Trên bước đường tu tập, có những lúc chúng ta
thật sự bị hụt hẫng và không biết nương tựa vào ai khi
đối diện với hiện thực của cuộc sống. Không chỉ trong
đạo mà cả ngoài đời cũng vậy, có đôi khi ta tự hỏi phải
theo ai, phải tin vào đâu bây giờ? Mỗi người tu tập một
pháp môn, có một quan điểm, một lý tưởng… khác nhau đã
khiến cho nhiều người, nhất là những người sơ tâm học
đạo, cảm thấy băn khoăn khi lựa chọn cách hành trì và
tìm thầy nương tựa. May thay, chư vị Bồ tát trong pháp
hội Viên Giác hình như thấy rõ tâm trạng này của chúng
sanh thời mạt pháp nên đã phương tiện đặt vấn đề với ức
Thế Tôn để được Ngài soi sáng, và hôm nay chúng ta thừa
hưởng ân huệ đó để xác định hướng đi cho sự nghiệp tu
tập của chính mình.
Đức Phật trả lời câu hỏi “Sau này chúng con phải
biết nương tựa vào ai?” của chư vị Bồ tát như sau: “Vào
thời kỳ cuối cùng, khi sắp phát tâm vĩ đại và tìm thầy
bạn tốt để tu hành, thì nên tìm người thấy biết chính
xác”.
Người phát tâm học đạo trong bối cảnh xã hội hiện
nay đúng là có tâm “vĩ đại”! Kinh tế phát triển song
hành với những thành tựu của khoa học kỹ thuật đem đến
môi trường sống tiện nghi, vật chất sung mãn, sẵn sàng
phục vụ nhu cầu tham dục và kích thích tâm lý hưởng thụ
đã khiến nhiều người phát sinh tâm lý thực dụng, coi
trọng vật chất, của cải và có phần xem nhẹ những giá trị
đạo đức tâm linh. Do đó, người nào còn giữ được mình
trước mọi cám dỗ của cuộc đời và phát tâm học đạo để tìm
hạnh phúc trong đời sống tâm linh, hướng thượng, thì
người đó xứng đáng được gọi là hoa sen báu trong loài
người. Tuy nhiên, không phải ai phát tâm tu học cũng có
đủ duyên lành gặp được thầy lành bạn tốt, và cái khó là
dựa vào tiêu chuẩn nào để biết mình đã gặp được bậc minh
sư.
Đức Phật nói bậc minh sư là người thấy biết chính
xác. Thế nào là người thấy biết chính xác? Đó là người
có chánh tri kiến, “là người không sống theo khuôn khổ
phàm phu, không vướng vào Nhị thừa, tâm thường trong
sáng, tán dương phạm hạnh, không làm cho người sống
không giới luật”. Nghiêm trì giới luật và dạy người khác
nghiêm trì giới luật là mẫu người lý tưởng để cho chúng
ta nương tựa, học đạo. Tìm được người như vậy thì được
tuệ giác vô thượng. Gặp được người như vậy thì phụng sự
đến mất tính mạng cũng không tiếc.
Kinh Viên Giác chỉ cho chúng ta cách tu học và
nương tựa đúng Chánh pháp rất đơn giản, đó là đừng để
đời sống của mình vướng vào bốn thứ bệnh, phải tách rời
bốn thứ bệnh đó.
Bệnh thứ nhất là bệnh làm. Tức là, “nếu ai nói tôi
chủ tâm làm mọi việc để cầu Viên Giác, nhưng Viên Giác
không phải làm như thế mà được, nên nói như thế là bệnh”.
Bậc minh sư thì không có cái bệnh bám víu vào công việc,
cũng không bị vướng mắc vào cái việc và thành quả của
việc mình làm. Bậc minh sư là làm tất cả mọi việc không
vì mục đích tìm cầu danh tiếng và lợi dưỡng, làm cho tất
cả chúng sanh đều nhập vào Niết bàn mà hoàn toàn không
thấy ai làm và chúng sanh được làm. Ngược lại, nếu thấy
có thì đó là bệnh. Đừng bao giờ gần những người có bệnh
này, gần họ sẽ bị lây. Lây bệnh bám víu vào công việc
tức là tham danh, cầu danh.
Bệnh thứ hai là bệnh buông. Tức là “nếu ai nói tôi không
loại sinh tử không cầu Niết bàn, đối với Niết bàn và
sinh tử tôi không có ý niệm phát động hay hủy diệt, tôi
buông bỏ tất cả”. Tu là phải buông, nhưng không có nghĩa
là buông thả, mặc tình phóng túng, không thấy cái nạn
sinh tử như lửa cháy đầu, không nỗ lực tìm cầu giải
thoát. Khế kinh nói: “Lý tuy đốn ngộ, sự nãi tiệm trì”.
Trên mặt lý tánh thì không có sinh tử, Niết bàn. Nhưng
đứng trên mặt sự vật hiện tượng thì sinh tử đang thiêu
đốt chúng sinh, phải mau tìm được giải thoát. Niết bàn
vô sở đắc, bản tánh chúng sanh vốn là Phật tánh, trạm
nhiên vắng lặng. Lý tuy vậy nhưng sự vẫn phải trì trai,
giữ giới, công phu bái sám, niệm Phật tinh chuyên, thì
mới mong có ngày tỏ ngộ. Ai bỏ điều này tức là bệnh.
Bệnh này là bệnh vô minh, bệnh “khẩu đầu thiền”, đắm
trên chữ nghĩa kinh điển mà quên mất thực tại. Nhớ, đừng
bao giờ thân gần những người có cái bệnh này!
Bệnh thứ ba là bệnh dừng. “Nếu ai nói tôi dừng mọi ý
niệm, nắm lấy vắng lặng của toàn bộ các pháp để cầu Viên
Giác; nhưng Viên Giác không phải dừng như thế mà hợp,
nên nói như thế là bệnh”. Bệnh này là bệnh lầm tưởng về
mặt cực tĩnh của thiền. Lầm như vậy nên trở thành người
trầm trệ, dừng mọi ý niệm mà dừng không đúng cách, không
chính xác. Nhưng như thế chưa phải là bệnh trầm trọng,
mà trầm trọng hơn hết là không dừng mà nói dừng. Tâm
viên ý mã mà nói mình dừng mọi ý niệm, sống trong vắng
lặng của pháp giới, như vậy sẽ thêm bệnh đại vọng ngữ.
Bệnh thứ tư là bệnh dứt, tức là “nếu ai nói tôi dứt bỏ
phiền não, không cả thân tâm, huống chi những thứ căn
cảnh huyễn ảo, tôi dứt bặt hết thảy để cầu Viên Giác;
nhưng Viên Giác không phải dứt như thế mà chứng, nên nói
như thế là bệnh". Khế kinh nói: “Thật tế lí địa bất thọ
nhất trần, vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp”. Điều
này cũng có thể hiểu là cảnh giới Viên Giác vốn chẳng
nhiễm một mảy trần, nhưng trong trăm ngàn cánh cửa đi
đến cảnh giới ấy nào có bỏ một pháp nào đâu? Nếu nói bỏ,
tức là bệnh rồi, bệnh “ngoan không”, chấm dứt một cảnh
chủ quan, do “hiểu lầm mặt cực thuần của thiền quán và
những gì tương tự”.
Phật dạy: “Pháp của ai tách rời bốn bệnh như vậy
thì biết pháp ấy là trong sáng”. Cho nên, ngày nay, ai
muốn tu hành thì “phải suốt đời phụng sự thầy bạn tốt có
cái pháp tách rời cả bốn bệnh như vậy. Thầy bạn tốt muốn
thân gần thì đừng khinh lờn, muốn xa rời thì đừng oán
hận. Trước cảnh nghịch hay cảnh thuận lòng như không
gian, với thân thể và tâm trí biết toàn không thật, coi
tất cả chúng sanh đồng bản thể với mình. Làm như vậy mới
mong nhập vào Viên Giác” (Kinh Viên Giác, HT.Thích
Trí Quang dịch giải).