BẢN
TÁNH CỦA TÂM
Thượng Tọa
Robina Courtin phỏng vấn His Holiness Sakya Trizin tại
Boston,
tháng Sáu năm
2000 - Thanh Liên Việt dịch
Đối
với chúng con, khi nghe nói về việc chuyển hóa tâm, điều
này có vẻ rất khó khăn trong nền văn hoá của chúng con.
Chúng ta nói về việc “làm an định” tâm, nhưng có lẽ
khó có thể nghĩ được rằng phương tiện đó thực sự
chuyển hóa được tâm chúng con.
Bạn
thấy đấy, dù bạn gọi nó là sự chuyển hóa hay cái gì
khác, thì nó cũng có nghĩa là cái gì đó đang phát triển.
Tâm ta là vật quan trọng nhất. Mọi sự đến từ tâm, vì
thế tất cả những gì không ai ưa thích mà giờ đây ta
đối mặt cũng đến từ tâm. Tâm được phú cho sự ô
nhiễm, và qua những ô nhiễm chúng ta thực hiện những hành
động, và theo cácn này chúng ta tạo ra nghiệp sẽ phát
triển.
Về cơ
bản, tự thân ý thức thì thuần tịnh và không bị ô
nhiễm bởi những che chướng. Nhưng thay vì nhận ra chân tánh
của tâm, tất cả chúng ta đều có khuynh hướng – do
những thiên hướng rất mạnh mẽ từ vô lượng kiếp –
bám chấp một cách tự nhiên vào bản ngã mà chẳng có lý
do hợp lý nào. Khi bạn bám chấp vào bản ngã, nó là sự
vô minh không thấu suốt chân lý. Thay vì thấu suốt chân
lý thì bạn bám chấp vào bản ngã, và khi bám chấp vào
bản ngã bạn có một sự tham muốn đối với những sự
vật của riêng mình, sự sân hận đối với những người
khác, sự ganh tị và tranh đua và v.v.. Theo cách này mọi
sự bất tịnh và ô nhiễm tích tập.
Khi ai
đó cảm thấy sân hận, trước hết họ nói đó là một
kinh nghiệm thuộc về thân thể, cảm giác. Chúng con rất
khó phá bỏ ý tưởng này và bắt đầu nhận ra rằng sự
sân hận là một tư tưởng. Tại sao thân thể lại có
một kinh nghiệm mạnh mẽ như thế khi con sân hận?
Trong Phật
Giáo chúng ta có nhiều cấp độ khác nhau. Nhưng ta nói
rằng về cơ bản thì mọi sự là tâm, kể cả thân thể.
Mọi sự đến từ tâm, và tâm cũng không hiện hữu – nó
cũng ở trong bản tánh của tánh Không.
Bởi mọi
sự xuất hiện từ tâm, tất cả chúng nối kết lẫn nhau.
Thân thể hiện tại như một cái nền hay thùng chứa, và
tâm là vật được chứa. Thùng chứa và vật được
chứa nối kết với nhau thật chặt chẽ, vì thế đó là
lý do vì sao khi tâm bạn dính mắc với những cảm xúc
chẳng hạn như sân hận, thì bạn cũng có thể cảm nhận
điều đó rất mạnh mẽ về mặt vật lý. Và cũng thế
nếu bạn rất hạnh phúc thì bạn sẽ nhận thấy thân
thể bạn thoải mái dễ chịu.
Hiểu
được sự sân hận này được đặt nền tảng một cách
khái niệm là điều rất khó khăn.
Tôi nghĩ
rằng có nhiều phương pháp nhưng về cơ bản thì tôi cho
rằng bằng cách nhận ra những hậu quả ta phải đối
mặt do sự nuông chiều theo sự sân hận. Chẳng hạn bởi
chiều theo sân hận bạn đã tạo nên sự khó chịu của
thân xác cũng như sự buồn khổ trong tâm mà rốt cuộc
sẽ ảnh hưởng tới thân thể bạn.
Này người
minh triết, sự sân hận là điều tệ hại nhất bạn có
thể làm cho bản thân bạn. Không ai khác có thể đưa
bạn xuống những cõi địa ngục, mà chính sự sân hận
của bạn có thể đem bạn xuống đó.
Mặc
dù vậy, làm thế nào chúng con nhận ra được rằng sân
hận là một chuỗi những tư tưởng?
Khi bạn
nhận ra rằng sân hận là cái gì rất có hại cho bản thân
và cho những người khác, trong nhất thời và tối hậu,
thì dĩ nhiên là bạn sẽ tự nhiên không mong muốn nó. Vào
lúc đầu thì tất nhiên là có thể khó khăn, nhưng nếu
bạn cố gắng và chấm dứt nó một lần thôi, rồi lại
cố gắng nữa, rồi khi bạn trở nên quen thuộc với
việc đó thì dĩ nhiên không có gì là khó cả.
Kế đó,
khi bạn cố khảo sát xem sự sân hận ở đâu, tại sao nó
phát khởi, nó phát khởi ở đâu, nó đi đâu. Thường thì
khi bạn sân hận, chính bởi những người đặc biệt nào
đó không thích bạn hay họ làm những điều bạn không thích,
vì thế bạn theo đuổi ý tưởng đó và bạn thường xuyên
nghĩ về mọi lỗi lầm. Bạn cố gắng và càng lúc càng
nhận ra những lỗi lầm, và vì thế điều này tiếp tục
và sự sân hận của bạn càng lúc càng lớn hơn. Khi ấy
bạn cũng có thể thốt ra những lời lẽ tàn nhẫn, và thân
thể bạn cũng có thể hành động điều gì đó. Theo các
này giờ đây tâm bạn đã bị sự sân hận chinh phục.
Thay vì
theo đuổi sự sân hận, nếu bạn cố gắng quay trở lại
và khảo sát xem sự sân hận phát khởi từ đâu, tại sao
nó phát khởi, bạn cảm nhận nó trong bộ phận nào của
thân thể, và bạn cố nhìn thấy bản tánh của sự sân
hận, thì tôi nghĩ rằng khi bạn nhìn vào nó, bạn không
thể tìm thấy bất kỳ điều gì.
Việc
thực hành kỹ thuật này đòi hỏi rất nhiều thông tuệ
và quyết tâ. Nó rất phức tạp.
Dĩ nhiên,
nhưng nếu bạn thực hiện nó đầy đủ thì rất có thể
thành công.
Như
thế Ngài nói rằng trước tiên phải làm chủ nó, sau đó
nhìn vào nó.
Phải.
Có
lần Lạt Ma Yeshe nói với chúng con trong một bài giảng:
“Người Tây phương các bạn nghĩ rằng sự tham muốn có
điều gì đó để làm với các cảm giác của các bạn,
nhưng nó không có điều gì để làm với những cảm giác.”
Điều này nghe hơi sốc, bởi giống như sự sân hận, chúng
con hoàn toàn gắn liền sự tham muốn với cái gì đó
thuộc về cảm giác. Vì sao nó không thể thuộc về cảm
giác? Chúng con có thể nhìn nó ra sao?
Rất khó.
Với sự tham muốn thì không có sự thoả mãn cho dù tham
muốn tới đâu chăng nữa. Chẳng hạn như các bạn bị dính
mắc nhiều tới mức độ nào với một nơi chốn, với
thực phẩm, bạn hữu và v.v.. nhưng cho dù bạn có bao nhiêu
chăng nữa thì bạn cũng không thoả mãn.
Nó giống
như việc uống nước muối. Khi bạn uống nước muối, càng
uống thì bạn càng khát, vì thế không có sự thoả mãn.
Thay vì bạn cố gắng thỏa mãn nó với sự tham muốn thêm
nữa, tôi nghĩ rằng nếu bạn cố gắng từ bỏ, nếu
bạn cố gắng tiệt trừ tham muốn, thì bạn có thể
thấy thoả mãn.
Như
vậy tại sao điều đó rất khó thực hiện? Ngay cả là
những Phật tử, chúng con hiểu tất cả những từ này,
nhưng chúng con vẫn tiếp tục theo đuổi sự tham muốn.
Tại sao nó quá khó?
Bởi chúng
ta quá quen thuộc với nó. Bởi từ vô thuỷ – theo quan điểm
của giáo lý của Đức Phật – chúng ta đã bị mê hoặc
trong sinh tử, và chúng ta từng nuông chiều sự tham muốn
như thế. Những người dính líu với việc hút thuốc hay
uống rượu đều biết rằng hút thuốc là có hại. Nhưng
thậm chí không phải từ quan điểm tâm linh mà từ quan điểm
y học hay sức khỏe, chúng ta biết rằng thuốc lá có
hại, nó có thể gây nên bệnh ung thư, và không ai muốn
bị ung thư, và nó có thể gây ra nhiều chứng bệnh khác,
và nó đắt tiền. Nhưng đối với những người đã quen
thuộc với một tập quán như thế thì thật khó mà từ
bỏ nó.
Tương tự
như thế, sự tham muốn thì có hại, nhưng bởi chúng ta
từng liên kết với nó trong một quãng thời gian dài đến
thế nên rất khó từ bỏ nó. Nhưng rốt cuộc thì nó như
thuốc độc. Thuốc độc chỉ có thể gây nên đau khổ.
Nhưng
làm thế nào con có thể chứng minh điều này? Trong nền văn
hóa của chúng con, chúng con có thể có thật dễ dàng
những gì sự tham muốn của chúng con muốn có, chúng con
tuyệt đối tin tưởng rằng nó thực sự là nguyên nhân
của hạnh phúc. Chừng nào mà con còn tiếp tục tìm kiếm
nó thì con không thể nhận ra rằng nó đang gây nên đau
khổ. Dường như điều đó rất khó khăn đối với
những người bình thường như chúng con.
Chẳng
hạn như hầu hết mọi người bị dính mắc vào của
cải, phải thế không? Mọi người cho rằng khi bạn có
của cải bạn sẽ hạnh phúc. Nhưng quả thật của cải
thực sự là nguồn mạch của mọi đau khổ. Khi bạn đang
thâu thập của cải bạn phải chịu đựng sự đau đớn
của thể xác và nỗi khổ tinh thần để tích luỹ nó.
Rồi trong lúc ấy bạn phải tạo nên mọi năng lực để
bảo vệ nó. Tâm của những người giàu có rất nhiều gánh
nặng hơn những người không có tiền của. Họ thường
xuyên phải lo lắng về của cải của họ, nó có thể
bị ai đó lấy cắp, có thể bị chính phủ đánh thuế, và
những thứ tương tự như thế. Và cuối cùng, bằng một
cách nào đó, bạn mất đi của cải của bạn.
Nhưng đối
với người không có chút của cải nào thì chẳng có gì
để phải lo mất. Vì thế khi bạn mất nó bạn cũng sẽ
đau khổ. Vào lúc bắt đầu là sự tích luỹ, trong lúc tích
lũy bạn phải bảo vệ, và cuối cùng thì mất mát, hao
tổn: nó là nguồn gốc của mọi đau khổ. Nếu không có
ai giải thích điều này, thì thậm chí người ta không
buồn truy xét, nhưng nếu bạn thận trọng suy nghĩ về nó
và xem xét nó, thì bạn sẽ nhận ra rằng của cải là
nguồn gốc của mọi đau khổ.
Cho dù
bạn dùng bao nhiêu thực phẩm thơm ngon thì cũng không có
lúc chấm dứt. Bạn càng ăn thì bạn càng có nhu cầu. Nhưng
nếu bạn từ bỏ nó, nếu bạn không dùng nó, nếu bạn hài
lòng, thì bạn sẽ thấy rằng bạn còn bình an hơn nhiều
nếu so với việc phải luôn cố gắng tìm kiếm một cái
gì mới mẻ, một cái gì tốt hơn, một cái gì đẹp đẽ
hơn.
Bình
an nghe không giống hạnh phúc lý tưởng. Làm thế nào chúng
con thuyết phục được mình rằng sự bình an ấy hơn
hẳn loại hạnh phúc mà chúng con có được từ việc theo
đuổi sự tham muốn?
Điều ấy
thật rõ ràng. Khi những người bình thường đắm mình
trong sự tham muốn trong một thời gian dài, mọi sự họ
đạt được là càng lúc càng đau khổ. Nhưng những bậc
cao quý, những Bồ Tát, từ bỏ mọi tham muốn và tất
cả những gì các ngài thành tựu là sự hoàn thành viên mãn
mục đích của riêng các ngài cũng như của những người
khác. Vì thế ta cần nhận ra rằng đi theo con đường cao
quý thì sáng suốt hơn nhiều nếu so với con đường tầm
thường, là con đường chẳng đi được tới đâu.
Chính
vì những cảm xúc là một tập quán mạnh mẽ nên trước
hết, khó có thể nhận ra chúng như một chuỗi những tư
tưởng và kế đó, chúng con thực sự tin rằng những
cảm xúc là nhân cách. Chẳng hạn như sự sân hận rất
dễ dàng phát sinh trong đời sống của con. Con tin rằng đây
là người mà con là và không bao giờ con có thể thay đổi
được điều này. Con cũng không bao giờ được dạy
rằng con có thể thay đổi nó. Mẹ con có thể dạy con đọc
và viết, nhưng bà không biết làm cách để dạy con bớt
giận dữ bỡi bà chỉ nghĩ: “Nó là cái người đó.”
Chúng con khắc phục điều này ra sao?
Sân hận
không có trong bản tánh của tâm. Nếu nó ở trong tâm thì
bạn không thể chuyển hóa nó, nhưng bởi nó không ở
trong bản tánh của tâm nên nó có thể bị tẩy trừ.
Bạn nhận ra rằng nó có hại, không lợi ích gì, nó hủy
hoại tâm bạn, sức khỏe của bạn, và bạn ăn không ngon,
sức khỏe sa sút. Dĩ nhiên là đối với một người bình
thường thì việc từ bỏ sự sân hận rất khó khăn, nhưng
khi bạn nhận ra điều này thì đó là bước đầu tiên. Tôi
nghĩ rằng bạn có thể giảm bớt từng bước một – tôi
không thể nói rằng bạn sẽ hoàn toàn từ bỏ nó, nhưng
bạn có thể giảm bớt nó. Cuối cùng thì dĩ nhiên là
bạn có thể chiến thắng nó.
Nhưng
dường như vấn đề lớn nhất là chúng con không tin
rằng nó không phải là bản tánh của chúng con. Chúng con
thực sự tin rằng những sự mê lầm và sân hận là điều
tự nhiên trong mọi người – theo cách này thì còn tự
nhiên hơn bởi nó xuất hiện dễ dàng hơn.
Nó không
phải là bản tánh vì nếu là bản tánh thì nó phải có
lợi lạc.
Nhưng
tại sao nó tự nhiên có lợi lạc?
Bản tánh
thì tử tế và đầy thương yêu. Toàn bộ cuộc đời
của chúng ta được nâng đỡ bởi lòng thương yêu và
thiện tâm. Nếu cha mẹ ta không thương yêu ta thì ta
đã không hiện hữu tới ngày hôm nay – ta đã chết ngay
sau khi sinh ra. Nhưng nhờ lòng thương yêu và sự chăm sóc
của họ, họ đã không để chúng ta chết, trái lại đã
nuôi nấng ta.
Cũng tương
tự như thế, khi ta còn là những đứa trẻ, những vị
Thầy, bạn bè, cha mẹ và những người thân thuộc của
ta thảy đều nuôi dạy ta. Thậm chí ngày hôm nay, khi đã
trưởng thành, chúng ta luôn luôn cần tới những người
bạn, tình thương của bạn bè và tình thương của những
thân quyến của ta, những điều đó làm tâm ta dễ chịu,
làm tâm ta thanh thản, đặc biệt là khi ta đương đầu
với những phiền não và những vấn đề. Ta luôn luôn có
thể thảo luận những vấn đề với người nào đó và nương
cậy vào họ để giải quyết những vấn đề của chúng
ta. Khi ta lớn tuổi tôi nghĩ rằng càng lúc ta càng cần
phải nương tựa vào lòng từ ái của những người khác.
Vì thế
trong toàn bộ cuộc đời ta, bản tánh con người là lòng
thương yêu. Tình thương xây dựng cuộc sống, mục đích
của nó là để tiếp tục. Nhưng sân hận thì chỉ hủy
diệt – nó hủy diệt đời sống, hủy diệt sức khỏe,
hủy diệt giấc ngủ, hủy diệt sự ngon miệng. Nó hủy
hoại đời ta, nó không giúp ích cho cuộc đời ta, vì
thế nó không tự nhiên. Đây là luận lý học thông thường.
Thưa
Ngài, người ta nói rằng bản tánh tự nhiên thông thường
của tâm ta thì trong sáng. Ngài có thể cho chúng con một
phương pháp thực sự thực tiễn để chúng con nếm trải
được điều này?
Khi tâm ta
bận rộn với dòng tư tưởng đến nỗi thậm chí ta thường
không để ý tới nó. Nhưng khi ta ngồi xuống và cố nhìn
vào tâm mình thì dường như các niệm tưởng càng xuất
hiện nhiều hơn nữa. Các tư tưởng xuất hiện trong mọi
lúc nhưng ta không để ý, vì thế khi bạn ngồi xuống thì
cuối cùng bạn mới bắt đầu chú ý tới điều đó.
Ví dụ như,
khi nước bị trộn lẫn với bùn và bạn lắc nó lên thì
không có gì thực sự xảy ra – nó vẫn bị pha trộn. Nhưng
nếu bạn không làm gì hết thì bùn lắng xuống và nước
trong sẽ xuất hiện trên bề mặt.
Tâm ta thì
cũng thế, nếu bạn cố gắng ở trong trạng thái an tĩnh
không bị những tư tưởng khác xen vào và bạn ngồi
xuống – không nhất thiết phải thiền định, mà chỉ nhìn
vào tâm bạn, không có bất kỳ niệm tưởng nào – thì tôi
nghĩ đó là sự trong sáng. Hãy hiểu rằng nó không chỉ là
một sự tẩy xóa.
Tâm không
phải là cái gì mà chúng ta có thể nhìn thấy bằng mắt
hay xúc chạm bằng tay hoặc đo lường được, và ta không
thể mô tả nó bằng các màu sắc hay hình dáng, nhưng tâm
ta rất mạnh mẽ. Nó là cái gì ta có thể cảm nhận – tâm
ở đây, ở đó – bạn có thể cảm nhận nó. Nó là
một trạng thái tỉnh giác. Nó có sự trong sáng trong ý
thức rằng nó luôn luôn tỉnh giác và thường xuyên,
giống như ánh sáng của một ngọn nến.
Bạn có
thể thực hiện những thực hành an định, hay shiné, để
kinh nghiệm điều này nhiều hơn nữa. Nó rất, rất ích
lợi cho bất kỳ ai dù bạn có là một người có niềm
tin tôn giáo hay không. Cách tốt nhất là buông lỏng. Sự
buông lỏng không chỉ có nghĩa là nằm xuống, nhưng sự
buông lỏng tuyệt hảo nhất là trong tâm không nhớ tới
mọi phiền muộn và lo lắng về sinh kế và công việc
của bạn và v.v.., mà chỉ đi vào nó và hoàn toàn buông
lỏng. Nhờ phương pháp này ta có thể cảm nhận sự trong
sáng. Từng bước một, bằng cách thiền định nhất tâm,
việc thực hành theo cách này rất ích lợi.
Thưa
Ngài, ta thường được bảo rằng ta thấy có dòng truyền
thừa, thấy có những Lạt ma của ta, thấy có gia đình tâm
linh, và ta dính mắc vào những điều đó. Giáo lý của
những truyền thống khác nhau có thể sai lầm bởi chúng có
thể bị diễn dịch khác nhau, đặc biệt là những giáo lý
về tánh Không.
Dường
như Đức Đạt Lai Lạt Ma thực sự nhấn mạnh vào tầm
quan trọng của một quan điểm không bộ phái và đang
khuyến khích mọi người nghiên cứu những truyền thống
khác nhau. Đây có phải là điều Ngài khuyến khích? Và
nếu đúng như thế thì làm thế nào chúng con có thể tránh
không bị lầm lẫn? Chẳng hạn như những giáo lý mà Ngài
ban cho chúng con hôm nay nghe hơi khác những giáo lý mà các
Lạt ma Gelug của chúng con có thể ban cho, vì thế chúng
con phải suy nghĩ thận trọng về chúng.
Bạn có
thể có những cách hiểu khác nhau nhưng cuối cùng tất
cả chúng đều dẫn tới cùng một kết cuộc. Thực ra
những vị Thầy cổ xưa không có tinh thần bộ phái.
Chẳng hạn như Đạo sư Thangtong Gyalpo có 500 guru (Đạo sư):
Nyingma, Sakya, Gelug – mọi người. Trong thế kỷ 19, Jamyang
Khyentse Wangpo và Jamgon Kongtrul là những vị Thầy không
bộ phái; các ngài nhận lãnh những giáo lý từ mọi trường
phái. Và không chỉ thọ nhận, các ngài còn thực hành, và
biên soạn những quyển sách từ những quan điểm khác
nhau.
Những
quyển sách có những cách giải thích hơi khác nhau, nhưng
điều này không có nghĩa là chúng mâu thuẫn nhau. Giống
như những loại thuốc khác nhau có thể chữa trị bệnh nào
đó cho một loại người đặc biệt, loại giải thích này
có thể thích hợp cho loại người này.
Con có
một việc khó xử. Con gặp một ni cô Tây Tạng tu hành
ở Dharamsala, và khi con hỏi cô theo truyền thống nào thì
cô nói: “Tôi không có một truyền thống.” Cô cũng nói
cô nhận những giáo lý từ tu viện trưởng của phái
Biện chứng, là phái Gelug. Đối với con thì dường như
ngay khi vị Thầy nào đó giảng về tánh Không thì ta
phải xác định xem nó phù hợp với quan điểm nào trong
tất cả những quan điểm, như thế nó phải phù hợp
với Lạt Ma Tsong Khapa hay Milarepa, hay bất kỳ quan điểm nào
khác. Như thế, cuối cùng thì làm thế nào ta có thể có
một quan điểm không bộ phái, theo nghĩa đen của việc không
thuộc về bất kỳ trường phái nào?
Ở bình
diện bên ngoài thì có những khác biệt, nhưng nếu bạn
đi vào những cách giải thích sâu xa thì tôi nghĩ tất
cả chúng trở thành một.
Điều
này rất dễ nghe nhưng đối với những người bình thường
thì rất khó chứng nghiệm. Ngôn từ nghe có vẻ đẹp đẽ,
và thật tốt khi coi nó là mục đích, nhưng làm thế nào
điều này trở nên có ý nghĩa cho chúng con?
Tôi cho
rằng những cách giải thích khác nhau là tốt bởi mọi người
khác biệt nhau. Không phải mọi người đều như nhau.
Thực ra, một loại thuốc không đủ cho mọi loại bệnh
tật – bạn cần những loại thuốc khác nhau, và những
hệ thống y học khác nhau. Chẳng hạn như, đối với
một vài bệnh tật của con người thì y học Tây
Tạng hữu hiệu hơn, trong khi đối với những bệnh khác
thì y học Trung Quốc hay y học đối chứng (allopathic
medicine) có hiệu quả hơn.
Tôi nhớ
hồi trước ở Dharamsala có một vài bác sĩ người Úc, và
nhiều khi các bác sĩ đối chứng không chấp nhận những
hệ thống y học khác; họ khăng khăng cho rằng cách chữa
trị của họ là số một. Nhưng chính những bác sĩ này
đã chấp nhận rằng đối với vài loại bệnh, như bệnh
viêm gan, thì rõ ràng là hệ thống y khoa Tây Tạng tốt hơn.
Chính các bác sĩ đã nói với tôi như thế. Nhưng đối
với bệnh lao phổi, thì dứt khoát là y học đối chứng
có hiệu quả hơn.
Trong con
đường tâm linh thì cũng tương tự như thế, bởi mọi người
có những trí lực khác nhau và những mức độ tâm linh khác
nhau, nếu bạn có nhiều hệ thống khác nhau thì điều
ấy tốt hơn.
Bạn càng
có nhiều cấp độ giáo lý khác nhau thì càng tốt. Những
giáo lý, Kinh điển cũng như Kim Cương thừa thì rất sâu
xa và khó hiểu. Để thấu hiểu chúng bạn cần phải có
nhiều phương pháp khác nhau. Một trong những phương pháp
này là sự tranh luận. Những trường phái khác nhau đôi
khi không chỉ có những quan điểm khác nhau, nhưng chúng có
nhiều sự tranh luận, bác bỏ lẫn nhau. Nhờ tiến trình
như thế ta hiểu được những ý nghĩa rất khó hiểu. Vì
thế tôi nghĩ rằng việc nghe giáo lý từ nhiều quan điểm
khác nhau thì rất lợi lạc.
Thưa
Ngài, về guru, chúng con thường nghĩ guru như Thượng Đế,
ngài là một người ở trên đó, một người toàn thiện
tách biệt với con. Chúng con nghĩ: “Ồ, tốt lắm,
ngài là guru, ngài có thể thiền định cả đêm, ngài có
thể làm điều này, ngài có thể làm điều nọ.” Nhưng
có lẽ thái độ thực sự của chúng con là chúng con được
cảm hứng bởi những gì ngài làm, và bản thân chúng con
có thể giống như thế.
Phải, đúng
thế. Guru nên là một mẫu mực và phẩm tính tối thiểu
của guru là người có trí tuệ, giới luật tốt đẹp và
lòng bi mẫn. Vì thế hành vi tốt lành và cách sống của
vị ấy nên là một tấm gương cho các đệ tử của ông.
Lạt
Ma Tsong Khapa nói rằng vấn đề chính yếu là nhìn guru như
vị Phật, và người ta sử dụng những trích dẫn khác
nhau từ các bản văn để chứng minh rằng Đức Dorje Chang
(Kim Cương Trì) đã nói rằng ngài sẽ xuất hiện như
guru.
Đó là điều
chỉ trong Kim Cương thừa mới có. Nhưng trong truyền
thống Đại thừa có nói rằng guru như một vị Phật, nhưng
không nói rằng ngài là một vị Phật. Nhưng khi bạn
nhận những quán đảnh trọng yếu và những giáo lý Kim Cương
thừa, thì khi ấy guru của bạn là Phật.
Vì thế,
theo truyền thống của thực hành pháp guru yoga của chúng
ta, điều đó chỉ có thể được thực hiện bởi những
người đã đi vào Kim Cương thừa. Những người bình thường
có thể dùng một vài loại thực hành, nhưng không phải là
thực hành coi guru như một vị Phật.
Con có
nghe câu chuyện về người đàn bà có chiếc răng chó nhưng
nghĩ rằng nó là xá lợi Phật, nhưng do bởi đức tin nên
bà đã nhận được những sự ban phước của Đức Phật
– bằng cách này hay cách khác năng lực của Đức Phật
đã hiển lộ trong chiếc răng đó. Nếu con nhìn một người
như Đức Phật thì cho dù họ không phải thế, có phải
điều đó cũng giống như năng lực của Đức Phật hiển
lộ trong người ấy vì lợi lạc của con?
Phải, đúng
thế – đó là nhờ sức mạnh của lòng sùng mộ của đệ
tử. Trên căn bản thì mọi người đều có Phật tánh, vì
thế cho dù guru của bạn không toàn thiện và có nhiều
lỗi lầm, nhưng từ khía cạnh của đệ tử với lòng sùng
mộ, bạn có thể nhận được những sự ban phước của
Đức Phật bởi ngay cả guru của bạn với những lỗi
lầm của ông cũng có Phật tánh. Đây là lý do chính.
Như
thế không phải là theo nghĩa đen, các Đấng Toàn Trí, chư
Phật, hiện diện trong vũ trụ, hiển lộ trong thân người
ấy và chúc phúc nhờ đó con có thể được lợi
lạc. Không phải như vậy sao?
Không, tôi
không nghĩ thế. Bởi guru đang thực hiện những hoạt động
của Đức Phật, ông giống như một khí cụ giữa mặt
trời và bạn. Với khí cụ này bạn có thể sử dụng năng
lực của mặt trời. Không có khí cụ này, mặt trời luôn
luôn có ở đó nhưng bạn không thể sử dụng nó.
Nhưng nhờ
guru bạn có thể sử dụng năng lực và có thể nhận
những sự ban phước của Đức Phật. Vì thế bạn nên nhìn
guru như Đức Phật. Về phần tôi thì guru còn quan trọng
hơn Đức Phật, bởi ta không thể nhìn thấy Đức Phật,
không thể nghe Ngài nói, do đó ta không thể trực tiếp
nhận những sự ban phước. Nhưng nhờ guru bạn có thể
nhận được những sự ban phước. Vì thế theo tôi guru
quan trọng hơn Đức Phật.
Như
thế lý do chính khiến người đàn bà nhận những sự ban
phước là do bởi niềm tin của bà ta – chứ không phải
tại chiếc răng có năng lực. Điều đó dường như là
vấn đề chính.
Phải,
phải.
Nguyên tác:
“Nature of Mind”, Ven. Robina Courtin interviewed His Holiness
Sakya Trizin in Boston in June 2000. Tạp chí Mandala 3/2001
Bản
dịch Việt ngữ của Thanh Liên