồi mà chẳng có một chúng sanh nào thật
diệt độ cả. V́ lẽ nếu Bồ Tát c̣n ngă
tướng th́ chẳng phải là Bồ Tát. Đức
Phật Thích Ca đă chẳng v́ chỗ Phật Nhiên
Đăng mà được thọ kư cũng như thành
Phật. V́ chẳng có pháp nào để được
chứng đắc cả. Có người nói Phật
chứng quả; nhưng thật ra chẳng có quả nào
để Phật chứng cả. Ở đấy
chẳng thật chẳng hư. Cho nên Phật đă nói rằng:
Tất cả pháp đều là Phật Pháp.
- Đoạn
thứ 18 nói về: Nhứt thể đồng quán.
Phật hỏi Tu Bồ Đề về nhục nhăn, thiên
nhăn, huệ nhăn, pháp nhăn và Phật nhăn để biết
rằng có tất cả những cái có ấy trong tổng
thể như cát sông Hằng; nhưng Như Lai nói các tâm
đều chẳng phải là tâm, th́ ấy mới gọi
là tâm. V́ lẽ quá khứ tâm đă chẳng được,
hiện tại tâm chẳng thể được và vị
lai tâm cũng chẳng thể được. Sở dĩ
như vậy, v́ lẽ không có cái ǵ là thực tướng
cả, mà ngay cả tâm nầy cũng luôn luôn thay
đổi.
- Đoạn
thứ 19 nói về sự lưu thông của Pháp giới.
Đức Phật hỏi Ngài Tu Bồ Đề rằng
có người dùng của quư báu đầy cả tam thiên
đại thiên thế giới để bố thí, th́
người nầy với nhân duyên ấy, phước
đức có nhiều chăng? Ngài Tu Bồ Đề
trả lời rằng: Rất nhiều. Nhưng Phật
bảo rằng: Nếu phước đức mà thật
có th́ chẳng nói là phước đức nhiều mà
chẳng có phước đức th́ đó mới
được phước đức nhiều.
- Đoạn
thứ 20 nói về: Ĺa sắc, ĺa tướng. Phật có
thể dùng cụ túc sắc thân để thấy chăng?
Chắc là không. V́ Như Lai bảo: Cụ túc sắc thân tức
chẳng phải là cụ túc th́ đó mới là cụ túc,
mà các tướng cụ túc chẳng phải là cụ túc th́
đó mới là tướng cụ túc.
- Đoạn
thứ 21 nói về: Chẳng nói mà nói. Ngươi cũng
đừng bảo rằng ta đang thuyết pháp. Nếu
có ai đó bảo ta đang thuyết pháp, tức là hủy
báng ta. V́ sao vậy? V́ thuyết pháp có nghĩa là không có pháp
nào có thể nói cả, th́ đó gọi là thuyết
pháp.
- Đoạn
thứ 22 nói về: Chẳng có pháp nào để đắc
cả. Ngài Tu Bồ Đề hỏi Phật là Ngài đă
chứng được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề và được chỗ vô vi chăng? Phật
bảo rằng: Như thế như thế. V́ lẽ
chẳng có pháp nào để được; nên gọi là
được.
- Đoạn
thứ 23 nói về Tịnh tâm hành thiện. Pháp nầy b́nh
đẳng chẳng có cao thấp nên gọi là A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, vô ngă, vô nhơn, vô
chúng sanh, vô thọ giả, tu tất cả pháp lành tức
chứng được quả giải thoát.
- Đoạn
thứ 24 nói về: Chẳng sánh với phước trí.
Ở đây xác định một lần nữa rằng
trong tam thiên đại thiên thế giới nếu
người giàu có, của chất như núi Tu Di bằng
bảy báu mà đem bố thí th́ người nầy so
với người thọ tŕ, đọc tụng và
giải nói cho người khác 4 câu kệ của Bát Nhă Ba La
Mật Đa th́ phước đức của
người trước chẳng bằng một phần
trăm và trăm ngàn vạn ức phần cho đến
tính đếm thí dụ cũng chẳng bằng
người sau.
- Đoạn
thứ 25 nói về: Hóa vô sở hóa. Phật hỏi Ngài Tu
Bồ Đề rằng có phải Phật đang
độ chúng sanh không? Ngài Tu Bồ Đề trả
lời rằng: Thật ra chẳng có chúng sanh nào để
độ cả. Nếu mà Như Lai c̣n có chúng sanh
để độ th́ Như Lai c̣n ngă, chúng sanh, thọ
giả. Nếu có ngă tức c̣n phàm phu mà phàm phu tức
chẳng phải phàm phu th́ ấy mới là phàm phu.
- Đoạn
thứ 26 nói về: Pháp thân phi tướng. Đoạn
nầy có kệ:
Nếu dùng h́nh sắc
để thấy ta
Dùng âm thanh để
cầu ta
Người nầy hành
tà đạo
Chẳng thể
thấy Như Lai.
Nếu dùng h́nh tướng và âm thanh để cầu
th́ đó không phải là thật tướng. V́ thật
tướng chẳng thấy th́ làm sao dùng cái đối
đăi để cầu cái không có đối đăi
được.
- Đoạn
thứ 27 nói về: Chẳng đoạn chẳng diệt.
Nếu kẻ phát tâm Bồ Đề để chứng
quả giải thoát th́ phải nói rằng các pháp chẳng đoạn
mà cũng chẳng diệt.
- Đoạn
thứ 28 nói về: Chẳng thọ, chẳng tham. Ngài Tu
Bồ Đề hỏi Phật rằng: Tại sao Bồ
Tát chẳng thọ phước đức? Đức
Phật trả lời rằng: Tuy Bồ Tát có tạo
phước đức; nhưng không tham trước
nơi phước đức; nên nói là chẳng thọ
phước đức.
- Đoạn
thứ 29 nói về: Uy nghi tịch tĩnh. Nếu có
người bảo Như Lai, đến, đi, ngồi,
nằm th́ người ấy chẳng hiểu rơ nghĩa
của Như Lai nói. V́ sao vậy? V́ Như Lai có nghĩa là:
Chẳng từ đâu đến, lại chẳng đi
về đâu. Cho nên nói là Như Lai.
- Đoạn
thứ 30 nói về: Lư của một hợp tướng.
Trong tam thiên đại thiên thế giới gồm nhiều
vi trần; nhưng thật ra chẳng có thế giới nào
cả; nên mới gọi là thế giới. V́ lẽ
nếu thế giới thật có tức là một hợp
tướng; mà hợp tướng tức chẳng
phải hợp tướng th́ đó gọi là một
hợp tướng.
- Đoạn
thứ 31 nói về: Tri kiến bất sanh. Nếu có kẻ
nào đó nói Như Lai nói ngă kiến, nhơn kiến, chúng
sanh kiến, thọ giả kiến tức chẳng
hiểu rơ Như Lai. V́ Như Lai nói những loại
nầy chẳng thực tướng; nên nó có tên là như
thế. Các pháp cứ như thế mà biết, chẳng
sanh, chẳng diệt. Cho nên nói pháp tướng tức phi
pháp tướng. Ấy chính là pháp tướng.
- Đoạn
thứ 32 nói về: Ứng hóa phi chơn. Kẻ nào dùng
của bố thí trong vô lượng A Tăng Kỳ thế
giới bằng bảy của báu và đối với
người phát tâm thọ tŕ kinh nầy cho đến 4 câu
kệ hoặc đọc tụng và v́ người khác
diễn nói th́ phước nầy hơn phước kia
rất nhiều.
Tất cả các pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh
Như sương mai, điện chớp
Nên quán theo như vậy.
Rơ ràng là mọi pháp hữu vi trên thế gian nầy
đều không thật tướng. Nó như mộng,
như huyễn, như bọt nước. Có đó rồi
mất đó. Nó giống như giọt sương ban mai
trông rất đẹp mắt; nhưng khi ánh thái
dương đến th́ tan đi. Điện chớp
cũng thế, lúc có lúc không; không hiện hữu. Do vậy
mà người tu theo pháp Bát Nhă phải thấy rằng:
Tất cả những cái ǵ c̣n đối đăi là c̣n
bị vô thường chi phối. Cái nào c̣n sanh diệt,
tức cái ấy không có thật tướng.
Sau khi nghe Đức Phật nói kinh Kim Cang Bát Nhă Ba La
Mật Đa rồi th́ Trưởng Lăo Tu Bồ
Đề, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu
Bà Di cùng tất cả trời người, A Tu La nghe
Phật nói đều hoan hỷ tín thọ và hành tŕ.
Quả thật những ai đă hữu duyên khi Phật
c̣n tại thế mà trực tiếp nghe được kinh
nầy và liễu ngộ được cái không để
chứng đắc và Phật c̣n nhắc nhở rằng
nếu sau 500 năm Phật nhập diệt rồi mà c̣n có
kẻ đọc tụng, giải nói, thọ tŕ th́ quả
rằng kẻ ấy c̣n có phước đức rất
nhiều. Nhiều hơn cả những kẻ đem vàng
bạc của báu nhiều như núi Tu Di để đem
đi bố thí trong suốt bao nhiêu A Tăng Kỳ Kiếp
trong tam thiên đại thiên thế giới nầy.
Chúng ta ngày nay sinh ra trong thời kỳ mạt pháp
nầy, cách Phật rất xa, đă hơn 2.500 năm
lịch sử rồi; nhưng nay có cơ duyên đọc
tụng kinh nầy, mà c̣n nói cho người khác cùng hiểu
nữa th́ quả thật trong vô lượng vô biên kiếp
về trước, chúng ta đă có nhân duyên với chư
Phật và chư vị Bồ Tát rồi.
Mặc dầu ở thế kỷ thứ 4 sau Thiên Chúa,
Ngài Huệ Viễn sáng tổ của Tịnh Độ Tông
Trung Hoa có viết quyển "Sa Môn Bất Kỉnh
Vương Giả Luận" tức là quyển
luận nói về việc các bậc tu hành không quỳ
lạy vua chúa và thuở ấy đă có nhiều sự bàn
căi tranh luận, nhưng măi về sau nầy những ông Vua
Phật Tử của Trung Hoa như Đường Thái
Tông, Thuận Trị, Khang Hi v.v... vẫn một mực tôn
thờ Phật Giáo và đă có nhiều lần Phật Giáo
là quốc giáo nơi đất nước hơn một
tỷ dân nầy.
Bây giờ Phật Giáo tại Trung Hoa không c̣n thịnh hành
như ngày xưa nữa. Âu đó cũng do vô thường
biến đổi; nhưng không v́ thế mà Phật Giáo
bị mất đi vị thế của ḿnh. Dẫu
biết rằng tất cả cũng chỉ là không và cái
không ấy Vạn Hạnh Thiền Sư, bậc Thầy
của Lư Công Uẩn tức Lư Thái Tổ đă để
lại bài kệ rằng:
Thân như bóng xế
chiều tà
Cỏ xuân tươi
tốt thu qua rụng rời
Sá chi suy thạnh
cuộc đời
Thạnh suy như
hạt sương rơi đầu cành.
Đó là một bài văn dịch tuyệt vời ra
tiếng Việt của cố Ḥa Thượng Thích Mật
Thể. C̣n nguyên văn chữ Hán như thế
nầy:
Thân như điện
ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh
thu hựu khô
Nhậm vận
thịnh suy như bố úy
Thịnh suy như
lộ thảo đầu phô.
Cái không ấy theo tinh thần Kim Cang Bát Nhă, Vạn
Hạnh Thiền Sư đă liễu triệt vào
đầu thế kỷ thứ 11 và măi đến thế
kỷ thứ 17 triều nhà Thanh, Vua Khang Hi ở Trung Hoa
lặp lại cũng không ngoài cái không ấy và bây giờ
chúng ta ở chốn trời Tây nầy nói và hiểu cái
không của Bát Nhă của Kim Cang cũng là cái không vô tướng
ấy.
Xin hồi hướng tất cả những
phước báu có được cho những ai khi
đọc qua bài lược giải nầy và nguyện
rằng tất cả nên trụ vào chỗ không trụ
ấy để thành tựu trí bát nhă.
Viết xong
trong mùa An Cư Kiết Hạ năm Ất Dậu 2005
tại thư pḥng Chùa Viên Giác Hannover, Đức quốc.
---
o0o ---
Tŕnh bày: Nhị Tường
Cập
nhật ngày: 01-10-2005