Bí
ẩn của pho tượng Phật chùa Bút tháp
15/08/2006
Source : Đến Từ Trái Tim
|
|
Pho
tượng nổi tiếng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay
ở chùa Bút Tháp chứa đựng nhiều "ẩn
ngữ", triết lý sâu xa. Nó cho ta biết nhiều nét
về quan điểm thẩm mỹ, nhân sinh quan và vũ
trụ quan của người Việt thời Hậu Lê,
nửa sau thế kỷ 17.
Tượng
Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp, Bắc Ninh, do
Trương Thọ Nam tạc và hoàn thành vào năm 1656,
thời Hậu Lê. Trên bệ tượng ghi:
Tượng
Quan Thế Âm bồ tát thiên thủ thiên nhãn - dân gian gọi
là Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, có thể xem là một vũ
trụ thu nhỏ, được sáng tác theo hệ
thống quy luật rất chặt chẽ. Đó là
những quy luật âm dương ngũ hành và bát quái, luôn
bao hàm các cặp phạm trù đối lập nhưng
thống nhất: Dương - Âm (thiện - ác, đỏ -
đen, sáng - tối, trời - đất). Để
bạn đọc nhận biết những mặt
đối lập trên bố cục tác phẩm của
Trương Thọ
1.
Tượng Quan Âm được làm theo thế tam tài giả,
tức là mối quan hệ tổng hòa thiên - địa -
nhân. Khi nhìn vào tượng, vòng tròn phía sau được
gắn gần một nghìn bàn tay, trong mỗi bàn tay
được khắc một con mắt, đó là biểu
tượng của Trời. Trời theo quan niệm ở
đây là vũ trụ thu nhỏ. Trong vũ trụ, cái thiện
được biểu tượng ở thế "tam
quang giả" tức là 3 cái sáng bao gồm: mặt
trời, mặt trăng và các vì sao.
Từ
xa xưa, người Việt cổ đã nhận thức
được mặt trời là trung tâm sự sống,
sức mạnh thần kỳ của nó được
thể hiện ở chính giữa trống đồng
Đông Sơn. Ở pho tượng này, tác giả cũng
đặt mặt Quan Âm vào trung tâm của pho tượng.
Mặt trời là mặt Phật Quan Âm nổi bật
nhất, sáng ngời, đầy vẻ từ bi hỉ
xả. Mặt trời ở đây được thể
hiện là bình minh, những tia sáng chiếu tỏa lên trên
chứ không tỏa ngang, ý nói: Cái thiện là thế đang
đi lên, có sức mạnh chiến thắng, biểu
tượng cho văn minh xã hội. Mặt trời sáng
ngời còn biểu tượng cho trí tuệ đức
Phật Quan Âm đi khắp muôn phương xua tan bóng
tối. Những kẻ có hành vi ám muội cũng không
thể che nổi mắt Phật. Để diễn tả
thâm ý này, tác giả đã khắc con mắt trong lòng bàn tay
biểu tượng cho hàng nghìn vì sao trong thiên hà. Tất
cả con số trên pho tượng đều là số
lẻ, hơn 900 bàn tay và hơn 900 con mắt. Tác giả cho
rằng số 1.000 là số chẵn, âm, tĩnh, không phát
triển. Số lẻ, dương, động và phát
triển không ngừng. Điều đó có nghĩa là trong
vũ trụ có vô vàn vì sao đang quan sát trần gian.
2.
Trên đã có trời, hình tròn, động, thuộc
dương, nên dưới hệ tượng
được biểu hiện cho đất, tĩnh,
thuộc âm; hình vuông, nối giữa trời và đất là
người - nhân vật Quan Âm. Trời, đất,
người là 3 thế lực siêu nhiên trong vũ trụ,
có sức sáng tạo không ngừng. Con rồng đen
dưới tòa sen là Hắc Long dưới Biển Đông,
tượng trưng cho cái Ác. Tượng Quan Âm nghìn
mắt nghìn tay ngồi trên tòa sen, cả tòa sen lại
đặt trên đầu con rồng đen, tượng
trưng cho cái thiện bao giờ cũng ngự trị cái
ác. Hai cánh tay của con rồng chỉ đỡ hờ vào
tòa sen tạo nên một bố cục chặt chẽ, nó còn
nói lên một điều rằng: Cái ác cũng có một
sức mạnh phi thường, chỉ một cái
đầu cũng đủ đội cả toàn
tượng lên trên. Trên mũ của Quan Âm có 3 tầng
đầu, mỗi tầng có 3 đầu, đầu
thứ 9 là Phật A Di Đà - tượng trưng cho cõi
Niết bàn. Như vậy, mỗi cái đầu là biểu
tượng của một tầng trời. Điều thú
vị là A Di Đà cùng với con chim Thiên Đường
ở phía sau được gắn với hai cái đầu
(số 2 thuộc âm, biểu tượng cho linh hồn
của người đã chết siêu thoát ở cực
lạc). 3 cái đầu đó chụm lại gợi cho ta
về cõi tam thế "quá khứ - hiện tại -
tương lai".
3.
Trong các chùa, 3 ngôi tam thế bao giờ cũng
được đặt ở ngôi cao nhất. Trong
nghệ thuật bố cục, Trương Thọ
4.
Trong bố cục của pho tượng này, những cánh
tay được sắp xếp tuy phức tạp
nhưng lại rất nhất quán về phương pháp
biểu hiện theo quy luật. Có 3 phương pháp cơ
bản để biểu hiện ý nghĩa của thế
tay: Thứ nhất là hai bàn tay chắp trước
ngực, đó là ý chí của con người, tâm niệm làm
điều thiện. Thứ hai là 42 cánh tay gắn ở hai
bên hông tượng tỏa ra nhiều hướng hàm ý
muốn thắng được cái ác phải sử
dụng cả văn lẫn võ (những cánh tay bên phải
biểu tượng cho văn, những cánh tay bên trái
biểu tượng cho võ). Thứ ba là thế tay của
Quan Âm nâng niu mặt trăng trước tâm của mình,
tượng trưng cho sự soi xét tự kiểm.
Để tu hành đắc đạo, chúng sinh phải có
lòng kiên nhẫn, tu hết đời này truyền sang
đời khác, cây đức trồng càng lâu thì phúc càng dày.
Hai cánh tay để trên đùi của Phật biểu
tượng cho ý chí kiên định tạo nên thành
quả.
5.
Tượng Quan Âm ra đời trong một hoàn cảnh
lịch sử đã chín muồi: Tác giả Trương
Thọ Nam đã tiếp thu và nâng nghệ thuật của
pho tượng này lên đỉnh cao bởi giao lưu
với nền nghệ thuật điêu khắc Ấn
Độ, nền điêu khắc Chăm, nhất là
những cánh tay của Phật như những cánh tay vũ
nữ thanh khiết của Chăm. Trang phục của Quan
Âm được tác giả chuyển sang hình khối,
bố cục đường nét rất lãng mạn theo
phong cách Việt Nam mà ông đã tiếp thu được
từ nền nghệ thuật Lý - Trần qua cách mô tả
sen. Sen thời Lý được chạm rồng trên các cánh
hoa, sen thời Lê được chạm khắc theo
những nét lửa Lê - ngọn lửa của truyền
thống chống ngoại xâm.
Ở
châu Á, đạo Phật khởi nguồn nên chủ
đề "Quan Âm nghìn mắt nghìn tay"
được tạc ở một số nước,
nhưng tác phẩm do nhà điêu khắc thiên tài
Trương Thọ Nam sáng tác có nội dung hoàn chỉnh
bậc nhất về thế giới quan và nhân sinh quan theo
quan điểm Phật giáo truyền thống, có hình
thức nghệ thuật đạt được sự
hoàn mỹ tuyệt vời. Pho tượng này đã
đạt giải đặc biệt khi tham gia triển
lãm nghệ thuật Phật giáo Quốc tế tại
Ấn Độ năm 1958.
Họa sĩ, nhà điêu
khắc