|
BAO GIỜ CHO ĐẾN BỜ MONG ĐỢI?
Nẻo Xa
Một hôm tôi ngồi dưới ánh đèn khuya leo lét giữa đêm
đông lạnh giá, ở bên ngoài trời cơn mưa rả rích. Lúc ấy tôi lại
cất tiếng lên than rằng! Thật chưa từng có một mùa đông nào đơn
lẻ mà quạnh hiu hơn đêm đông này. Trong lòng tôi chợt tuôn trào
một luồng suy tư về những tháng ngày kỷ niệm thật đẹp, khi tôi
còn là một học Tăng ở dưới mái trường Trung Cấp Phật học. Cái
thời của tôi ấy! tương lai ở phía trước cứ mờ mờ ảo ảo như một
đêm đông mưa nhiều mà không có ánh trăng vậy. Ngày đó chính bản
thân tôi cũng là một Tu sĩ đang theo học Phật, nhưng cũng không
khỏi miên man suy nghĩ khi cảnh vật xung quanh mình trở nên vắng
lặng như thế?
Nói đến đây, ngày xưa Cụ Nguyễn Du cũng có một tâm
trạng buồn tương tự vì mỗi khi Ông đứng trước những thách thức
của cuộc đời mình mà không tự tìm được một lối thoát trong tâm,
cho nên Ông đã viết nên hai câu thơ sau:
“Cảnh nào cảnh chẳng
đeo sầu
Người buồn cảnh có vui
đâu bao giờ”
Có thể nói rằng trên cuộc đời này không có khi nào
mà trong tâm của chúng ta vừa ý cả. Bỡi vì cái gốc là do chúng
ta chưa thoát ra khỏi sự ham muốn về ngũ dục. Vậy ngũ dục là gì?
Năm món này có ích lợi hay tác hại gì cho con người chúng ta
không? Năm món dục đó là (tài, sắc, danh, thực và thì); nghĩa là
tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, nhu cầu ăn uống và ngủ nghỉ. Nên ở
góc độ danh lợi hay quyền lực thì con người luôn luôn tìm cầu
không biết bao nhiêu cho đủ. Đó là nói một cách mang tính chất
chung, còn xét riêng về mặt cá nhân từng con người thì năm thứ
dục lạc đều tỏ ra sự ham muốn vô bờ bến.
Sở dĩ khi xưa Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni mà tiền thân của Ngài là Bồ Tát Hộ Minh ra
đời là vì Ngài quán thấy tất cả các loài chúng sanh đang chìm
đắm trong biển khổ của tam giới (dục giới, sắc giới và vô sắc
giới) luân hồi. Cho nên bản hoài Từ Bi vô lượng của Chư Phật vốn
không thể lìa bỏ được tất cả chúng sanh, vì thế mà Ngài đã thị
hiện ra nơi đời như lời tán thán ở trong Kinh A Di Đà do Hòa
Thượng Thích Trí Tịnh dịch như sau:
“Xá-Lợi-Phất! Như ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ
bàn của các đức Phật, các đức Phật đó cũng ngợi khen công đức
chẳng thể nghĩ bàn của Ta mà nói lời nầy: “Đức Thích Ca Mâu Ni
Phật hay làm được việc rất khó khăn hi hữu, có thể ở trong cõi
Ta Bà đời ác năm món trược: kiếp trược, kiến trược, phiền não
trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, mà Ngài chứng được
ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài vì các chúng sanh nói
kinh pháp mà tất cả thế gian khó tin này”.
Xá-Lợi-Phất! Phải biết rằng Ta ở trong đời ác ngũ trược thật
hành việc khó này: đặng thành bậc Vô Thượng Chánh Giác và vì tất
cả thế gian nói Kinh Pháp khó tin này, đó là rất khó!”
Vậy ở
thế gian này mọi người như chúng ta đây đã và đang mong đợi
những gì? Tôi đoán rằng chắc chắn đó là hạnh phúc rồi. Vì họ
muốn có đủ năm thứ dục lạc như trên đã nói và miễn sao cho thật
vừa ý như sự mong muốn cũng như sự tìm cầu của họ, thì họ mới
chấp nhận rằng đó là hạnh phúc bậc nhất trong đời người. Và họ
đâu có biết rằng họ có mặt trên cõi đời này là vì sự kết hợp
giữa tinh Cha huyết Mẹ cọng chung với phước đức và túc duyên
nhiều kiếp mới được sinh ra họ. Họ đã trải qua không biết bao
nhiêu sự tu tập phước đức ở nhiều đời nhiều kiếp rồi mới có
thành quả ngày hôm nay.
Nhưng
mấy ai hiểu rõ được điều này? Con người cứ đeo đuổi theo những
ham muốn về vật chất và khoái lạc cho tinh thần mà vô tình hay
cố ý lãng quên hạnh phúc mà mình đã có. Tuy nhiên trong muôn
ngàn loài hữu tình đang lao mình trong biển khổ vậy chứ cũng
không ít người đi ra một cách tự như hoa sen từ dưới bùn vượt
lên nở hoa thơm ngát cả không gian này. Đó là một nhãn quan
được kiểm soát như cái thấy rất chân thật của một vị Thiền Sư ở
thế kỷ thứ XIX do Giáo sư Lê Mạnh Thát viết. Ngài Toàn Nhật
Quang Đài đã nhìn thấy vấn đề đau khổ của chúng sanh như sau:
“Chúng sanh ái dục lưu
liên
Sa trong biển khổ cách
miền vô vi”
Thật vậy! Nếu không tỉnh giác được nội tâm thì vẫn
còn chạy theo sự cuốn hút của vòng xoáy luân hồi sinh tử.
Sự thấy biết một cách chân thật này không chỉ gắng
bó ở những phút giây hiện tại mà ngay nơi quá khứ lúc Đức Phật
còn tại thế, Ngài đã có dạy trong Kinh Tuơng Ưng cho hàng đệ tử
rằng: “Toàn thể thế giới bị bốc cháy, toàn thể vũ trụ đắm chìm
trong khối lửa. Toàn thể vũ trụ làm mồi cho lửa. Toàn thể vũ trụ
run lập cập”
Khi xưa đất nước lâm vào cuộc chiến tranh tàn khốc,
mãi cho đến khi tìm lại được bình yên thì con người vẫn không
chịu yên thân cho cuộc sống mà tiến tới những tệ nạn xã hội làm
cho nên tảng về đạo đức tinh thần bản sắc giản dị của dân tộc
Việt Nam xưa kia lần ngày bị mai một trong tương lai.
Tất cả chúng ta không khỏi bàng hoàng khi nhìn thấy
cũng như đọc được hằng ngày trên các tờ báo điện tử đưa tin về
cuộc sống đam mê ngũ dục mà đã bất chấp tất cả hành động thậm
chí giết người cướp của cũng không từ nan. Những thú vui mang
tính bản năng như vậy thì làm sao có một ngày con người đi đến
được bờ mong đợi? Không phải là không có cách giải quyết vấn đề
nan giải này, nhưng con người chúng ta có chịu khó lắng nghe sự
chỉ bảo của một bậc giác ngộ và giải thoát hoàn toàn hết khổ đau
hay không thôi? Sau đây người viết xin trích hai bài kệ số 5
trong Kinh Pháp Cú do chính Đức Thế Tôn dạy như sau:
“Với hận diệt
hận thù
Đời này không có
được
Không hận diệt
hận thù
Là định luật
ngàn thu.”
Sở dĩ thế giới có chiến tranh bom đạn và chiến tranh
lạnh nổ ra là do sự hiềm khích giữa các quốc gia với nhau vì lợi
nhuận về kinh tế, trong đó cũng có ít nhiều ảnh hưởng tới nền
chính trị của các quốc gia với nhau nên sự mâu thuẫn ngày càng
thêm gay gắt. Giống như trong năm 2008-2009 nên kinh tế toàn cầu
bị rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, không biết bao nhiêu con
người phải sống lang thang cơ hàn vì việc làm và tổ chức công sở
bị phá sản. Trong làng sóng suy thoái đó cũng không ít người
phải tìm cho mình một cái chết bằng cách tự vẫn dưới mọi hình
thức. Để giữ được trạng thái của tâm hồn khi biến cố ập đến thì
tất cả mọi người nên nhìn cho thật kỹ trong từng hơi thở của
chúng ta, tuy rằng phương pháp khá là đơn giản nhưng một khi
chúng ta đã thực hành được rồi thì hạnh phúc đem lại cho tâm của
chúng ta thật không nhỏ chút nào. Giống như trong Kinh Pháp Cú
số 14 do Đức Phật dạy rằng:
“Như ngôi nhà
khéo lợp
Mưa không xâm
nhập vào
Cũng vậy tâm
kheo tu
Tham dục không
thâm nhập.”
Tác giả
Nẻo Xa
|