Bắt trẻ đồng xanh
Quán Như
Source : Chuyển Luân
Bắt Trẻ Đồng Xanh và Câu Chuyện Của Dòng Sông
được Phùng Khánh và Phùng
Thăng dịch và do nhà xuất bản Lá
Bối phát hành khoảng năm 1964-65. Hai tác
phẩm này một sớm một chiều
được thanh niên sinh viên thời bấy
giờ chào đón nồng nhiệt và,
cùng với một số tác phẩm của
Nhất Hạnh, đã tạo ra một không
khí hứng khởi cho phòng trào về
nguồn, trở lại nghiên cứu các giá
trị tinh thần của dân tộc Việt Nam,
nhất là Phật Giáo.
Nguyên tác
của Bắt Trẻ Đồng Xanh là quyển
The Catcher in the Rye của J.D. Salinger đã
được xuất bản lần đầu từ
năm 1951, nghĩa là hơn một thập niên
trước khi bản việt dịch xuất hiện.
Tác phẩm được các nhà phê
bình văn học trên New York Times, San Francisco
Chronicle, Philadelphia Enquirer và Times khen ngợi
như là một tác phẩm nổi bật
nhất trong năm và nhân vật Holden Caulfield
dần dần trở thành thần tượng
của thanh niên Mỹ trong nhiều thế hệ.
Vì Holden Caulfield chửi thề luôn miệng
và có khuynh hướng chống đối
lại các giá trị cổ truyền như
Ki-Tô giáo, tờ báo The Christian Science Monitor
và The Catholic World chỉ trích Salinger
cố tình cổ động cho một lối
sống “thiếu đạo đức”. Tuy
nhiên những lời chống đối yếu ớt,
dựa trên tiêu chuẩn luân lý sắp
sửa bị thanh niên Mỹ ruồng bỏ, không
làm giảm mức độ hấp dẫn và
chinh phục độc giả của The Catcher in the Rye
trong một thời đại mà bị hấp
lực của phong trào hướng về Đông
Phương “Go East Young Men” vào các năm
cuối thập niên 50. Trong vòng 3 tháng, The
Catcher đã trở thành một tác
phẩm bán chạy nhất trong danh sách của
tờ Times và tiếp tục qua mặt của
các tác giả cổ điển tài danh
khác như James Jones, tác giả From Here to Eternity.
The Catcher đồng thời được xuất
bản ở Anh và cũng được các
nhà phê bình Anh khen ngợi, mặc dù
trước đó nhà xuất bản lo ngại
độc giả Anh có thể có phản ứng
tiêu cực vì lối văn “nói”
và phương ngữ của Mỹ. Ba năm sau khi
bản dịch tiếng Việt của Phùng Khánh
ra đời (1965), tức là vào năm 1968, the
Catcher in the Rye được xem như là một
trong năm tác phẩm bán chạy nhất trong
lịch sử văn chương Mỹ kể từ
năm 1895. Hiện nay mỗi năm vẫn còn 250
ngàn độc giả bỏ tiền ra mua các
ấn bản mới. The Catcher hiện nay
được đưa vào danh sách các
tác phẩm giáo khoa dành cho học sinh trung
học nghiên cứu. Năm ngoái khi đứa con
trai của tôi mới học lớp 9 được
cô giáo bảo đọc và phê bình The
Catcher, tôi có hơi ghen tỵ với nó
một chút. Cũng như các thanh niên
thời đó, tôi chỉ được
đọc The Catcher sau khi đã học xong
đại học, qua bản dịch của Phùng
Khánh. Tôi cho đứa con mượn toàn
bộ tác phẩm của Salinger, cùng với
các tác phẩm phê bình và hồi
ký của đứa con gái Salinger, bà Margaret.
Tôi thú nhận là hể có ấn bản
mới của The Catcher phát hành là
tôi mua để trên kệ sách và
hiện có ít nhất là bốn ấn
bản The Catcher khác nhau. Đứa con tôi
hạ một câu “You are crazy, Dad!” Nó
không hiểu được mức say mê của
thế hệ trẻ chúng tôi bấy giờ
đối với Holden và Phoebe, và riêng
tôi, tôi cám ơn Phùng Khánh rất
nhiều.
Nhân vật chính,
Holden Caulfield, lấy từ tên của một cô
đào chiếu bóng sau thế chiến thứ
hai, Joan Caulfiel, mà Salinger xem như là
người “trong mộng”. Holden Caulfield,
mới 16 tuổi, cũng như các thanh thiếu
niên khác, đang trải qua cơn khủng
hoảng tâm linh. Anh vừa biết tin bị
đuổi khỏi trường vì thi rớt tất
cả mọi môn, trừ môn Anh ngữ. Ông
Hiệu Trưởng sẽ gởi thư báo tin cho cha
mẹ anh vào ngày thứ Tư, ngày cuối
niên khóa. Tuy nhiên Holden quyết định
rời trường vào chiều thứ Bảy
và lấy xe lửa về
Tôi tưởng
tượng có nhiều đứa trẻ đang
chơi một trò chơi nào đó
trên một cánh đồng lúa lớn.
Hàng ngàn em, hàng ngàn em đều nhỏ
như nhau, không có một người lớn
nào ở gần đó - trừ tôi. Công
việc duy nhất của tôi là chờ sẵn
ở đó và hễ khi có một em nào
vô ý sẩy chân và sắp sửa rơi
xuống từ vách đá, tôi đứng
sẵn ở đó và dơ tay đón
bắt từng em. Cả ngày tôi chỉ làm
chừng nấy công việc. Tôi chỉ làm
công việc bắt trẻ đồng xanh. Tôi
biết đó là một điều điên
rồ, nhưng đó là công việc duy
nhất mà tôi thích làm!
Bảo vệ các em khỏi ngã xuống vách
đá có nghĩa là bảo vệ sự
ngây thơ thuần khiết để các em, để
khi “lớn lên” các em đừng biến
thành phonies như biết bao người mà
Holden đã gặp. Holden rất cô đơn
mặc dù sống ngay giữa thành phố
không bao giờ ngủ,
Cũng như thế
hệ hippies vào các năm 60, Holden không
phải là người lạnh nhạt, quay mặt
lại với đời sống. Trái lại anh
yêu vô cùng đời sống, trang trọng
và nhạy cảm đối với người
khác, yêu tuổi thơ và muốn sống
vô tư, tự nhiên và trung thực. Anh
chống đối các hình thức trói
buộc về luân lý và xã hội do
chính những phonies đặt ra. Cả một
thế hệ yêu cuồng sống vội, váy
ngắn tóc dài không phải là một
thế hệ thiếu lý tưởng hay thấy
đời sống vô nghĩa, đó chỉ
là một thái độ phản kháng
quyết liệt lại những phonies mà họ
kinh tỡm. Chính ra thế hệ hippies là
những người vô cùng nhạy cảm,
nhất là đối với những khổ đau
của người khác. Họ bắt đầu
thấy thấp thoáng anh sáng Châu Á
và kỳ lạ thay, họ sống như những
Phật Tử, bởi không ai có thể tự
gọi mình là Phật Từ nếu không
nhạy cảm với những khổ đau của
người khác. Nếu không nhạy cảm
với người khác, làm sao các thanh
niên Mỹ vào thập niên 60 và 70 dám
hy sinh chuyện học hành, sự nghiệp, cả
đến mạng sống, xuống đường
biểu tình chống chiến tranh, đem hoa cài
trên đầu họng súng, thách thức
các toán Vệ Binh Quốc Gia “Make Love, Not
War”.
Có tới ba lần
trong The Catcher, Holden tỏ ý ‘lo lắng’
cho mấy con vịt trong hồ ở công viên
Lúc còn trẻ
luôn hăm hở xông vào con đường
công danh sự nghiệp, hay mơ tưởng mấy
người đẹp da trắng tóc dài, tôi
cũng có kết luận tương tự khi
đọc các bài thơ Đường, như
bài Xuân Hiểu của Mạnh Hạo Nhiên:
Dạ lai phong vũ
thanh
Hoa lạc tri đa thiểu
Đêm qua mưa gió tơi bời
Biết rằng hoa cũng có rơi
ít nhiều.
(Trần Trọng Kim dịch)
Mấy ông thi sĩ
đời Đường không có chuyện
gì làm sao lại lo cho mấy chùm hoa rụng
đêm qua?
Ai cũng biết
các đệ tử của Phật lúc đi
khất thực phải cúi nhìn xuống đất
để tránh dẫm lên các côn
trùng. Trong mùa mưa họ phải ở lại
tịnh thất vừa để tu tập, vừa
tránh đi ra ngoài đường mấy
tháng mưa, mùa côn trùng bò lên
sống ngổn ngang trên mặt đất. Nếu ai
nghĩ Đức Phật lo lắng thái quá cho
các loài côn trùng sâu bọ, sẽ còn
bị “sốc” hơn nữa khi Đức
Phật dạy các đệ tử trước khi
uống một ly nước lạnh, phải niệm
chú vãng sinh cho 64 ngàn vi sinh vật sống
trong đó. Holden và người tài xế
tắc-xi chỉ lo lắng cho mấy con vịt và con
cá xem ra còn đở “lẩm cẩm”
hơn Đức Phật! Chừng nào chưa hiểu
đức “hiếu sinh’ của tư tưởng
Đông Phương, hay vẫn còn đem tâm
để hình hài sai khiến, nhiều
người vẫn còn xem mấy chuyện này
là mấy chuyện lẩm cẩm!
Holden dĩ nhiên
không những nhạy cảm với mấy con vịt,
anh cực kỳ nhạy cảm với những
người chung quanh, dù biết họ là
những phonies. Anh lúc nào cũng rộng
rãi với bạn bè, sẵn sàng cho họ
mượn những vật dụng riêng tư của
mình, kể cả Stradlater, người bạn
cùng phòng mà anh đã đánh
lộn. Sở dĩ anh đánh nhau với tên
này chỉ vì anh nghi ngờ y dở trò chim
chuột sở khanh với một cô láng giềng
cũ. Và cô ngày chỉ là một cô
láng giềng, chớ không phải bồ bịch
gì của anh.
Khi gặp hai bà
sơ ở gần nhà ga, anh đề nghị
tặng hai bà sơ 10 đồng (hơn nửa
số tiền mà anh có trong túi) mặc
dù hai bà sơ chỉ đi nhận nhiệm
sở dạy học, chớ không có đi
quyên tiền. Sau đó Holden cứ ân hận
mãi về chuyện anh hổn láo phà
khói thuốc vào mặt hai bà sơ.
Đêm Chủ
Nhật, sau khi lẻn về thăm Phoebe, Holden gọi
điện thoại cho một thầy cũ để xin
ngủ nhờ một đêm. Ông là
người duy nhất trong cuốn truyện mà Holden
thích và kính trọng. Holden trước
đó chứng kiến cảnh ông thầy săn
sóc một học sinh bị một nhóm học
sinh du đảng khác uy hiếp, đến nổi
phải nhảy xuống lầu. Chính ông này
đã tự cởi áo đắp lên
người nạn nhân và mang em đến bịnh
xá cấp cứu, trong khi các người
khác cố tình lảng tránh. Nửa
đêm khi Holden giật mình tỉnh dậy, anh
cảm thấy bàn tay của ông thầy mà
anh kính mến đang mân mê trán mình.
Có thể ông thấy là một thứ
bi-sexual pervert thứ thiệt, nhưng Holden cứ băn
khoăn sợ mình có hiểu lầm thái
độ của thầy không.
Trong The Catcher, anh
đã châm biếm, chế diễu, chửi
thề những phonies này.Thế nhưng Holden
không hề ghét bỏ mà chỉ thương
hại họ. Đến cuối quyển sách, Holden
hối tiếc việc anh đã kể một câu
chuyện dính líu tới nhiều người. Anh
còn cảm thấy “nhớ” tất cả
mọi người mà anh nhắc tới trong
chuyện, kể cả tên ma cô Maurice.
Một nhà văn
khác cũng nhắc đến sự thanh khiết
của trẻ em là Saint-Exupéry trong The Little
Prince. Tuy nhiên Hoàng Tử Bé của
Saint-Exupéry đến từ một tinh cầu
khác. Sự tương phản giữa hồn
nhiên và “ người lớn” của
Saint-Exupéry có tánh cách triết lý
hơn. Đó là sự khác nhau giữa
những gì cao cả và tầm thường
của đời sống. “Người lớn”
bị đời sống điều kiện hóa,
không còn có cái nhìn trong sáng như
trẻ con, mà chỉ thấy toàn những con
số. Khi trẻ con mô tả một căn nhà
gạch hồng, với giàn hoa phong lữ đỏ
thẫm trên khung cửa sổ, có các con
bồ câu đang gật gù trên mái
nhà, người lớn chỉ quan tâm xem căn
nhà đó trị giá bao nhiêu tiền.
“Người lớn” là một người
chưa bao giờ ngữi thấy mùi hoa bưởi
hoa cau, chưa hề “thấy” trăng sao, chưa
bao giờ nhìn rõ khuôn mặt người thân.
“Người lớn” là những người
mù vì không bao giờ chịu nhìn
người khác và sự vật bằng tâm
hồn của mình. Saint-Exupéry cũng cho
Hoàng Tử Bé về quê nhà ở một
tinh cầu xa bằng ẩn dụ con rắn trong
vườn địa đàng, khi con người
đánh mất hồn nhiên.
Salinger, hay Holden,
trái lại đang sống trong cõi ta bà,
giữa thành phố
Phoebe là
người duy nhất dám thách đố Holden
và Holden phải chịu khó trả lời. Khi
bị Phoebe căn vặn yêu cầu Holden cho cô
biết tên một người hay một việc
nào anh thích, Holden không nghĩ ra
được một người nào. Cuối
cùng anh phải chống chế, nhắc đến
Allie, và Phoebe. Khi có ý định muốn
bỏ đi một nơi thật xa, Phoebe là
người duy nhất mà Holden muốn đến
từ giã trước khi lên đường
đi tìm giấc mộng. Và Phoebe cũng là
người duy nhất làm anh khóc sướt
mướt khi cô bé đưa cho anh
“mượn’ tất cả tiền mà cô
được cha mẹ cho trong dịp lễ giáng
sinh. Có lẽ cô bé đếm tiền
từng xu, từng ngày. Cô nói:
“Đây, tám đồng tám mươi
lăm xu”. Nhưng Phoebe đính chánh ngay:
“Tám đồng sáu mưới lăm xu! Em
có tiêu một ít rồi!”
Thình lình
tôi bật khóc làm nhỏ Phoebe sợ
quá. Nhỏ Phoebe choàng tay và dỗ dành
cho tôi nín, nhưng một khi bắt đầu
khóc, không ai có thể ngừng
được. Phoebe choàng tay ôm tôi và
tôi cũng choàng tay ôm cô bé và
một lúc lâu sau tôi mới nín khóc
được.
Người thứ hai
Holden có thể “nói chuyện”
được là Allie, đứa em đã qua
đời. Sau khi ngủ một đêm ở nhà
ga, Holden đi dọc theo đại lộ Thứ Năm,
để đến bảo tàng viện chờ em.
Holden có thể đã bị trãi qua quá
nhiều biến cố trong hai ngày, tinh thần
của anh như một dây đàn căng
thẳng quá độ. Khi băng qua đường
anh có một ảo giác là anh sẽ không
bao gìờ đến được lề bên
kia. Anh có cảm tưởng anh càng ngày
càng lún dần, lún dần và cuối
cùng biến mất không còn ai thấy anh
nữa. Gate, gate, para samgate. Và anh đã
làm một chuyện mà từ trước tới
giờ anh chưa hề làm. Khi gần tới bờ
bên kia, anh “khẩn cầu” Allie: “Allie
đừng để anh biến mất. Allie đừng
để anh biến mất”. Và khi đến
bờ bên kia, Holden nói: “Cám ơn em,
Allie”. Bodhi-sattva. Khi qua được bờ
bên kia, Holden ngồi xuống một băng đá
và quyết định sẽ không về nhà
nữa, sẽ bỏ đi một nơi thật xa,
một nơi không có ai biết anh. Anh sẽ
giả làm một người vừa câm vừa
điếc và như thế anh sẽ không cần
phải nói chuyện với bất cứ một
người nào khác. Anh sẽ dành dụm
tiền để xây một căn nhà gỗ ven
rừng, và nếu có muốn lập gia
đình, anh sẽ lấy một người
đàn bà đẹp, cũng vừa câm vừa
điếc khác. Và trong lúc đó
chỉ có một người duy nhất trên
đời mà anh muốn đến từ biệt
là Phoebe.
Đoạn cuối
tả cô bé Phoebe xách va-li cũ cồng
kềnh để đi theo anh về miền rừng
núi Colorado là một đoạn văn tuyệt
đẹp, theo tôi, còn xúc động hơn
đoạn văn tả cảnh biệt ly giữa
Saint-Exupéry và Hoàng Tử Bé. Phoebe
giận anh vì lần đầu tiên bị Holden
mắng “câm miệng lại”. Phoebe đi
bên kia đường trong khi Holden đi bên
này đường, hướng về phía
sở thú. Nhưng hai người luôn trông
chừng nhau vì sợ lạc. Khi đến
chổ có trò chơi cỡi mấy con ngựa
gỗ, Phoebe hết giận anh và lên cưỡi
ngựa. Trời bỗng đổ mưa như trút
nước. Holden ngồi trên băng đá “Người
tôi ướt đầm đìa. Nhưng tôi
bất cần. Thình lình tôi cảm thấy
vô cùng hạnh phúc. Như trong
lời hát của một bản nhạc phản
chiến vào các năm 60 “It’s Happening
Now”. Giả sử như một người
chợt ngộ, họ có cảm giác như
thế nào? Tôi nhớ trận mưa rừng
Nhất Hạnh đã tả trong Nẻo Về
Của Ý.
Phùng Khánh
dịch tác phẩm Câu Chuyện Của
Dòng Sông của Herman Hess là điều
dễ hiểu. Nhưng Bắt Trẻ Đồng Xanh?
Trong câu chuyện, Holden cũng như các thanh
thiếu niên mới lớn khác văng tục
“không ngừng da non”, nghịch ngợm
phá phách đủ mọi cách, đánh
nhau. Trong hai ngày ở
Salinger là một
nhà văn có cuộc đời bí hiểm
và khó hiểu nhất, so với những nhà
văn Mỹ khác. Sau The Catcher ông viết
thêm một tuyển tập truyện ngắn và
một chuyện dài khác, Seymour, An Introduction
và khi danh vọng đang lên như diều và
tác phẩm bán chạy nhất trong lịch
sử văn chương Mỹ, ông đã
không xuất bản thêm một tác phẩm
nào khác, hoàn toàn cắt đứt
liên lạc với thế giới bên ngoài. Có
lẽ ông theo gương Tổ Đạt-Ma, ngồi
diện bích từ hơn 40 năm nay trong một trang
trại ở Cornish,
Con gái của
Salinger, bà Margaret, trong Dream Catcher, gần
đây đã hé lộ một vài quan
niệm về sáng tác và đời sống
cuả ông. Đối với ông, “viết
văn là một cuộc hành trình đi
tìm giác ngộ?” và ông muốn
dành cả cuộc đời để thực
hiện một tác phẩm lớn, và tác
phẩm này không gì khác hơn là chính
cuộc đời của ông. Như Rilke hay Holderlin,
viết văn và làm thơ là một
cách sống, một cách ở đời,
không phải là một trò nhai văn nhá
chữ, kể lể nhảm nhí. Và nói theo
thuật ngữ của Phật Giáo, đó
là một “pháp môn”. Margaret cũng
tiết lộ là Salinger có lần dự
định “xuất gia” thành một tỳ-
kheo, đã từng làm bạn với D.T. Suzuki,
từng ngồi thiền nhiều lần có lẽ
dưới sự hướng dẫn của Suzuki tại
thiền thất Thousand Islands. Tuy nhiên, Margaret kể,
Salinger bổng nhiên đổi cách tu tập, theo
một pháp môn Ấn giáo Vedanta, dưới
sự hướng dẫn của tu sĩ
Bà-La-Môn, Swami Nikhilananda. Trong khi Phật giáo
khuyến khích sa-môn nên dành cả
cuộc đời tu tập bằng cách “cát
ái từ thân”, tuy nhiên không có
thái độ quyết liệt về tình dục
như giáo lý Vedanta. Đạo Phật cũng
kính trọng phụ nữ (Ma Đằng Gia Nữ sau
này cũng thành một đệ tử của
Phật và là sư đệ của A Nan!), trong
khi phái Vedanta xem “vàng và phụ
nữ” là những trở ngại lớn lao cho
việc giác ngộ. Có lẽ vì thế
các nhân vật của Salinger ít “phóng
túng” hơn các nghệ sĩ trong Thiền
Beat sau này.
Salinger từ
nhỏ nghĩ mình gốc Do Thái, nhưng sau
đó khám phá bên mẹ thuộc di
dân Ái Nhỉ Lan Thiên Chúa giáo. Sau
thế chiến thứ hai, di dân Do Thái và
Ái Nhỉ Lan ở Mỹ vẫn còn bị kỳ
thị nặng nề. Trong một vài khu thương
mại ở Brooklyn New York, trên cửa sổ của
các cửa hiệu vẫn còn trưng bày
những thông báo “cấm dân Do Thái
và Thiên Chúa” không được
vào. Trong The Catcher, Holden nhiều lần lo
lắng bị người khám phá anh không
phải là người Thiên Chúa giáo. Khi
anh gặp hai bà sơ, anh lo sợ hai bà sẽ
hỏi về tôn giáo của anh. Ảnh
hưởng của ánh sáng Ðông
Phương, nhất là Phật giáo, trong các
năm đầu thập niên 50 (Bắt Trẻ
Đồng Xanh phát hành lần đầu
năm 1951) mở cửa cho một thời kỳ mà
nhiều học giả gọi là thời chuyển
pháp luân lần thứ Tư, phần lớn
ở Tây Phương, nhờ những nhà văn hippies
này. Đây là thời kỳ Phật giáo
không còn được xem như những công
trình nghiên cứu kinh viện của các
học giả già lụ khụ. Phật giáo
hiển hiện như một đoá hoa nhiều
mầu sắc rực rỡ, đầy thách thức
và có sức hấp dẫn mời gọi.
Các hộ pháp thường không phải
là các nhà sư nghiêm trang trong chiếc áo
tràng, mà là các văn nghệ sĩ On
the Road. Các học giả Beat sau này
đã trở thành những giáo thọ hay
học giả Phật giáo nổi tiếng, như
Robert Aiken và Philip Kapleau. Nhưng nhóm văn
nghệ sĩ chịu ảnh hưởng của Thiền
trong sáng tác đã định tính cho
mối liên hệ giữa văn nghệ và
Phật giáo. Các văn nghệ sĩ Beat
đã mở cửa cho một nhân sinh quan mới,
một lối sống ngông cuồng kiểu Hippies,
nổi loạn và phá vỡ những khuôn
khổ ước lệ “đạo đức
giả” cùng một lối sáng tác
cực kỳ phóng túng. Ba người khai
sáng phong trào Beat sau này đã
trở thành những nhà văn, nhà thơ
nổi tiếng cũng như là những vị
chuyển luân pháp vương thời đại
của nước Mỹ. Jack Kerouac, sau On The Road,
biểu trưng “cho thế hệ thanh niên
Mỹ vào thập niên 50 sống loạn cuồng
trong âm nhạc và tình dục, thách
đố các khuôn mẫu cũ kỷ”.
Thế hệ Hippies chủ trương “Make
Love, Not War” sau này cũng là thành
phần chủ lực của phòng trào sinh
viên phản chiến Mỹ. Đây là
những Dharma Bums, tạm dịch là những
Phật Tử hippies, cà nhõng, lờ
quờ (chữ của sinh viên trong phong trào
tranh đấu 63-66 hay dùng để đùa
với nhau). Gary Snyder chủ trương vừa thực
tập thiền quán vừa làm tình tập
thể, sau đó cặm cụi ngồi dịch
thơ Hàn San, ông sư đã khắc các
bài thơ trên vách núi để
vượn và khỉ đọc! Cô Tô
thành ngoại Hàn Sơn Tự. Dạ bán
chung thanh đáo khách thuyền. Khi đến
tuổi tri thiên mệnh, Snyder tổ chức một
thiền thất, vẫn tiếp tục dịch thơ
Hàn San và được trao giải Pulitzer về
thơ năm 1974. Thi sĩ Ellen Ginsberg được xem
như một Walt Witman. So với các tác phẫm
của Beat, Bắt Trẻ Đồng Xanh
còn quá hiền lành. Khi làm việc ở
Vạn Hạnh, tôi thấy có một quảng
cáo Thiền Beat, Thiền Square trên
tập san Tư Tưởng. Tuy nhiên quảng
cáo này biến mất ngay số sau đó
và không bao giờ xuất hiện cả. Các
tăng già Việt Nam ở thập niên 60, tuy
“cấp tiến” về mặt hành
động, nhưng cũng giống như các
thiền sư dòng Thiền Square chính
thống, tâm tư chưa đủ chín
mùi để chấp nhận các bồ tát
hippies. Ngay cả một học giả “lão
thành” của
Tình trạng tinh
thần của thế hệ thanh niên Việt Nam
vào thập niên 60, theo tôi, cũng tương
tự như tâm trạng các thanh niên Mỹ
mười năm trước đó. Sau khi chánh
phủ Diệm bị lật đổ, phong trào
đọc Thiền, nghiên cứu triết lý
Thiền, thực tập Thiền, làm thơ Thiền
được phát động rầm rộ. Phật
Tử, nhất là những người thuộc phong
trào sinh viên, văn nghệ sĩ và trí
thức, rủ bỏ được một gánh
nặng ngàn cân của các hình ảnh
ảnh tiêu cực về Phật giáo, những
nghi lễ nặng nề, những cách tu tập
mê tín. Tình trạng này một phần do
ý đồ của các thế lực thân thực
dân, một phần do chính những người
hoằng pháp không dám “đổi
mới” để đủ khế cơ thu phục
lòng tin của thế hệ thanh niên lúc
bấy giờ. Thoát nhiên những tác phẩm
với cái nhìn “đợt sóng
mới” hợp với tâm thức những
người trẻ, khiến đạo Phật xuất
hiện như cành hoa thược dược
“mỉm nụ nhiệm mầu”. Nụ nhiệm mầu
đã hiện diện từ khi Ca Diếp
“niêm hoa vi tiếu” nhưng chưa đủ
khế thời để nở rộ trong đám
thanh niên tân học. Các văn nghệ sĩ
Phật Tử tụ họp trên các tờ Hải
Triều Âm, Giữ Thơm Quê Mẹ,
các nhà nghiên cứu trẻ trên tờ Tư
Tưởng Vạn Hạnh, đó là chưa
kể đến những nhà thơ đánh
võ “vô chiêu” như Bùi Giáng,
nói pháp mà không hề dùng pháp
ngữ và pháp thoại của đạo
Phật. Hay những bài thơ “hữu
chiêu” của Phạm Thiên Thư nồng
nàn không thua gì các bài thơ của
Tô Man Sự. Trụ Vũ đã nhận xét
“Hòn sỏi nào cũng thuyết Pháp Hoa
Kinh”, hay như Phạm Duy “một cành củi
to, một tờ lá uá, một hạt bụi
mờ” cũng là Pháp. Đó là Beat
Generation của Việt
Chị Phùng Khánh
ơi, tôi không muốn kêu chị là Sư
Bà, là Ni Trưởng, chỉ muốn kêu
chị bằng chị Phùng Khánh. Tôi
nhỏ hơn chị vài tuồi và là
bạn của Phùng Thăng. Tôi rất vừa
ý với lời phân ưu trên Chuyển
Luân do anh Hoàng Nguyên Nhuận thảo ra. Anh
Nhuận bày tỏ sự thương tiếc một
người chị của thế hệ 63. Những
danh xưng Sư Bà, Ni Trưởng, Hòa
Thượng, Pháp Sư hay Thượng Thủ
nặng nề quá, chị mang theo làm chi cho
mệt. Hơn nữa một Bồ Tát hoá
thân như chị không nên lẫn lộn
với một số Hoà Thượng, Hội Chủ,
Thượng Thủ hay Pháp Sư phonies làm
gì. Để chỉ thảnh thơi, nhẹ
nhàng bắt trẻ đồng xanh với
cái tâm không phân biệt. Trong đời
hành đạo, tôi nghĩ chị cũng có
lúc gặp nhiều phony bastards như Holden
đã gặp. Nhưng ai chị cũng bắt,
cũng cứu. Bồ Tát mà còn phân
biệt thì đâu còn Bồ Tát nữa.
Đối với chị ai cũng là trẻ
đồng xanh, cần bắt khi họ rơi
khỏi vách đá. Chúng sanh vô biên
thề nguyện độ.
Tôi nghĩ đó là công việc duy
nhất mà chị cũng như Holden muốn làm,
ở bên này bờ, cũng như ở bên kia
bờ. Happy Catching, chị Phùng Khánh.
Quán Như
Sách đọc trước khi
viết:
-R. Fields. How the Swans Came to the
-I.
-C. Ingram. In The Footsteps of Gandhi. Parallax
Press,
-J. Kerouac. On the Road. Penguin Books, ấn
bản 1991.
-J. Kerouac. The Dharma Bums. Flamingo, 1994.
-A. Saint-Exupéry. The Little Prince.
Penguin Books, 1998.
-J.D, Salinger. The Catcher in the Rye, Penguin
Books, ấn bản 1994.
-M. A. Salinger. Dream Catcher.
-Tricycle, The Buddhist Review, Fall
1995. Fourth Anniversary edition.