Truyện
Bánh chưng (ngày nay thường gọi là Bánh chưng, bánh giầy)
mà hầu hết người Việt đều biết, được chép trong sách Lĩnh Nam
chích quái của Trần Thế Pháp (thế kỉ 14). Truyện tóm tắt như sau
:
Vua Hùng Vương
muốn truyền ngôi. Ngài gọi các con đến, hứa sẽ chọn người nào làm
được món ăn ngon để dâng cúng tổ tiên. Các hoàng tử thi nhau tìm
kiếm của ngon vật lạ, sơn hào hải vị, để làm món ăn dâng lên vua
cha. Lang Liệu nhà nghèo, chưa biết phải xoay xở ra sao thì một đêm
được thần nhân báo mộng, chỉ cho cách làm bánh chưng (hình vuông) và
bánh giầy (hình tròn).
Đến kì hẹn, vua
Hùng Vương nếm các món ăn. Ngài khen bánh của Lang Liệu vừa có ý
nghĩa tượng trưng cho "trời tròn đất vuông", vừa có mùi vị thơm ngon,
được làm toàn bằng sản vật của đồng quê nước ta.
Lang Liệu được
vua cha truyền ngôi.
(Lĩnh Nam chích
quái, bản dịch của Lê Hữu Mục, Khai Trí, 1961).
Truyện Bánh chưng
giản dị, dễ hiểu. Chỉ có tên bánh mới...hơi khó hiểu. Xin bàn về
cái tên Chưng. Luôn tiện bàn cả về tên Giầy.
Đại Nam quốc âm
tự vị của Huỳnh Tịnh Của đưa ra 2 cách giải thích :
1- Bánh chưng : bánh gói
bằng nếp làm ra hình vuông vuông cùng kêu là địa bỉnh, hiểu
nghĩa trời tròn đất vuông, phải chưng hấp theo phép cho nên
gọi là bánh chưng.
Giải thích của Huỳnh
Tịnh Của không ăn khớp với câu văn của Lĩnh Nam chích quái.
Trần Thế Pháp viết : " Chử nhi thục chi. Hiệu viết chưng bính " (
Nấu chín. Đặt tên là bánh chưng). Trần Thế Pháp dùng chữ
chử (bộ hoả) nghĩa là nấu, chứ không dùng chữ chưng (chưng
hấp, nấu cách thuỷ). Thực tế thì chưa thấy ai chưng hấp hay nấu cách
thuỷ cái bánh chưng vừa được gói xong. Thông thường thì luộc bánh
phải đổ đầy nước, đun sôi rất lâu, suốt cả đêm, bánh mới chín.
2- Bánh chưn : bánh vuông
dẹp giống cái bàn chưn, thủ nghĩa địa phương, cũng gọi là
địa bỉnh.
Chèng đéc ôi. Chòm
xóm ra mà coi nè. Dân Giao Chỉ nào mà bàn chưn lại vuông dẹp như
viên gạch Bát Tràng vậy?
Mới nghe tưởng là
một câu nói đùa. Nhưng Huỳnh Tịnh Của có nhắc đến địa bỉnh
tức là cái bánh được chưng hấp của ông. Mặc dù Chưng và
Chưn được người miền Nam phát âm giống nhau, nhưng đó không phải
là lí do để nhìn cái bánh chưng thấy giống cái bàn chưn... dị dạng.
Cả hai lối giải
thích tên bánh chưng của Huỳnh Tịnh Của đều không thỏa đáng.
Tiếng Việt ngày nay
có chữ Chưng, nghĩa là " cố ý đưa ra, bày ra cho nhiều người
thấy để khoe ". Ngoài ra, tiếng Việt lại còn có chữ Trưng,
nghĩa là " Để ở vị trí dễ thấy nhất, sao cho càng nhiều người nhìn
thấy rõ càng tốt " (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê).
Thật ra thì Chưng
(diện) cũng giống Trưng (bày). Chưng bày hay trưng bày, chưng
bằng cấp hay trưng mặt hàng đều là " khoe ", là (phô) trương
cả. Chữ Hán (bộ sách) còn có từ Chưng (Thiều Chửu), hay
Trưng (Đào Duy Anh) có nhiều nghĩa nhưng tất cả đều không dùng
cho tên bánh được.
Tóm lại, Chưng
hay Trưng, Hán hay Việt, đều không giải thích được cái tên
bánh.
Nếu vậy thì Chưng
là... chữ nôm chăng?
Tự vị của Huỳnh Tịnh
Của (1895), Génibrel (1898), Gustave Hue (1937) có từ Chuông
(nôm) nghĩa là : bốn phía vuông vức bằng nhau, carré. Chuông biền
sắc cạnh nghĩa là : cả biền cạnh đều vuông tượng sắc sảo (thường
nói về đồ mộc), qui a la forme d'un carré parfait. Một chuông
nhiễu là một thước nhiễu đo vuông, un mètre carré.
Truyện Hoa Tiên
của Nguyễn Huy Tự ( 1743-1790) có câu :
Lễ hôn chuông
chắn mọi đường
Quế càng hương chắp
gấm càng hoa thêm
Chuông chắn
nghĩa là vuông vắn, đầy đủ (Vương Lộc, Từ điển từ cổ, Đà Nẵng,
2002). Việt Namtự điển của hội Khai Trí Tiến Đức (1931) cho
rằng Chuông là do Vuông đọc trạnh ra, dùng để nói về
cách đo vải lụa (Một chuông lụa, một chuông vải).
Tự điển Việt-Pháp
của Đào Đăng Vỹ (Khai Trí, 1964) có Chuông vải (carré d�étoffe),
giấy chuông (papier carré). Từ điển Việt-Hán, Hán-Việt của
Phạm Cần (Thanh Hoá, 1998) cũng có Chuông vải (phương phiến đích bố).
Mấy dẫn chứng trên
đây xác nhận sự hiện hữu của từ cổ chuông. Tuy nhiên, sau
Hoa Tiên độ một hai chục năm, truyện Kiều của Nguyễn Du
(1765-1820) lại nói :
Vội về thêm lấy của
nhà
Xuyến vàng đôi
chiếc, khăn là một vuông
Đầu thế kỉ 19,
Chuông đã được vuông thay thế hay là người đời sau đã sửa
thơ của Nguyễn Du, đổi chuông thành vuông ?
(Tiếng Việt ngày nay
có nhiều từ kép cho thấy dường như có sự chuyển biến ngữ âm (ch > v)
: chơi vơi, chênh vênh, chạy vạy, chon von, chót vót, chạng vạng
v.v.).
Trở lại truyện
Bánh chưng. Chúng ta có thể suy đoán rằng Trần Thế Pháp đã dùng
chữ Chưng (Hán) để ghi âm chữ Chuông (nôm) : " Hiệu
viết chuông bính " (đặt tên là bánh chuông). Bánh
chuông là bánh hình vuông, tượng trưng cho đất.
Người đời sau quen
đọc theo chữ Hán cái tên bánh của Lang Liệu. Vì vậy mà bánh
chuông bị nhầm thành bánh chưng.
Pierre Huard và
Maurice Durand (Connaissance du Vietnam, EFEO, Paris, 1954,
tr. 202) gọi thứ bánh làm bằng xôi giã thật mịn, nặn thành hình tròn,
dẹt, có khi có nhân đậu xanh, là bánh dầy (pain épais). Hai
ông hiểu bánh giầy là bánh có bề dầy (trái với mỏng).
Truyện Bánh chưng
của Trần Thế Pháp viết : " Hiệu viết bạc trì bính " (đặt tên là bánh
bạc trì). Bạc (bộ thảo) nghĩa là mỏng, là dẹt, là
ngược với... dầy. Trì (bộ thủ) nghĩa là cầm, giữ. Bạc trì
đọc theo chữ Hán không có nghĩa.
Bạc trì, cũng
như chữ chưng trên kia, phải được đọc nôm.
Bạc đọc nôm
theo nghĩa là Dẹt (hay mỏng). Trì đọc nôm là Giầy
(Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, Bảng tra chữ
Nôm của Viện Ngôn Ngữ Học, 1976 ; Cơ sở ngữ văn Hán Nôm
của Lê Trí Viễn, 1987 ; v.v.). Bánh bạc trì là bánh giầy
dẹt (hay mỏng). Giầy rõ ràng không phải là có bề
dầy (trái với dẹt, mỏng) như Huard và Durand nghĩ.
Giầy nghĩa là
gì ?
Bánh giầy đôi khi
còn được các tác giả phát âm khác nhau, gọi là bánh giày, hay dày,
hay dầy. Dầy (dày) dùng để chỉ khoảng cách giữa hai mặt đối nhau.
Giầy (giày) là đồ bọc bàn chân, dùng để đi. Bánh giầy hình tròn và
dẹt. Nó không dầy như bánh chưng. Nó không giống chiếc giầy (Bánh
chưng bánh giầy không phải là... chưn đi giầy).
Giầy chắc chắn phải
còn nghĩa khác.
Chúng ta hãy tạm cất
cái bánh giầy, cùng nhau đi thăm... Phủ Giầy.
Phủ Giầy toạ lạc tại
xã Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (ngày nay là xã Kim Thái,
huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà) , thờ Mẫu Liễu Hạnh.
Phủ Giầy có mấy tấm
bia được khắc dựng vào những năm 1921-1925, thời Khải Định. Các bia
này chép lại sự tích Mẫu Liễu Hạnh và các tục lệ thờ cúng Mẫu. Tấm
bia Cả huyện Vụ Bản tiến cúng tiền ruộng lệ ở Phủ Vân Cát, tục
gọi là Phủ Giày, khắc dựng năm 1921, được Hồ Đức Thọ (Lệ làng
Việt Nam, Hà Nội, 1999, tr. 179) chú thích : " Vốn chữ ở bia
viết chữ giày, nghĩa là dày đặc, dày dạn, ngược với nghĩa chữ mỏng.
Song trước các bản dịch có viết chữ dày, là do theo người thời nay
sử dụng Quốc ngữ, nguyên trước không viết chữ dày là dày dép này "
Rốt cuộc, chữ Hán, chữ nôm, chữ quốc ngữ, cộng thêm cách phát âm của
người viết, đã làm cho 4 từ dày, dầy, giày, giầy trở thành... lộn
xộn như lời chú của Hồ Đức Thọ.
Hai tấm bia khác có
cụm từ Tiên Hương phủ từ và Vân Cát phủ từ được người
dịch dịch là Đền phủ Tiên Hương và Đền phủ Vân Cát. Hồ
Đức Thọ giải thích rằng Đền phủ Tiên Hương nên được hiểu như
chữ Đền Cung Vua tại phường Hồng Hà Cọc 5 Quảng Ninh vậy.
Phủ Tiên Hương là từ liền như Cung Vua (sđd, tr. 172).
Ý kiến của Hồ Đức
Thọ về cụm từ " phủ từ " và " đền phủ " cần được bàn thêm.
Dưới thời vua Lê
chúa Trịnh, việc thờ cúng tổ tiên của vua thì được tổ chức tại Điện
Thái Miếu và Điện Chí Kính trong cung vua. Việc thờ cúng tổ tiên của
chúa thì được tổ chức tại nhà Thái Miếu trong phủ chúa. Ngoài ra,
các chúa Trịnh còn lập thêm đền thờ bên ngoài phủ chúa để thờ tổ
tiên bên ngoại. Các đền thờ bên ngoài phủ chúa được gọi là Phủ từ
(được dịch là phủ thờ). (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến
chương loại chí, tập 2, Sử Học, 1961, tr. 127-138).
Phủ từ là tên
gọi các đền thờ tổ tiên bên ngoại của các chúa Trịnh. Nơi thờ cúng
của dân gian không phải là phủ từ. Người viết chữ Hán (Tiên
Hương phủ từ, Vân Cát phủ từ), đã phạm sai lầm là dùng
tên gọi đền thờ của các chúa Trịnh để gọi đền thờ của dân gian.
Phủ từ được dịch là Đền phủ (Đền phủ Tiên Hương,Đền
phủ Vân Cát), lại dẫn đến một hiểu lầm khác. Tín ngưỡng dân gian
Việt Nam phân biệt đền và phủ :
" Le dên est
un temple national ou régional élevé à la mémoire d'un roi, d'un
génie ou d'un personnage célèbre, ayant rendu des services aux
habitants. Lorsque le génie est féminin, on l'appelle parfois phu
". (Louis Bezacier, L'art vietnamien, Editions de l'Union
Française, 1955, tr. 24).
(Đền là nơi
thờ phụng do nhà nước hay làng xã dựng lên để thờ một vị vua, một vị
thần hay một người có công đức đối với dân chúng. Đền thờ nữ thần
đôi khi còn được gọi là phủ).
Đền có thể
thờ đàn ông hoặc đàn bà (Đền đức thánh Trần, đền Hai Bà). Phủ
chỉ thờ đàn bà. Phủ Giầy, Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát ở Nam Định,
hay Phủ Tây Hồ ở Hà Nội là đền thờ Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Thiên,
Mẫu Địa, Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn.
Gọi là Đền Phủ
Giầy, Đền phủ Tiên Hương, Đền phủ Vân Cát là thừa chữ đền hay
chữ phủ. Gọi là Phủ Tiên Hương hay Đền Tiên Hương đều đúng, nhưng
chữ Phủ (đền thờ Mẫu, nữ thần) rõ nghĩa hơn chữ Đền.
Trở lại tên Phủ Giầy.
Phủ là đền thờ Mẫu. Còn Giầy nghĩa là gì ?
Theo thần phả thì
Liễu Hạnh vi thiên muội, vi chúng Mẫu, vi tiên phật thần thánh
(Bà là em của trời, là mẹ của muôn người, là thánh thần tiên
phật). Bà là Thiên tiên Thánh mẫu, một vị tiên trên trời
giáng thế. Dân gian tôn bà là Mẫu Thượng Thiên, nôm na là Mẫu Giời (người
miền Bắc quen gọi ông trời là ông giời). Giời nói trại thành
Giầy (cũng như Mẫu Thủy nói trại thành Mẫu Thoải,
cái gầu giây thành gầu giai).
Phủ Giầy là
nơi thờ Mẫu Giời.
Ngày kị thánh (Liễu
Hạnh) mồng ba tháng ba, lễ có một mâm cơm thịnh soạn, gồm bánh dầy (giầy)
100 phẩm, lợn một con giá chừng 20 quan tiền và hoa quả tuỳ tâm cốt
lấy điều thành kính mà thôi (Lệ làng Việt Nam, sđd, tr. 174).
Bánh giầy được dùng để cúng Mẫu Giầy tại Phủ Giầy.
Cái bánh hình tròn
và dẹt, tượng trưng cho giời, được dân gian gọi là bánh
giầy. Giầy là biến âm của Giời.
Bánh chuông (vuông),
bánh giời (giầy) đúng và rõ nghĩa hơn Bánh chưng, bánh giầy.
Nhưng... ai mà thay đổi được ! To gan như Việt kiều bên Pháp cũng
chỉ dám rủ nhau gói " bánh chưng trắng " là cùng. To gan thật. Dám
đổi xanh thành trắng. Vì lí do gì mà đảo lộn cả truyền thống vậy?
Chỉ vì... giấy nhôm rẻ hơn lá chuối, lá dong.
Kinh tế thị trường
mà!
Nguyễn Dư
(Lyon, 9/2007)