Ăn chay đối với nhân loại
mà nói, không kể là giữ được thân thể khỏe mạnh, hay tránh
được nhân quả nghiệp báo, những lợi ích khác không thể nói
cùng. Lại từ một người khuếch đại đến quốc gia xã hội, khiến
cho xã hội an lành, thế giới hòa bình, có thể thấy lợi ích
của ăn chay thật không thể tính đếm. Trong vô lượng lợi ích,
tôi cho rằng lợi ích lớn nhất của ăn chay, phải là tăng
trưởng lòng từ bi.
1. ăn chay được mạnh khoẻ,
sống lâu
Thứ nhất:
thức ăn chay không độc, thịt có độc
Thức ăn chay phần nhiều
đều là rau quả, sinh trưởng lớn lên từ đất, hoặc rong biển…
đã nhiều dinh dưỡng lại không có độc tố. Những thực vật này
giúp máu giữ được chất kiềm – đây muốn chỉ máu ấy trong
sạch. Y học gọi là kiềm tính thực vật. Thực phẩm có thịt ăn
vào có thể khiến cho máu mang tính chua – đây muốn chỉ máu
ấy dơ, do đó thịt được gọi là thực phẩm mang tính chua.
Người ăn chay máu sạch, nên tuần hoàn nhanh, khiến cơ thể
nhẹ nhõm thoải mái, hoạt bát, chịu đựng giỏi, suy nghĩ nhanh
lẹ và sống lâu. Như Hòa thượng Triệu Châu, một cao tăng Phật
giáo đời Đường sống đến 150 tuổi. Hòa thượng Hư Vân thời cận
đại sống được 120 tuổi. Cư sĩ Lý Bỉnh Nam, Đài Loan, nhờ
nhiều năm trường trai, 95 tuổi mà vẫn sáng suốt. Những điều
này đều là hiện thực chứng minh ăn chay mạnh khỏe, sống lâu.
Lại như quán quân bơi lội Mậu-lâm-la-tư của thế vận hội
Olimpic, lần đầu tiên, tốc độ của anh ta thật kinh người. Là
vận động viên nổi tiếng nhất, anh ta là một người ăn chay.
Theo báo cáo của Kiện Đức, một nhà hóa học trứ danh Pháp
quốc, ông ta phát hiện thực phẩm thịt là một loại thực phẩm
trúng độc mang tính chậm. Bởi vì xuất xứ của thịt là từ heo,
dê, gà, vịt… mà động vật lúc vội vàng, giận dữ hoặc sợ hãi
thì trong cơ thể sản sinh một vật tiết ra độc tố, độc tố ấy
nhanh chóng truyền khắp các mạch máu vi tế và thịt trong
toàn thân. Vật tiết độc chất này thông thường đều đầy trong
cơ thể, tác dụng “cái mới thay đổi cái cũ” bài xuất ra
ngoài, hoặc ra bằng đường đại tiểu tiện. Nếu con vật bị giết
trong lúc đang giận dữ hoặc sợ hãi, bộ máy cơ thể bị đình
chỉ hoạt động, vật tiết xuất độc tố này không được bài xuất
ra, vẫn tồn đọng trong máu thịt. Nếu ăn vào loại thịt này,
tất bị trúng độc tố ấy. Cho nên, ăn thịt bằng với trúng độc
mang tính chậm. Đã từng có người thí nghiệm qua. Động vật
trong lúc giận dữ hoặc sợ hãi, chất tiết độc tố mà cơ thể
sản sinh ra, nếu hút ra bằng ống thủy tinh, chỉ cần độc tố
bằng một cây nhang đã có thể giết chết một mạng người. May
mà độc tố này khi gặp rau quả, bị hóa giải bớt một phần nào.
Thứ hai:
Nhân loại nên ăn chay, chớ
nên ăn thịt
Theo tiến sĩ Hàn Đinh Đốn
của trường đại học Ca-luân-tỷ-á Mỹ quốc, đã từng giải phẫu
phân tích đường ruột, chứng minh con người thích hợp ăn chay
mà không thích hợp ăn thịt. Ông ta giải thích ruột non của
động vật ăn thịt thì ngắn, ruột già thẳng và trơn nhẵn; ruột
non của động vật ăn chay thì dài, ruột già cũng dài; ruột
của động vật ăn thịt lẫn ăn chay dài hơn động vật ăn thịt,
ngắn hơn động vật ăn chay. Ruột già của con người dài khoảng
5 – 6 mét và quằn tới quằn lui, vách ruột không láng đồng
thời chồng lên một đống. Đường ruột như thế chỉ thích hợp
với ăn chay, không thích hợp với ăn thịt. Bởi vì thịt ít
chất xơ, sau khi tiêu hóa để lại cặn bã. Ruột của con người
tương đối dài, thức ăn ở trong ruột quá lâu sẽ sinh ra độc
tố, tăng thêm gánh nặng cho gan. Gan quá sức chịu đựng sẽ
trở nên xơ cứng, thậm chí ung thư. Lại nữa, trong thịt có
rất nhiều a xít uric, Urê, ăn vào tăng thêm gánh nặng cho
tạng thận, dẫn đến bệnh thận. Vả lại, thịt ở trong ruột già,
ruột non phải qua sự hấp thu quá độ không cần thiết. Và thịt
vốn lại thiếu chất xơ, dễ tạo nên táo bón, dẫn đến bệnh trĩ
và ung thư trực tràng. Sự phân tích đường ruột con người
trên đây, đủ để chứng minh con người ăn thịt là “tự rước họa
vào thân”.
Thứ ba:
Thức ăn thịt dễ dẫn đến bệnh tật
Sự nguy hại lớn nhất đến
sức khỏe của người già, trung niên là colesterin, mà hàm
lượng colesterin tương đối có nhiều trong não, thần kinh,
máu, nước mật, lòng vàng trứng và mỡ… của động vật.
Colesterin là chủ thể cấu thành hocmon của tuyến thượng thận
và vitamin D. Tố chất dinh dưỡng này, thanh niên, trung niên
hấp thu một lượng vừa phải rất là hữu ích. Nếu trong máu của
một người chứa colesterin quá nhiều, sẽ dẫn đến xơ cứng động
mạch, bệnh tim, bệnh cao huyết áp… Tuổi trung niên trở lên
thì cơ thể, sinh lý có chiều hướng suy dần. Tất nhiên, cần
phải tránh ăn nhiều thực phẩm thịt hàm chứa phong phú chất
colesterin để giữ sức khỏe cơ thể.
Lại một chứng minh nữa:
nhà dinh dưỡng học Kha-lâm-tư, Mỹ quốc nói: “Nhân loại nếu
có thể bỏ ăn thịt, thì sẽ thu được lợi ích vô cùng”. Ăn chay
có thể giữ lâu tuổi trẻ, tinh lực dồi dào, đầu óc mẫn tiệp,
da thịt mềm mại, đây là hiện tượng của tuổi trẻ. Ngược lại,
thân thể mệt nhọc, thần trí hôn ám, da thịt xù xì, lộ ra
dáng vẻ lão hóa. Nay lấy ba cái này làm chuẩn, so sánh giữa
ăn chay và ăn mặn, nhà dinh dưỡng học Chu Tu Tuệ nói: “Ăn
nhiều thực phẩm có thịt, trong y học gọi là thực vật mang
tính chua, có thể làm cho máu mang tính chua, máu dơ. Lúc
muốn trung hòa tính chua này, chất canxi trong máu phải tiêu
hao lượng lớn. Lượng canxi mất, tế bào sẽ bị lão hóa, cơ thể
mỏi mệt không sức chịu đựng, dễ đưa đến thần trí hôn ám và
suy yếu. Còn ăn nhiều rau xanh, trái cây, những thực vật
mang tính kiềm này, có thể làm cho máu giữ được chất kiềm,
máu trong sạch, khiến cho cơ thể nhẹ nhàng, thoải mái, chịu
đựng giỏi, đầu óc nhanh nhạy đồng thời có thể sống lâu”.
Trên đây, đã đối chiếu sức
khỏe và tinh thần của người ăn chay và người ăn mặn, rõ ràng
đã thấy: một giữ được vẻ thanh xuân, một suy yếu lão hóa. Sự
láng mịn và xù xì của da, chỉ nhìn qua ta có cảm giác ngay
là già hay trẻ. Cho nên, da thịt mịn màng là điều kiện chính
của sự trẻ mãi. Ăn chay làm sao giữ được nước da mịn màng?
Điều này cần phải nói từ thực phẩm dầu mỡ nào mà người ăn
chay đã ăn. Giá trị dinh dưỡng của mỡ là: thứ nhất, cung cấp
nhiệt năng. Thứ hai, duy trì nhiệt độ cơ thể, bảo vệ nội
tạng và làm tươi nhuận da. Thứ ba, giúp đỡ hấp thu vitamin.
Chất mỡ quá nhiều làm cho người ta mập, dễ mắc bệnh cao
huyết áp, mạch máu não cho đến các bệnh tim, gan, phổi,
thận… Nếu mỡ quá ít khiến cho người ta gầy gò, dễ mắc các
chứng suy nhược cho đến các bệnh về da. Có hai nguồn mỡ: một
là mỡ từ động vật, như mỡ của heo, dê và thịt mỡ, gọi là mỡ
động vật. Hai là mỡ từ nhân thực vật, như dầu phụng, dầu đậu
nành, gọi là dầu thực vật. Sự hơn thiệt của hai loại dầu mỡ
này khác nhau rất lớn. Mỡ động vật là mỡ bão hòa, nhiều
colesterin, dễ dẫn đến xơ cứng động mạch, cao huyết áp, bệnh
tim, cũng có lợi cho việc sinh sản ung thư tế bào. Dầu thực
vật không phải là dầu bão hòa, có thể thúc đẩy tăng gia bài
tiết tính chua của nước mật, làm cho colesterin xuống thấp,
tránh được bệnh tim và các chứng huyết quản khác. Từ đó có
thể thấy, người ăn chay sử dụng dầu thực vật, quả thật là
một yếu tố lớn để khỏe mạnh tươi da. Hàm lượng dầu trong
thực vật, nhiều nhất là ở hồ đào, chứa 66.90%. Thứ hai là
đậu phụng, chứa 48.70%. Thứ ba là mè trắng, chứa 48.23%. Thứ
tư là đậu nành, chứa 20.20%. Những dầu này đều không phải là
dầu bão hòa, ăn vào có ích không hại. Hàm lượng mỡ trong
động vật, nhiều nhất là ở thịt heo, chứa 57.80%. Thứ hai là
thịt dê, chứa 25.00%. Thịt bò chứa 13.50%. Nhưng những loại
mỡ này đều thuộc mỡ bão hòa, chứa rất nhiều colesterin, dễ
dẫn đến bệnh tim, bệnh huyết quản.
4. Người ăn chay tăng
trưởng lòng từ bi
Ăn chay đối với nhân
loại mà nói, không kể là giữ được thân thể khỏe mạnh, hay
tránh được nhân quả nghiệp báo, những lợi ích khác không thể
nói cùng. Lại từ một người khuếch đại đến quốc gia xã hội,
khiến cho xã hội an lành, thế giới hòa bình, có thể thấy lợi
ích của ăn chay thật không thể tính đếm. Trong vô lượng lợi
ích, tôi cho rằng lợi ích lớn nhất của ăn chay, phải là tăng
trưởng lòng từ bi.
Sát sinh ăn thịt thật là
ác nghiệp, tất phải thọ báo không còn nghi ngờ gì nữa. Có
điều là thọ báo tùy theo tâm giết và cách giết tàn nhẫn hay
không mà có nhanh chậm, nặng nhẹ, không thể nói một cách
khái quát. Nếu sau khi sát sinh, sám hối tu thiện cũng có
thể chuyển hậu báo thành hiện báo, trọng báo thành khinh
báo. Tôi vì muốn để cho mọi người hiểu một cách thiết thực
việc ác báo sát sinh ăn thịt, không ngại hiện thân thuyết
pháp.
Làm sao tránh kiếp đao
binh
1. Cội gốc đưa
đến chiến tranh
Chúng ta phải hiểu rõ
rằng, hết thảy nỗi thống khổ của chiến tranh từ đâu mà có?
Không có điều gì là không có nhân quả. Quá khứ tạo nhân bát
khổ, thì hiện tại phải chịu quả bát khổ. Hiểu được quan hệ
của nhân quả thì biết ngay kiếp can qua cũng là một loại quả
báo. Nhưng có một số người không tin vạn pháp đều có lý nhân
quả. Bởi không học Phật, cho nên họ không tin lý nhân quả.
Không tin nhân quả, vậy can qua nguyên nhân do đâu? Trí tuệ
của phàm phu chỉ biết được hiện tại. Cách nhìn của phàm phu
thế gian và cách nhìn của Thánh nhân căn bản không giống
nhau. Cách nhìn của phàm phu chia làm hai loại: thứ nhất, họ
cho rằng kiếp can qua là do bọn xâm lược chủ nghĩa đến quốc
gây ra, muốn chinh phục thế giới mà gây nên chiến tranh.
Cách nhìn thứ hai, họ cho rằng do bọn dã tâm trong nước
không giữ bổn phận, nhiễu loạn trị an nội bộ, tạo phản dẫn
đến đánh nhau, nên đã xảy ra kiếp nạn can qua. Phàm phu
thường tình cho hai điều này chính là nguyên nhân gây nên
chiến tranh. Thật ra, đây hoàn toàn không phải là nguyên
nhân chính, chẳng qua chỉ là một trợ duyên mà thôi. Kiếp can
qua là duyên, vậy thì nhân của nó ở đâu? Điều này không phải
là cái mà kẻ thường tình có thể hiểu được, phải là bậc Thánh
trí tuệ siêu xuất mới có thể thông tỏ.
2. Trí tuệ bậc thánh có
thể thấy được quá khứ
Phật Pháp vô biên. Chỉ có
Phật giáo mới có thể nói rõ được nguyên nhân vì sao xảy ra
chiến tranh. Chúng ta đưa ra một ví dụ: Gieo hạt giống dưa
xuống đất, đó gọi là nhân. Sau hạt giống nảy mầm, lớn lên ra
trái, gọi đó là quả. Trợ duyên chính là điều kiện sinh
trưởng. Giống như sau khi gieo hạt giống xuống, phải tưới
nước, bón phân, có ánh sáng mặt trời mới sinh ra quả. Cho
nên, chắc chắn có nhân, có duyên mới có quả. Như vậy, xem ra
rõ ràng hơn rất nhiều. Thấy quả thì biết ngay nhân, giống
như thấy dưa thì biết ngay dưa là từ hạt giống dưa mà có.
Hiện tại, sở dĩ bị quả báo chiến tranh, là do đời trước tạo
nhân chiến tranh. Quý vị phải biết, quả báo của chiến tranh
là chết chóc, thì nhân của nó chắc chắn phải là nhân giết
chóc. Lại thêm trợ duyên của bọn dã tâm và chủ nghĩa đế quốc,
nên đã xảy ra quả báo chiến tranh. Nhưng rất tiếc, phàm phu
không biết được nhân này, chỉ có Phật, Bồ tát mới hiểu rõ
được. Điều này không phải nói dóc hay suy đoán. Phật, Bồ tát
có thiên nhãn thông, cho nên thấy rất rõ nhân quả của chiến
tranh, thấy được chúng sinh từ xưa đến nay luôn tạo nghiệp
sát, không ai là không sát sinh. Và sát sinh được phân làm
hai: một là trực tiếp giết, hai là gián tiếp giết. Tạo hai
nghiệp sát này, lâu này gặp duyên tất kết thành quả chiến
tranh. Vậy thì, thế nào là trực tiếp giết và gián tiếp giết?
Đồ tể trực tiếp giết heo, dê, bò gọi là trực tiếp giết. Vì
ngày nào chúng ta cũng ăn thịt nên đồ tể mới giết. Vì chúng
ta họ mới giết, nên gọi là gián tiếp giết. Hai loại này đều
là nhân sát.
3. Thủ phạm giết chính
Mọi người đều cho rằng,
tội của người giết nặng còn tội của người ăn nhẹ, điều này
không đúng. Luật pháp chính phủ, phạm tội cũng chia làm hai
loại, đó là chủ phạm và tòng phạm.
Chủ phạm chính là tự tay
mình làm, tòng phạm là hùa theo. Vậy thì người trực tiếp
giết là chủ phạm hay là người ăn là chủ phạm? Điều này không
nhất định. Thí như lúc đồ tể giết heo đi bán, lúc này đồ tể
chính là chủ phạm, người mua thịt là tòng phạm. Nhưng thịt
không đủ bán, người mua thịt nhiều quá, đồ tể bèn giết thêm,
lúc này người mua thịt trở thành chủ phạm, và đồ tể là tòng
phạm. Cho nên, có nhân như thế nào thì mỗi người tự chịu quả
báo như thế ấy. Người thời nay không tin lý nhân quả báo ứng
bằng người xưa. Trước đây, không những dân lành sợ nhân quả,
mà ngay cả kẻ đồ tể cũng sợ nhân quả báo ứng, nên lúc sắp
giết heo, miệng họ luôn nói thế này: “Heo này! Heo này! Mày
đừng hận tao, mày là món ăn của thế gian, họ không ăn tao
không giết, mày hãy đòi nợ người ăn thịt ấy!”. Bạn xem,
chẳng phải người giết heo cũng sợ heo đến đòi mạng sao? Và
rốt cuộc heo đòi nợ người ăn hay là đòi nợ người giết? Tục
ngữ có câu nói rất hay: “Oan có gia trái có chủ”. Cho nên ăn
có quả báo của ăn, giết có quả báo của giết.
Trong kinh cũng có một bài
kệ rằng: “Cho dù trăm ngàn kiếp, nghiệp tạo ra hãy còn. Lúc
gặp phải nhân duyên, quả báo phải nhận chịu”. Nghĩa là: Giả
sử có trải qua trăm ngàn kiếp đi nữa, một thời gian lâu dài
như thế, thì những nghiệp tốt xấu mà mỗi người ra tạo cũng
không mất. Nên biết, giữa nhân và quả còn có cái duyên, khi
nhân gặp duyên thì mình vẫn phải chịu quả báo.