48 Pháp niệm Phật
Thuật giả: Giang
Ðô Trịnh Vi Am
Dịch giả: Sa
môn Thích Tịnh Lạc
Trang nhà Quảng
Đức.com
“Không
có hạnh phúc nào bằng sự yên
tĩnh của tâm hồn.”
Lời Phật
dạy
***
Tay lần trăm tám hột châu,
Dứt trừ tội lỗi, buồn rầu tiêu
tan,
Xa lìa khổ ác ba đàng,
Thế gian phiền lụy hóa toàn liên hoa.
Ái hà ngàn thước sóng xao,
Muôn trùng biển khổ lấp đầu than
ôi!
Muốn cho khỏi kiếp luân hồi,
Phải mau gấp niệm
Tôi đã biết
niệm Phật từ khi còn bé, vì gia
đình cha mẹ đã tu pháp môn
Tịnh độ trước khi sinh ra tôi. Nhưng
từ trước đến giờ, tôi chưa
được gặp tập sách nào chỉ
đến phương pháp niệm Phật
đầy đủ như tập này. Ðể cho
người tu niệm đỡ thắc mắc khi
không biết mình phải thật hành
cách nào cho có kết quả và phải
xoay sở ra sao khi gặp phải chướng ngại
trên bước đường tu niệm, nên
tôi xin kính dịch để giúp phần
phương tiện cho những bạn tu Tịnh
độ, tùy hoàn cảnh, căn cơ mà
thực hành hầu dễ thu hoạch kết quả
mong muốn.
Về lợi ích và giới thiệu Pháp
môn Tịnh độ, ở đây tôi xin
không đề cập, vì đã có
rất nhiều bản nói đến rồi. Vậy
tôi cũng xin như thuật giả, là đi ngay
vào những phương pháp thực hành
mà thôi.
Ðể làm dễ và rộng một phần
nào sự tìm hiểu của các bạn
đồng tu, sau mỗi pháp, nếu có chỗ
nào chưa rõ ràng lắm, hoặc quá
gọn tắt, tôi xin có lời giải thích
(theo sở hiểu của tôi) và một vài
lời bàn giải để làm sáng tỏ
cho phương pháp mà thuật giả đã
trình bày.
Nhưng dù thế nào cũng sẽ không
tránh khỏi ít nhiều thiếu xót,
kính mong các bực cao minh và các Liên
hữu bốn phương vui lòng bổ chính cho,
thật tôi muôn phần cảm tạ.
Trong 48 pháp này, tùy phương tiện,
hoàn cảnh, trình độ, có thể
tùy nghi, không nhứt thiết bắt buộc
phải thực hành tất cả. Pháp này
khó kết quả, hoặc không hợp, ta hãy
đổi sang pháp khác, điều cốt
yếu, làm sao cho được “Nhất
tâm bất loạn" tức “Niệm
Phật tam muội” là mục đích.
Kết quả tốt đẹp sẽ đến với
chúng ta, khi chúng ta biết cách thực
hành cho đúng mức.
Kính cầu nguyện ánh bi quang của đức
Phật A Di Ðà soi sáng tự tánh Di
Ðà của chúng ta và khi mãn duyên kiếp
khổ lụy Ta Bà, chúng ta sẽ được
thừa nguyện lực của Ngài, đồng
được vãng sanh về cảnh giới an
lạc.
Chùa Thiền Tôn,
mùa Hạ năm Quí Mão (1963)
Liên Tử TỊNH LẠC
Vài
dòng của người đánh máy: (^)
Ðể cho bạn đọc
hiểu rõ thêm về tác giả của
quyển sách này, tôi xin mạo muội
kèm thêm tiểu sử của tác giả
được trích trong quyển “Hương
Quê Cực Lạc” của Hòa Thượng
Thích Thiền Tâm. Xin các bạn hoan
hỉ.
DIỆU KHÔNG
ÐẠI SƯ
Ðại sư họ Trịnh, người ở Giang
Ðô. Lúc thiếu thời ngài học Nho,
thường đồng với Quán Như pháp
sư, Dương Như Sơn, Hứu Vân Hư,
thương nghị khắc Ðại tạng kinh. Kế
đó ngài xuất gia, tự hiệu là
Khắc Kinh Tăng. Trong mười lăm năm,
Ðại sư đã khắc hơn ba ngàn
quyển. Sau khi ngài tịch ba năm, bộ kinh
Ðại Bát Nhã mới hoàn thành. Ðại
sư giữ giới tinh nghiêm, quá giờ Ngọ
không ăn, thưở sanh bình trứ thuật
rất nhiều, sau hợp lại thành pho:
“Lâu các tòng thơ”. Trong ấy
phần nhiều là những sách xiển
dương tông Tịnh độ. Ngài cảm
hóa người rất đông, đa số
là kẻ trọng vọng như ông Tưởng
Nguyên Lượng v.v... Nhà Thanh năm Quang Chữ
thứ 6, Ðại sư niệm Phật mà tịch,
hưởng 55 tuổi.
-----o0o-----
1.- NIỆM PHẬT NÊN GIỮ Ý
CĂN:(^)
Ðã đem tâm này niệm Phật, phàm
tất cả việc tạp thiện, tạp ác đều
không nên nhớ, tức hàng ngày chỉ
nên làm mọi việc với ý niệm
vạn bất đắc dĩ, xong rồi thì xả,
đừng để day dích, sẽ chướng
ngại tâm niệm của chúng ta. Vả lại,
sở dĩ tâm niệm của chúng ta cứ
còn dây dưa mãi với những tạp
thiện, tạp ác là vì ý địa
chưa thuần; nếu ta niệm Phật đến
lúc tâm địa sáng tỏ, thời ý
địa tự nhiên chuyên ròng nơi
quán sát, không duyên tạp sự.
Phải biết, niệm Phật có thể chuyển Phàm
thành Thánh, là phương tiện giải
thoát thứ nhứt của thế gian và xuất
thế gian vậy.
Lời phụ giải: Sự sống hàng ngày
đã chiếm quá nhiều thì giờ
của chúng ta, bởi vậy nên những lớp
trần ai càng bám riết theo cuộc sống,
làm cho chúng ta không rảnh được
sự tính toán, mà hễ tính nhiều
tức loạn trí, lo âu ắt tổn thần.
Thế nên khi xác nhận cuộc sống này
chỉ là tạm bợ, trả vay, quay về
với cuộc sống tâm linh vĩnh viễn, chơn
thật, thì còn gì nữa mà không
buông bỏ tất cả giả cảnh, để
sống với cảnh giới chơn thường.
Phàm, Thánh, mê, ngộ đều ở nơi
ý địa của đương nhơn mà
thôi!
2. NIỆM PHẬT NÊN GÌN KHẨU
NGHIỆP(^)
Ðã dùng miệng này niệm Phật,
phàm tất cả những việc SÁT,
ÐẠO, DÂM, VỌNG không nên buông lời nói
càng, nói quấy. Một khi nói lỡ,
nên tự nghĩ rằng: người niệm Phật
không nên nói như thế, rồi cố
gắng niệm lớn ít tiếng danh hiệu
Phật để trấn áp tâm mình và
gột tẩy ngay những lời bất thiện ấy.
Lời phụ giải: Phàm đã mang danh từ
Phật tử và đã biết niệm Phật,
tất cả phải giữ gìn khẩu nghiệp.
Nếu thoảng một lời vô nghĩa thốt ra,
tự suy nghĩ ăn năn chẳng ít, huống
không có lợi ích gì cho ai, mà
còn gây khổ hận cho kẻ khác, thì
dầu một tiếng cũng không nên mở
miệng. Phật là tượng trưng cho sự
Thanh tịnh, mà ta lại niệm Phật bằng
cái miệng bất tịnh thì phỏng
được lợi ích gì? Trong kinh Phạm
Võng có chép: “Nhựt nhựt khởi tam
nghiệp tội, khẩu tội vô lượng.”
Miệng là cửa mở muôn điều ác
hay thành vạn sự lành, vậy ta cần
phải suy kỹ trong lúc mở lời. Huống chi
việc niệm Phật, chúng ta lại càng
cần phải giữ miệng cho thật sạch,
nghĩa là một lời quấy, một tiếng
xấu, nhứt định phải tiêu diệt trong
khi chúng còn trong trứng nước, không
để chúng thành hình, đừng nói
phát ra cửa miệng. Tu thân, tu
tâm mà không tu miệng là một khuyết
điểm lớn!
3.-
NIỆM PHẬT PHẢI CHỈNH THÂN NGHIỆP:(^)
Ðã đem thân này niệm Phật, thời
trong mọi lúc cũng như trong mọi cử
chỉ: đi, đứng, ngồi, nằm, thân
cần phải đoan chánh thì tâm mới được thanh tịnh.
Người niệm Phật nên tự nghiệm
điều này, thật không bao giờ dối.
Lời
phụ giải: Thân thể có ảnh hưởng
mãnh liện đến tinh thần. Thế nên,
muốn cho tinh thần vững mạnh, tin tưởng
chí thiết nơi tự lực, tha lực, kiên
cố chấp trì câu danh hiệu Phật, tất
phải dọn mình cho thật đoan chánh,
trước khi niệm. Tâm ta tịnh được là
do thân nghiệp không động, không
nhiễm. Vậy nên, muốn công phu niệm
Phật có kiến hiệu, điều kiện
trước tiên là phải giữ gìn
thân nghiệp cho đoan chánh.
Niệm Phật
một tiếng, tay lần một hột. Chỉ nên
niệm bốn chữ, đừng lộn sáu chữ,
vì bốn chữ rất dễ thành khối . Trong bốn chữ A Di Ðà Phật, hoặc
lần chuổi tại chữ A, hoặc lần tại
chữ Ðà, hoạch định cho có phép
tắc, không được lầm lẫn, đây
là pháp mượn chuổi để nhiếp
tâm vậy.
Lời phụ giải: Giữ tâm niệm thành
khối, danh hiệu Phật, mỗi câu xâu
xuốt với nhau không xen hở một tạp
niệm nào, ví như xâu chuổi, hột
này dính liền với hột khác, hột
hột dính liền với nhau, đó là
ý nghĩa của sự niệm chuổi. Hơn
thế nữa, đó là phương tiện
nhắc nhở kẻ sơ cơ, chưa thuần với
chánh niệm, nhớ lại câu niệm Phật.
Kẻ lười nhờ đó mà siêng,
kẻ trễ nhờ đó mà gắng. Khi chánh
niệm đã tinh thuần, Phật niệm không
lìa tự tâm, bây giờ có chuổi hay
không cũng chẳng thành vấn đề.
Thế nên kẻ sơ cơ cần nhờ nó
để làm phương tiện. Chẳng lẽ
sắm chuổi để mốc à?
Nếu lúc thần trí hôn trầm , hay khi vọng
tưởng đua khởi, hãy nên trấn
tỉnh tinh thần, to tiếng niệm Phật, niệm
cho được vài ba trăm tiếng tự
nhiên đổi thành cảnh giới an tịnh.
Bởi vì nhĩ căn thính lắm, nên
ngoại duyên dễ vào, tiếng làm cho
tâm động, tạp tướng nổi dậy,
nên phải to tướng niệm Phật để
giữ gìn nhĩ căn, hầu mở tỏ tâm
linh. Bấy giờ tâm chỉ nghe tiếng của
chính mình, mỗi tiếng liên tục,
đầy đủ, tất cả những gì
phải quấy, nên, hư tự nhiên phóng
xả.
Lời phụ giải: Lúc ta mệt nhọc, trong
người hay uể oải, hay sanh chứng ngủ
gật, hay cả thân thể lẫn tâm linh như
có cái gì đè nặng, bấy giờ
nếu ta dùng cách tịnh niệm, thì
chỉ càng giúp cho sự mệt nhọc, ngủ
gật kia đắc lực. Thế nên ta phải to
tiếng niệm Phật, quán sát tiếng
niệm Phật kia từ tự tâm lưu xuất,
rồi theo lỗ tai vào lại tự tâm,
vòng quanh mãi như thế, đến khi nào,
tâm ta sáng suốt, ma ngủ gật kia biến
mất, chỉ thuần một câu niệm Phật
rõ rành mới thôi.
Nếu lúc tinh thần tán thất, hoặc khi
nhiều việc nhọc nhằn hay phải nhiều
điều bức bách, thì không cần
phải niệm to, chỉ nên thấu liễm thần
minh nhỏ tiếng niệm kỹ. Ðến
khi hơi thở điều hòa, tinh thần hứng
khởi, an định tâm hồn mới nên
niệm to tiếng.
Lời phụ giải: Phương pháp niệm
nhỏ là để đối trị bệnh
tán loạn. Nhiều khi vì quá bề bộn
công việc, mà thân tâm ta phải quá
nhọc nhằn, hay có những việc làm ta
phải cực lòng, bực trí. Bấy giờ
nên dùng pháp niệm nhỏ, vì nếu
niệm to sẽ giúp phương tiện cho ma
tán loạn thêm sức mạnh. Niệm nhỏ
từng tiếng từng câu thật kỹ, thật
rõ, lần lần tâm thần ta sẽ được
an tịnh, bấy giờ nên niệm lớn.
Nếu tâm khí không được điều
hòa, hoặc người hay chỗ có ngại,
niệm to, niệm nhỏ đều thấy không
tiện, thì chỉ nên động môi,
dùng pháp niệm thầm (Kim Cang trì), không
bắt buộc nhiều ít, nhưng cấn nhứt:
mỗi chữ, mỗi câu phải từ tự tâm
lưu xuất.
Lời phụ giải: Pháp này khác với
pháp niệm nhỏ trước, vì chỉ
được động môi mà không cho
phát ra tiếng; nói cho dễ hiểu là
chỉ nhép miệng mà thôi. Vả như
có người nằm gần ta, hay chỗ ta ở
khít gần với kẻ khác, niệm thành
tiếng dù lớn dù nhỏ cũng có
thể đụng đến họ, vậy nên
chỉ nhép miệng niệm thầm, không cần
hạn số, bao nhiêu cũng được, miễn
sao câu niệm Phật bắt nguồn từ tự
tâm, kích động đầu môi, bật thành
một thứ âm thanh huyền diệu, không
thành tiếng mà vang khắp đại thiên,
nhưng vẫn không ngoài đương niệm.
Lại hoặc niệm to, niệm nhỏ đều
không hợp, tay lần chuổi lại hiềm
phiền phức, niệm thầm vẫn thấy còn
có dấu vết, thì xưa có phương
tiện chí xảo là không cần động
mồm, không phát ra tiếng, chỉ bắt
tâm niệm duyên chuyên một cảnh, âm
thầm dùng lưỡi gõ vào răng
trước (răng cửa) hay tâm tưởng cũng
được, tùy ý, chỉ phải làm sao
cho tiếng thật rõ ràng, nhưng tiếng
không phải phát ra từ cửa miệng mà
phải phát ra từ tự tánh. Tánh nghe
lại phải dung thông nội tâm, nội tâm
lại phải in nơi đầu lưỡi, đầu
lưỡi kéo lấy niệm căn, tự tánh
nghe nghe tự tánh, ba thứ dung hội, niệm
niệm viên thông, lâu sau sẽ được
thành tựu pháp quán: Duy tâm thức.
Lời phụ giải: Dùng pháp mặc niệm
để thành tựu duy tâm thức quán
này hơi khó và cao, đa phần dành
cho những bực có trình độ khá
và cao trên bước đường tu tập.
Người thực hành phải dùng quán
tâm, không phải dùng niệm tưởng.
Không động miệng mà tiếng ấy
phải rõ ràng, tiếng ấy là tiếng
của tự tâm, dùng lối đem tánh nghe
(văn tánh) nghe lại tiếng nói của tự
tánh (phản văn văn tự tánh) đó
là đã thấm đạt thật tướng
của vạn pháp, thâm đạt nhứt
thiết duy tâm vậy.
Hoặc lúc khí tịnh, tâm bình , thì trước nên tưởng
thân mình đang ở trong vòng hào quang
tròn, thầm quán trên đầu chót
mũi, tưởng hơi thở ra vào, mỗi
một hơi thở thầm niệm một câu A Di
Ðà Phật. Phương tiện điều
hòa hơi thở, không hưởn không
gấp, tâm niệm và hơi thở nương
nhau, theo nhau ra, vào; đi, đứng, ngồi nằm
đều nên làm như thế, đừng
để gián đoạn. Thường phải tự
“mật trì,” nhiếp tâm đã
lâu, cả hơi thở lẫn câu niệm, cả
hai đều không còn phân biệt, tức
thâm tâm này cũng đồng với hư
không. Trì đến thuần thục, tâm
nhãn khai thông, tam muội thoạt nhiên hiện
tiền, chính là “Duy tâm tịnh
độ” đó.
Lời phụ giải: Pháp này cũng giống
như Sổ Tức Quán trong Lục diệu môn.
Dùng pháp đếm hơi thở, để
điều hòa hơi thở ra vào. Mỗi
một hơi thở hoặc ra, hoặc vào
đều thầm niệm một câu A Di Ðà
Phật đều đều, không nên quá
gấp cũng không được quá
hưởn, vì sẽ làm chướng ngại cho
sự chuyên nhứt. Phật niệm không dứt,
tâm được thanh tịnh, trí
được chuyên ròng không tạp, hòa
hợp với sự bao la vô ngại của Thái
hư, tất cả đều duy tự tâm, mà
hễ tự tâm thanh tịnh thì quốc
độ sẽ hoàn toàn thanh tịnh đối
với ta vậy.
Hoặc lúc hôn trầm nhiều, thời nên
kinh hành niệm Phật, hay khi tạp loạn
nhiều thì nên ngồi ngay thẳng, yên
lặng mà niệm. Giả sử đi hay ngồi
đều không hợp, thời hoặc quỳ,
hoặc đứng, cho đến tạm nằm, cũng
đều cho phương tiện rộng rãi, có
thể niệm Phật được cả. Cốt
yếu: bốn chữ hồng danh đừng để một niệm
lãng quên, đó là yếu thuật
hàng phục tâm ma vậy.
Lời phụ giải: Câu niệm Phật không
phải chỉ dành lúc rảnh rang, hay tắm
gội sạch sẽ, đến trước bàn
Phật, mà nhứt thiết thời không
được xao lãng. Bởi tâm niệm
chúng sinh hàng ngày quá tạp loạn,
hể hở là tạp tưởng xen vào ngay,
quấy rối tâm niệm. Như bàn tay quậy
vũng nước màn màn, nếu quậy ít
hay quên quậy, màn màn sẽ trở lại
ngay. Thế nên đi, đứng, nằm, ngồi,
nói, nín, động, tịnh đều phải
cố giữ câu niệm Phật, không cho xen
hở. Như ông tướng giữ trại, như
con mèo rình chuột, đừng để một
niệm gián đoạn. Một câu niệm
Phật không hở, tùy phương tiện,
tùy trường hợp, miễn sao cố giữ
tâm niệm chuyên câu niệm Phật là
được.
11.-
CHỖ NÀO CŨNG NIỆM PHẬT ÐƯỢC(^)
Không luận chỗ sạch hay chăng, hoặc
chỗ vắng vẻ hay chỗ chộn rộn, chỗ
vừa dạ hoặc nơi thất ý, chỉ
“Hồi quang phản chiếu” và suy nghĩ: những cảnh thế
này ta đã gặp hơn trăm ngàn
muôn ức lần, từ nhiều kiếp đến
giờ; chỉ có việc “niệm Phật
vãng sanh” là ta chưa có thể thực
hành trọn vẹn được, nên vẫn
còn bị trong vòng lẩn quẩn luân hồi.
Giờ đây ta cũng chẳng quản niệm
được cùng chăng, chỉ thề giữ
chặt “tâm niệm Phật’ này, dầu
chết cũng không để dứt “niệm
đầu” . Tại sao? Bởi niệm đầu
mà để một phút gián đoạn ,
thời tất cả thiện, ác, vô ký bao nhiêu tạp niệm lại sanh.
Vì lẽ đó, nên dù lúc đi
đại, tiểu tiện hay sản phụ lúc
lâm bồn, chỉ chăm chú việc niệm
Phật, càng khổ càng niệm, càng đau
càng niệm nhiều hơn, như con thơ gọi
mẹ, không sợ mẹ hiềm giận, nếu
sợ mẹ giận mà không gọi nữa,
ắt đứa trẻ sẽ bị sa chân vào hầm
phẩn nhơ nhớp, vì những sự dại
dột do nó gây nên. Như thế chỉ
có chết mất đi mà không làm sao
được gặp mẹ.
Lời phụ giải: Thế thường, có
người không hiểu cho rằng: vào chỗ
nhơ như nhà xí v.v... mà niệm Phật
sẽ có tội. Nhưng trong pháp môn niệm
Phật thì không phải vậy. Vì câu
niệm Phật lúc nào cũng phải ngự
trị trong tâm hồn ta; nếu vì lúc ăn,
khi đi cầu v.v... mà để dứt, thì
tức nhiên tạp niệm sẽ xen vào, mà
hễ tạp niệm xen vào được, niệm
này sanh niệm khác, nối luôn không
dứt, tránh sao khỏi điều tội lỗi,
và tránh sao thoát nẻo sanh tử luân
hồi.
Chúng ta giờ đây, chưa có thể
nhứt thiết thời niệm Phật, nên phiền
não niệm xen vào, biết bao điều
phiền phức, đau khổ, nhọc nhằn; vậy
thời chúng ta hãy cố gắng tập
nhiều, tập mãi câu niệm Phật, hễ
bận việc thời thôi. bằng hễ rảnh
là ta niệm Phật. Không có gì tự
nhiên mà được, phải đòi
hỏi nhiều cố gắng, nhiều nổ lực,
vậy sau mới thành công. Bao nhiêu việc
đời sẽ làm ta phiền lụy, muốn
tránh bao phiền lụy không chi hơn luôn
giữ câu niệm Phật.
Ðức Phật như bà mẹ hiền
thương con dại, không có bà mẹ
nào là không thương con. Thế nên, ta
một lòng tưởng nhớ, tha thiết kêu
cầu Ðức Phật sẽ thương mà
hiện cứu. Phật không bao giờ bỏ và
cũng không bao giờ có giận hờn vì
hễ còn giận hờn ắt chưa thể
thành Phật, cũng như không có
đức Phật, Bồ tát nào mà thiếu
lòng từ bi cả.
Xin hãy gắng niệm, đừng khinh mà coi
thường.
12.
NIỆM PHẬT CÓ ÐỊNH THỜI HAY KHÔNG(^)
Trong pháp thứ mười một, không có
định thời, nếu vậy sẽ ít
người làm được. Bài này
phương tiện nói có định thời
là: sớm, tối hai thời, hoạch định
thường khóa, từ nay đến suốt
đời, không thêm, không bớt, ngoài ra
trong suốt hai mươi bốn tiếng đồng
hồ, có thể niệm được một
câu, thì nên niệm một câu, có
thể niệm được nhiều câu, thì
nên niệm nhiều câu, bất luận niệm
lớn hay nhỏ.
Cổ nhơn có bảo:
Ít
nói một câu tạp
Nhiều
niệm một câu Phật
Ðẹp đẽ biết bao nhiêu!
Lời phụ giải: Vì sợ có nhiều
vị, không thể lúc nào cũng giữ
câu niệm Phật được (bởi quá
bận kế mưu sinh) nên phải phương
tiện định thời. Thế là ai cũng
có thể tu Tịnh độ pháp môn
được. Nhưng điều cốt yếu: khi
đã định thời, thì phải cố
gìn, đừng để sai siển, dù lúc
bịnh hoạn hay đau khổ.
Tuy nhiên, hễ khi nào rảnh rỗi là ta
phải nhớ ngay câu niệm Phật.
Ðánh đổi chúng sinh niệm bằng
Phật niệm, tuy không được cao siêu
nhưng là một phương tiện hiếm có
để chuyển mê thành giác vậy.
13.- CÓ
ÐỐI TRƯỚC TƯỢNG HAY KHÔNG TRONG KHI
NIỆM PHẬT?(^)
Lúc đối trước tượng Phật,
phải cho tượng này là thật Phật,
không cần câu chấp một phương
hướng nào, chẳng luận một thân
nào trong ba thân của Phật , chỉ tự nghĩ: Ta
chỉ nhứt tâm, tâm chỉ nhứt Phật,
mắt nhìn tượng Phật, tâm niệm danh
Phật, thật hết sức thành kính, mà
hết sức thành kính tất được
linh cảm.
Lúc không có tượng Phật, nên
ngồi ngay ngắn xoay mặt về phương Tây,
lúc khởi tâm động niệm, nên
niệm tưởng hào quang của đức
Phật A Di Ðà trụ trên đỉnh
đầu ta, mỗi niệm, mỗi câu, tự
chẳng để rơi vào khoảng không,
hắc nghiệp cũng có thể tiêu diệt.
Lời phụ giải: Người sơ cơ chưa
có thể quán tự tâm tức Phật,
thế nên phương tiện đối trước
Phật tượng cho dễ xúc cảnh sanh tâm,
nhưng điều cần thiết là phải hết
sức thành kính vì hễ có cảm
mới có ứng được
Bài này dạy rõ, khỏi phải bàn
luận dài dòng, hành giả nên coi kỹ
và theo như thế, tội nghiệp sẽ
được tiêu trừ, Phật tâm tự
hiện.
14.- NIỆM PHẬT TRONG LÚC BẬN
RỘN(^)
Nếu niệm được một câu, thì
nên niệm một câu, có thể niệm 10
câu, thì nên niệm 10 câu; chỉ làm
sao trong 100 điều bận rộn có
được trong khoảnh khắc một chút
rảnh rang liền buông bỏ thân tâm sáng suốt tụng
trì.
Ngài Bạch Lạc Thiên có bài thi
rằng:
Ði
niệm A Di Ðà
Ngồi
niệm A Di Ðà
Ví
dù bận rộn như tên
A Di
Ðà Phật niệm lên thường
thường.
Người xưa dụng tâm như thế, thật
không thể chê được!
Lời phụ giải: Có người quá bận
rộn với mực sống, có rảnh đâu
nhiều mà niệm Phật; tuy nhiên trong trăm
việc bận, chắc cũng có chút thì
giờ rảnh, hể rảnh thì niệm Phật,
đừng để trí phải nghĩ tưởng
vẩn vơ, khổ sầu vô ích. Việc
đời chuyện đâu bỏ đó, đeo
đẳn làm gì thêm mệt, để
thì giờ niệm Phật cho khỏe trí còn
hơn không? Có nhiều người để
phí bao nhiêu thì giờ tán gẩu
những chuyện đâu đâu, chỉ chuốc
lấy bao nhiêu điều phiền lụy, do vài
câu bất ý trong lúc vui miệng, cũng
đủ gây cho lòng những mối lo âu,
khổ sở, hay chác cho thân những đau
đớn lụy phiền!
15.- LÚC NHÀN RỖI NÊN
NIỆM PHẬT(^)
Trong đời có nhiều kẻ quá ư
khốn khổ, muốn chút rảnh cũng không
sao có được, nên không thể tu
hành. Nay ta được rảnh rang, lại nghe
biết được pháp niệm Phật này,
cần phải gắng gổ, tương tục thúc
liễm thân tâm, chuyên trì Phật niệm;
như thế mới không uổng phí tấc
bóng quang âm. Nếu để tâm niệm
buông trôi, không làm được việc
gì, luống tiêu bao ngày tháng, cô
phụ bốn ân, một mai vô thường
thoạt đến, sẽ lấy gì để chống
cự đây?
Lời phụ giải: Có người cầu
được chút rảnh rang để niệm
Phật còn không có, ta nay duyên đời
không bận buộc, vậy đừng nên bê
trễ nữa, hãy cố gắng niệm Phật,
đừng để ngày lại, ngày qua, rồi
già, rồi chết, đến khi bây giờ
dù muốn rảnh được một chút,
sống thêm một giờ để niệm Phật
cũng không được. Thật tiếc lắm
thay!
16.- NGƯỜI SANG GIÀU PHẢI
NÊN NIỆM PHẬT(^)
Phước đức của đời này
đều từ việc tu hành kiếp trước.
Những gì tôn quí vinh huê, quá nữa
là các bực cao tăng chuyển thế. Nhưng
tuy có vinh huê mà không được
trường cửu, nếu lại tạo điều
nghiệp chướng ắt khó thoát khỏi
biển trầm luân. Vậy nên các ngài
phải tự suy nghĩ: những gì ta có thể
mang theo được khi nhắm mắt? Ấy là
công đức niệm Phật. Cũng như
thuyền đi nhờ nước. Thế nên, hoặc
lập thất niệm Phật, hoặc mời chư
tăng hướng dẫn mình niệm Phật, in
khắc kinh sách Tịnh độ, hoặc đặt
tượng Phật A Di Ðà để chiêm
ngưỡng mà niệm, việc làm tuy ít,
nhưng phải dụng công cho nhiều, lại
phải chí quyết vãng sanh, đó là
con đường tu hành của tất cả mọi
người, chẳng luận giàu, nghèo, sang,
hèn. Làm vị sứ giả của ngôi
Pháp vương còn gì tôn quý
hơn!
Lời phụ giải: Vạn ban tương bất
khứ, duy hữu nghiệp tùy thân, dù ta
có nhờ phước đức đã gieo
trồng đời trước, hưởng
được phú quí vinh huê, song chỉ
hưởng tạm mà thôi, khi ba tấc hơi
dứt mọi việc buông xuôi, chỉ nắm hai
bàn tay trắng. Vậy thì ta có nên
bám víu những cái giả ảnh ấy
chăng? Chúng ta chắc đã ý thức
rõ ràng điều đó. Thế thì
chúng ta phải kíp lập thành tích
niệm Phật ngay và thật hết lòng cố
gắng như chúng ta đã cố gắng lo
làm giàu vậy. Người vô trí cho
giả là thật, nên chạy theo những
cảnh tướng, danh sắc phù phiếm bề
ngoài, có được chút vui, song chỉ là
cái vui tạm bợ trong chốc lát. Kiếp
người chóng tàn, thân người
chóng diệt, chỉ có đạo đức
thường còn, chân thật, không có
những ồ ạt bên ngoài, không có
cái vui chốc lát. Xem như Ngài Khổng
Tử còn bảo: “Ăn cơm nguội, uống
nước lạnh, co tay mà gối đầu cũng
có điều vui ở trong vậy!” Cái vui
đó mới là cái vui của người
trí.
17.- KẺ NGHÈO HÈN CŨNG NÊN
NIỆM PHẬT(^)
Than ôi! Có kẻ đã đem thân làm
nô lệ, bị người khác sai sử,
vất vả, khổ sở, mà không cầu mong
thoát khỏi, thì về sau càng khổ
hơn.
Nên biết bốn chữ Hồng danh chẳng luận
sang, hèn, giàu, nghèo, trẻ, già, trai,
gái, chỉ cần mỗi ngày vào lúc
sáng sớm chí tâm xây mặt về
phương Tây, niệm 10 câu danh hiệu Phật,
không xen, không dứt, để cầu sanh Cực
Lạc, thì hiện đời sẽ được
hưởng nhiều lợi ích, khi thác tự
được vãng sanh. Ðức Phật A Di
Ðà thiệt là chiếc thuyền cứu
mạng cho mọi người trong biển khổ vậy.
Lời phụ giải: Ở đời, đâu
có ai nghèo đến nỗi không có
thân, tâm? Vậy ta nên đem thân, tâm
sẵn có đó niệm Phật. Trong kinh Hiền
Ngu Nhơn Duyên có đoạn: Tôn giả Ca
Chiên Diên độ bà già ở
mướn, bán cái nghèo bằng phương
pháp Niệm Phật, bà đã đạt
kết quả. Vậy chúng ta nên bắt
chước bà già ấy bán quách
cái nghèo đi cho rảnh, đeo đẳng
làm gì thêm khổ? Khổ mà biết là
khổ để tìm phương pháp thoát ly
ấy là kẻ trí. Khổ mà vẫn
không biết là khổ, lại còn cho cái
khổ là vui, thì thiệt hết chỗ nói!
Ðã là người có trí huệ
thì đừng để bị mê hoặc,
cần phải hết sức tịnh tế niệm
Phật để cho trí huệ được
thêm kiên cố.
Phải biết, người trí niệm Phật
thì thiên hạ sẽ có rất nhiều
người niệm Phật.Người trí niệm
Phật thời những kẻ tu hành theo ngoại
đạo sẽ dễ trở về chánh
đạo. Tại sao? Vì tiếng tăm của
người trí có thể mở lòng dạ
họ, vì có tác dụng trí của
người trí cứu rổi họ.
Lời phụ giải: Việc làm của
người trí sẽ mang đến một ảnh
hưởng tốt đẹp và hữu ích cho
kẻ thấp hay thiếu trí, trong trường
hợp việc làm ấy với ý nghiệp
lành. Vậy nên người trí phải
tỏ ra xứng đáng sự tin tưởng của
mọi người, đừng nên để những
việc ngu hèn, những thị dục thấp
kém gạt gẫm.
Một người có quyền thế tu niệm,
sẽ có ảnh hưởng thật tốt
đẹp đến những kẻ chung quanh. Nhờ
sự khôn khéo, sáng suốt, cộng vào
đó sự tin tưởng mãnh liệt của
người lân cận, mà người trí
khả dĩ làm được những chuyện to
tát có ảnh hưởng đến thế
đạo nhơn tâm. Làm một mà kết
quả được nhiều, đó là
điều của nhiều người mong muốn.
Ấy thế mà nhiều kẻ có thể
làm được lại không chịu làm,
hay làm cho lấy có thì thật đáng
tiếc rẻ lắm thay!
Ðã không cầu danh lợi, cũng không khoe
tài năng, chắc thật tu hành thật là
rất khó có người làm
được.
Tổ sư dạy: Về phương diện tham
thiền, bởi tìm một người si độn
cũng không có. Nay người niệm Phật
chính lo mình không được si độn
mà thôi. Hai chữ Lão Thật là một
đại lộ thẳng tắp đưa người
sang Tây phương vậy. Tại sao? Vì hai
chữ Lão Thật là ngoài bốn chữ A Di
Ðà Phật không thêm một mảy may
vọng tưởng nào.
Lời phụ giải: Người nhứt tâm
niệm Phật, không duyên ngoại cảnh,
lòng không chao động trước bất
cứ một khuấy rối nào, coi như tất
cả không có gì dính líu đến
mình, con người ấy bề ngoài hình
như kẻ ngây ngô, si độn lắm, nhưng
trái lại thật là sáng suốt, thật
là thanh tịnh đó. Người như thế
thật không phải dễ kiếm! Phương chi,
trong pháp môn niệm Phật có câu:
Niệm bất nhứt bất sanh Tịnh độ.
Mà hễ niệm nhứt thì muôn duyên
buông bỏ, chuyên ròng câu niệm Phật.
Lòng ta niệm Phật cùng lòng Phật
tương ưng. Tây phương không lìa
đương niệm, không cần đoán xa
xét rộng chi cả mà Phật cảnh vẫn hiện
tiền. Hy hữu thay Pháp môn Tịnh độ!
20.- ÐƯỢC ÐIỀU VUI MỪNG,
NHỚ NIỆM PHẬT(^)
Hoặc nhơn nơi người mà vui, hoặc
nhơn nơi việc mà mừng, mối manh tuy
nhỏ nhít, nhưng đều là những
cảnh vui vẻ của kiếp người. Song phải
biết cái vui đó nó hư huyễn
không thật, không thể còn lâu, vậy
nên nương nơi giây phút tươi vui
đó, xoay tâm niệm Phật, thời ắt
được nhờ ánh hào quang của
Phật, trong thuận cảnh ấy bỏ dứt đi
ít nhiều ác niệm, những điều
tốt đẹp liên miên, như ý tu
hành, mãi đến lúc mạnh chung sẽ
được vãng sanh Cực Lạc, há
chẳng vui mừng lắm sao!
Lời phụ giải: Kiếp sống của ta vui
ít khổ nhiều, có vui chăng chỉ là
cái vui tạm bợ, chốc lát qua đi,
nhường chỗ cho điều đau khổ dày
vò con người. Vậy thì cái vui có
bền bĩ gì mà ta lại tự hào hay
níu nắm nó.
Những điều vui vẻ đáng cho ta ưa
thích, vì nó chơn thật, thường
còn ấy là cái vui thanh tịnh của
tự tâm. Cảnh Cực Lạc của Phật A Di
Ðà sẵn sàng đón tiếp những con
người tự tâm được thanh tịnh.
Về được đó rồi còn gì vui
hơn?
Trì danh niệm Phật nguyên để cầu
vãng sanh nhưng oai phong của chư Phật không
thể nghĩ bàn hễ niệm danh hiệu của
các Ngài thì sở nguyện đều
tùy tâm. Vì lẽ đó, trong kinh dạy:
niệm Phật có 10 điều lợi ích (xin
xem phần sau). Những việc cầu cúng quỉ
thần, tạp tu sự sám, khấn hứa nhiều ác
nguyện, tin xằng những việc bói toán
xâm quẻ, không bằng dùng phương
pháp niệm Phật để cầu nguyện.
Có kẻ hỏi: Vả như niệm Phật mà
không ứng nghiệm thì sao?
Ðáp: Ông chưa niệm Phật mà
đã lo không ứng nghiệm, chính cái
nhơn không ứng nghiệm đó đem
đến cái kết quả không ứng
nghiệm vậy. Nhơn thế nào thì quả
thế nấy, há không đáng sợ lắm
sao?
Lời phụ giải: Phật là đấng
đại từ, đại bi, đại trí,
đại đức, tối tôn vô thượng,
là bậc thầy của trời người sáu
đường. Thế thì, khi cầu nguyện sao
lại không cầu nguyện nơi các Ngài?
Thật cũng lấy làm lạ! Có lắm
kẻ sợ ma quỉ yêu tinh hơn sợ Phật,
có lẽ cho rằng Phật hiền, ma quỉ dữ
chăng? Hay tại lòng mình không chơn
chánh, vì có điều tội lỗi,
vạy tà nên lờn chánh, ngán tà?
Người Phật tử hãy suy nghĩ cẩn
thận điều này, kẻo mình là
Phật tử mà vô tình làm đệ
tử ma!
22.- NIỆM PHẬT ÐỂ CẦU
CỞI MỞ(^)
Phàm tất cả nghịch cảnh quanh ta, đều
do trái duyên nên có hiện (ta phải
cố cam nhận chịu) không nên lại khởi
ác niệm, để phải dẫn khởi oan
trái đến mãi về sau không dứt. Ta
phải nên tùy thuận nhận lãnh, có
thể tránh được thời tránh, dứt
được thời dứt, chỉ tùy nhân
duyên mà đừng quên niệm Phật.
Phật có vô lượng trí huệ,
phước đức quang minh, Ngài sẽ gia hộ
cho ta: dù gặp nghịch duyên, trái cảnh,
cũng chuyển thành thuận cảnh, thuận
duyên ngay.
Lời phụ giải: Oan gia nghi giải bất nghi
kết, đừng nên đem oán trả oán,
thì oan trái mới dứt. Vậy chỉ có
pháp niệm Phật là ổn nhứt.
Ví dù muôn đắng
nghìn cay
Một câu niệm Phật tan ngay
cấp kỳ
Niệm Phật dứt bỏ oán
thù
Lòng không hung dữ ngục
tù đâu vương...?
Niệm Phật mở rộng lòng
thương
Oán thân bình đẳng tai
ương có nào?...
23.- HỔ THẸN TỰ GẮNG NIỆM
PHẬT(^)
Phàm đời này hay kiếp trước,
ác quả đã thành tựu, thì khổ
báo ắt đến, mà một phần khổ
ở đời này tức là một phần
ác trong kiếp trước, không thể
đổ thừa cho vận mạng bất tề, mà
chỉ nên tự hổ phận mình chẳng
sớm lo tu. Mỗi một khi tưởng Phật,
tưởng như lông trong thân đều dựng
đứng, năm vóc như rã rời, buồn
thương, cảm mến, đau xót, không
muốn sống. Như vậy thời mỗi câu, mỗi
chữ từ trong gan, tủy mà ra mới là
chơn cảnh niệm Phật.
Ngày nay kẻ tăng, người tục niệm
Phật, hoặc miệng niệm mà tâm tán,
hoặc chỉ nhiếp tâm lúc niệm, dứt
niệm thì tâm mê. Lại có người
đang lúc niệm Phật xen nói chuyện
tạp. Thế thì dù niệm suốt đời
cũng không linh cảm. Mọi người thấy
vậy, cho rằng: niệm Phật vãng sanh là
những lời láo khoét. Lỗi ấy há do
Phật sao?
Lời phụ giải: Ta cùng chư Phật
động một thể tánh thanh tịnh, không
hai không khác, thế mà các Ngài
đã giác ngộ, sáng suốt bỏ giả
theo chơn, còn chúng ta lại cứ mãi
nhận hư làm thật, bội giác hiệp
trần, cam chịu quanh quẩn mãi trong vòng
khổ lụy trần ai. Thật còn gì hổ
thẹn cho bằng! Vậy nên phải vận dụng
tận cùng năng lực, hết chí lo tu,
lấy chết làm kỳ hạn, cầu thoát sanh
tử, không còn nghĩ ngợi, đắm lụy
trần ai, để phải nhiều kiếp trôi
chìm trong sông mê, bể khổ.
Phàm người ở trong tất cả hoàn
cảnh khổ đáng thương, mà ta
không thương, tất trái với nhơn
tính, nhưng ở trong tất hoàn cảnh
đáng thương, ta chỉ thương suông
thì làm sao hợp được với tánh
Phật? Ðã thương thì phải tìm
phương thoát khổ, phải tìm cách cho
mọi người rốt ráo thoát khổ.
Phải biết rằng: Phật sở dĩ được
tôn xưng là Ðấng Ðại Bi, vì
Ngài hay cứu khổ cho chúng sinh. Ta do lòng
từ bi niệm Phật là cốt cầu lòng từ
bi của Phật ban cho, cứu vớt khổ não cho
chúng ta, thì cái niệm đó phải
khẩn thiết đến bực nào?
Lời phụ giải: Niệm Phật để cầu
thoát sinh tử, mà sinh tử là cái
vòng xích vô cùng kiên cố, vì
nghiệp hoặc phiền não của chúng ta
quá đỗi sâu dày, lại thêm tội
chướng ngày càng chồng chất lên
thêm, nếu niệm lực không kiên cố,
tâm niệm không tha thiết chí thành,
thì riêng mình nói đến chuyện
giải thoát còn là chuyện xa vời,
huống là muốn cứu khổ cho người sao?
Vậy ta nên hết lòng khẩn thiết niệm
Phật để mong được lòng từ bi
chiếu cố của Phật, như con thơ tha
thiết trông được về với từ
mẫu. Họa chăng?
Thành khối
tức Nhứt Tâm hay Tam Muội đó. Niệm
Phật cốt giữ một lòng không tán
loạn, không xen tạp, như đường đã
thành kẹo.
Hôn trầm:
nặng nề, ngủ gật, làm cho thân không
được tự tại, tâm không
được sáng suốt.
Thâu buộc
tâm niệm, đừng cho nó chạy theo vọng
trần, vọng cảnh tán loạn mất chánh
niệm, bấy giờ tinh thần sẽ được sáng
suốt.
Tâm khí:
Tâm là tâm niệm, khí là hơi
thở. Tâm niệm bị loạn động, hơi
thở đứt nối không đều, nên
gọi là tâm khí không điều
hòa.
Khí tịnh tâm
bình: hơi thở điều hòa, an tịnh,
tâm niệm bình thản, thơ thới.
Thường người ta
niệm sáu chữ (lục tự Di Ðà)
nhưng suy kỹ thì sáu chữ sẽ khó
nhứt tâm và khó thành khối hơn 4
chữ. Ngài Pháp Chiếu Ðại Sư trong
Ngũ Hội Niệm Phật cũng chủ trương 4
chữ.
Hồi quang phản chiếu:
Xoay quán trí trở về quán sát nội
tâm, không duyên theo ngoại cảnh.
Niệm đầu: Không
phải niệm đầu là lúc đầu khi
mới niệm Phật, mà mỗi niệm nối
liền nhau, câu niệm Phật trước gối
đầu câu niệm Phật sau, không hở
không dứt.
Vô ký là
không nhứt định thiện hay ác.
Ba thân Phật: Pháp
thân, Báo thân, Ứng hóa thân.
Hắc nghiệp: Nghiệp
đen, chỉ cho phiền não nghiệp, ác
nghiệp.
Buông bỏ thân
tâm: nguyên chữ Hán “thân tâm
phóng hạ,” ý nói không còn
một chút gì dính măc trong tâm, xả
bỏ tất cả, nghĩa như câu “huyền
nhai tán thủ” là ở trên gộp
đá cao, buông tay rơi xuống vực sâu
thẳm, không còn níu nắm đâu
nữa cả.
Pháp vương là
vua của các pháp, ý nói đức
Phật đã thâm đạt thật tướng
các pháp, ở trên sự vật mà
nhìn sự vật.
---o0o---
Cập nhật: 1-09-2002
Trình bày: Nhị Tường